KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI

Kinh Kim Cang Giảng Giải là một tác phẩm bình giảng vô giá, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và thấu hiểu những triết lý thâm sâu của Kinh Kim Cang. Thông qua lời giảng giải chi tiết, rõ ràng và gần gũi, bộ sách tháo gỡ những khúc mắc về lý Tánh Không và tinh thần Vô Trụ của Bát Nhã.
Tác phẩm không chỉ phân tích câu chữ mà còn dẫn dắt hành giả ứng dụng Phật pháp vào đời sống thực tiễn. Những khái niệm trừu tượng như “Nhất tướng vô tướng”, “Ly sắc ly tướng” được làm sáng tỏ, giúp hành giả phá vỡ những chấp niệm vi tế cản trở bước đường giác ngộ.
Đây là cuốn cẩm nang không thể thiếu cho những ai muốn đào sâu nghiên cứu hệ tư tưởng Đại thừa, nuôi dưỡng trí tuệ thanh tịnh và sống một cuộc đời tỉnh thức trọn vẹn.
—— KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI

—— Trích đoạn KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI

 

Giới thiệu chung

Tác phẩm này là một hệ thống các bài luận giải chi tiết, sâu sắc nhằm làm sáng tỏ những triết lý thâm sâu ẩn chứa trong văn bản Bát-nhã cốt tủy của Phật giáo Đại thừa. Thông qua việc phân tích từng câu chữ, đoạn văn và các cuộc đối thoại nền tảng, bản giảng giải giúp người đọc dễ dàng tiếp cận với tư tưởng Không và tinh thần vô ngã, vốn nổi tiếng là trừu tượng và khó nắm bắt. Tác giả thường vận dụng những ví dụ thực tiễn trong đời sống sinh hoạt, kết hợp với các khái niệm của cả Thiền tông và giáo lý cơ bản, để diễn giải cách thức phá bỏ sự chấp trước vào mọi hình tướng hay khái niệm nhị nguyên. Không chỉ dừng lại ở mặt lý thuyết học thuật, tác phẩm còn nhấn mạnh đến khía cạnh thực hành, hướng dẫn hành giả cách áp dụng trí tuệ vô trụ vào các hành động hằng ngày như bố thí, nhẫn nhục và tinh tấn. Nhờ đó, người tu học được trang bị một phương pháp luận rõ ràng để quán chiếu nội tâm, vượt qua những phiền não do sự bám víu gây ra và từng bước tiến gần hơn đến trạng thái giác ngộ tuyệt đối. Đây được xem là chiếc chìa khóa quan trọng để mở ra kho tàng tuệ giác thâm diệu cho những ai đang trên con đường khám phá bản tâm.

Mục lục

Phần mở đầu

KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI

Trí tuệ Bát-nhã thấy đúng

lý Trung đạo, không mắc kẹt ở hai bên có và không v.v… Vì biết rõ vạn vật

đều do nhân duyên sanh, nên không có chủ thể thì làm gì thật có được; đủ

duyên vạn vật sanh thì làm sao nói thật không? Như kinh nói “chúng sanh

không phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh… thế giới không phải thế giới,

ấy gọi là thế giới…”. “Không phải chúng sanh”, vì duyên hợp không có chủ

thể. “Gọi là chúng sanh”, vì giả tướng giả danh hiện tiền làm sao phủ nhận

được. To như thế giới cũng là duyên hợp không chủ thể, nên nói “không phải

thế giới”; cụ thể chúng sanh đang sống nương nhờ trên thế giới thì giả

tướng thế giới làm sao chối bỏ được, nên nói “gọi là thế giới”. Thế mà, có

một số người học Phật nông nổi nói “Bát-nhã chấp không”. Quả thật họ là

người rất đáng thương, học Phật mà hoảng sợ trí tuệ thì bao giờ được giác

ngộ.

Bát-nhã có công dụng, có khả năng phá sạch mọi kiến

chấp. Người học Phật cần yếu phải nhờ nó để dẹp tan tất cả kiến chấp sai

lầm cố hữu, đã lôi kéo mình vào vòng trầm luân muôn vạn kiếp rồi. Nếu

không tận dụng cây kiếm Bát-nhã chặt đứt mọi xiềng xích kiến chấp, chúng

ta khó mong thoát khỏi luân hồi. Diệu dụng kinh Kim Cang là ở đây vậy.

Đọc toàn quyển kinh Kim Cang, chúng ta thấy Phật phá

sạch không còn sót một kiến chấp nào. Đây là quả bom, là khối chất nổ mạnh

làm nổ tung hai ngọn núi kiến chấp của chúng sanh. Có một số người bảo

rằng “tụng kinh Kim Cang nóng”. Họ sợ tụng kinh Kim Cang, vì không chịu

nổi sức công phá khốc liệt của kinh này. Ngược lại, Ngũ tổ Hoằng Nhẫn

khuyên người tu thiền nên tụng kinh Kim Cang và chính Ngài cũng đem kinh

Kim Cang giảng cho Lục tổ Huệ Năng nghe, nhân đó Lục Tổ ngộ đạo.

Chúng tôi giảng kinh Kim Cang tại Thiền viện Thường

Chiếu và các Thiền sinh ghi ra từ băng nhựa. Đọc qua bản ghi xong, chúng

tôi đồng ý cho in ra để được nhiều người xem. Tuy nhiên, không sao tránh

khỏi vài điều sơ sót, xin quí vị cảm thông cho.

THÍCH

THANH TỪ

Viết tại Thiền viện Thường Chiếu

vào mùa An cư năm 1992

LƯỢC KHẢO

Kinh Kim Cang cũng có người đọc là Kim Cương. Kinh

này do đức Phật nói, nguyên văn bằng chữ Phạn, sau truyền sang Trung

Quốc được dịch ra chữ Hán.

A- Những nhà phiên dịch Phạn-Hán:

1- Ngài Cưu-ma-la-thập (Kumãrajiva) ở chùa Thảo Đường

tại Trường An. Vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ 4, tức là năm 402 Tây

lịch, thuộc đời Dao Tần, Ngài dịch tên kinh là “Kim Cang Bát-nhã

Ba-la-mật”. Đây là bản có giá trị nhất, được gọi là định bản, vì bản

dịch này được mọi người dùng để trì tụng. Bản này nằm trong bộ Tam Bảo

tụng hằng ngày (Kinh nhật tụng).

2- Ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) đời Ngụy dịch tên

kinh cũng đồng với bản trên tức là “Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật” vào

khoảng 508 Tây lịch.

3- Ngài Ba-la-mật-đà (Paramàrtha) – Trung Hoa dịch là

Chân Đế – dịch vào đời Trần, khoảng giữa thế kỷ thứ VI, để tên là “Kim

Cang Bát-nhã Ba-la-mật”.

4- Ngài Đạt-ma-cấp-đa (Dharmagupta) đời Tùy, khoảng

đầu thế kỷ thứ VII dịch tên cũng đồng là “Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật”.

5- Ngài Huyền Trang đời Đường, khoảng giữa thế kỷ thứ

VII, dịch chung trong bộ Đại Bát-nhã, sáu trăm quyển, gồm mười sáu hội,

“Kim Cang” là hội thứ chín, quyển 577 trong bộ Đại Bát-nhã.

6- Ngài Nghĩa Tịnh, đời Đường đầu thế kỷ thứ VIII,

dịch tên kinh là “Phật thuyết năng đoạn Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh”. Ngài

có đi Ấn Độ mang bản chữ Phạn về.

Sáu nhà dịch đồng một bản

kinh, nhưng về sau được chú ý nhất là bản của các ngài Cưu-ma-la-thập,

ngài Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh.

B- Những nhà sớ giải:

Kinh Kim Cang rất được

các Thiền sư và Giảng sư Trung Hoa chú ý sớ giải, có cả thảy độ mười

nhà.

1- Ngài Trí Khải đời Tùy để tên là “Kim Cang Bát-nhã

kinh sớ” gồm một quyển.

2- Ngài Kiết Tạng đời Tùy để tên là “Kim Cang Bát-nhã

sớ”, gồm bốn quyển.

3- Ngài Khuy Cơ đời Đường để tên là “Kim Cang Bát-nhã

kinh tán thuật” gồm hai quyển.

4- Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời

Đường, để tên là “Kim Cang Bát-nhã kinh sớ luận toát yếu” gồm hai quyển.

5- Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời Đường, để tên là

“Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật kinh lược sớ” gồm hai quyển.

6- Ngài Tử Cừ đời Tống, để tên là “Kim Cang kinh toát

yếu san định ký” gồm bảy quyển.

7- Ngài Tông Lặc và Như Khởi vào đời Minh, để tên là

“Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật chú giải” gồm một quyển.

8- “Kim Cang chư gia” trích lời giảng của các Thiền

sư .

Gần đây có ngài Thái Hư,

để tên là “Kim Cang giảng lục”.

Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị Nông, để tên là “Kim

Cang Bát-nhã Ba-la-mật kinh giảng nghĩa”.

C- Những nhà phiên dịch Hán-Việt:

1- Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch trong bộ Tam Bảo

tụng hằng ngày.

2- Hòa thượng Thiện Hoa dịch trong bộ Phật Học Phổ

Thông (tức là trong mười hai nấc thang giáo lý).

3- Thượng tọa Huệ Hưng dịch quyển Kim Cang Giảng Lục

của ngài Thái Hư.

4- Cư sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang Vị Nông.

Quyển Kim Cang Chư Gia cũng được dịch.

D- Sự liên hệ giữa kinh Kim Cang và Thiền tông.

Dĩ nhiên ai cũng biết đức

Lục Tổ khi gánh củi vào khách điếm bán, thấy có người đang tụng kinh Kim

Cang, đức Lục Tổ nghe qua, tâm liền khai ngộ, mới hỏi thăm và được biết

là Ngũ tổ Huỳnh Mai dạy đồ đệ trì tụng “Kim Cang”, do đó Ngài tìm đến

học đạo.

Trong Thiền tông lúc Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma)

truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Tổ trao bốn quyển kinh Lăng-già (Lankà)

để làm tâm ấn. Đến đời Ngũ Tổ, thấy Kim Cang là quyển kinh tối yếu trong

nhà Thiền, Ngài dạy: Chẳng những Tăng Ni mà cả cư sĩ đều nên trì tụng

kinh Kim Cang. Ngũ Tổ chủ trương dùng kinh Kim Cang để ấn tâm, thế nên

khi Lục Tổ đến học, vào trước giờ truyền y bát, Ngài đem kinh Kim Cang

ra giảng. Khi giảng đến câu “ưng

vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Lục Tổ hoàn toàn liễu ngộ. Như vậy Lục

Tổ ngộ đạo và được truyền y bát làm Tổ cũng nhân nơi kinh Kim Cang. Do

đó chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kinh này đối với Thiền tông. Sau

này kinh Kim Cang được xem như tâm ấn trong nhà Thiền. Trong các chùa,

các Thiền viện bộ kinh này được xem như kinh Nhật tụng.

Ngài Khuê Phong cũng bảo: Kim Cang là bộ kinh quí

đáng để ấn tâm.

Học kinh Kim Cang là học thẳng vào phương pháp tu

Thiền.

KINH KIM CANG

GIẢNG

Bản giảng này là y theo bản dịch của ngài Tam Tạng

pháp sư Cưu-ma-la-thập, vì bản này được công nhận là văn chương lưu loát

và sâu sắc hơn hết. Nếu xem lại bản của ngài Nghĩa Tịnh cũng như của

ngài Huyền Trang, chúng ta thấy cả hai bản dịch đều nặng về văn nghĩa.

Ngài La-thập không kẹt trong văn nghĩa, chỉ cốt làm sao cho ta nhận được

lời Phật dạy, ý Phật nói, nên văn dịch của Ngài thâm thúy và gẫy gọn dễ

hiểu.

Thái tử Chiêu Minh đời Lương, khi đọc Kim Cang, lãnh

hội được ý chỉ nên chia quyển kinh làm ba mươi hai phần để cho người đọc

dễ nhận hiểu.

ĐỀ KINH: Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật.

Kim Cang là một chất cứng hay phá các thứ khác mà các

kim loại khác không phá được nó.

Bát-nhã là âm theo tiếng Phạn.

Ba-la-mật là âm theo tiếng Phạn.

Kinh là chữ Hán.

Đề kinh gồm cả chữ Hán lẫn chữ Phạn. Người Trung Hoa

khi dịch kinh, chữ nào dịch được thì dịch, chữ nào không thể dịch hết

nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phạn.

Bát-nhã nghĩa chánh là trí tuệ.

Ba-la-mật hoặc dịch là “đến bờ kia” hoặc dịch là “cứu

kính viên mãn”. Trí tuệ được cứu kính viên mãn gọi là Bát-nhã ba-la-mật,

vì nếu chỉ nói “trí tuệ” e có lầm lẫn. Ở thế gian người khôn ngoan lanh

lợi cũng gọi là người có trí tuệ, thế nên từ ngữ “Trí tuệ Bát-nhã” là để

giản trạch cho đừng lầm với trí tuệ của người thế gian. Trí tuệ Bát-nhã

là trí tuệ thấu được lý thật, thấy được Thể chân thật của các pháp,

không còn kẹt trong các kiến chấp, trong những cái nhìn thiên lệch chưa

thấu đáo. Do thấu được lẽ thật, nên trí tuệ này khi đến chỗ cứu kính

chẳng những phá được tất cả tà thuyết ngoại đạo mà còn dẹp hết những mê

lầm chấp trước của mọi người. Cho nên khả năng công phá đó vượt hơn tất

cả, dụ như kim cương là chất cứng nhất có thể phá tan các kim loại khác

mà các thứ khác không phá hoại được nó. Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật là

một trí tuệ vững chắc, kiên cố phá dẹp tất cả tà thuyết ngoại đạo làm

cho chúng ta sạch hết những chấp trước sai lầm, những mê mờ đen tối để

đến bờ giải thoát, giác ngộ.

Kinh là những lời giảng

dạy của đức Phật góp lại thành bộ. Kinh là Khế kinh tức là khế lý và khế

cơ. Tất cả những kinh Phật đều phải đủ hai nghĩa khế lý khế cơ, nghĩa là

vừa hợp chân lý, vừa hợp căn cơ người. Thiếu một trong hai điều kể trên

thì chưa gọi là kinh được, vì chủ yếu của đạo Phật cốt giáo hóa chúng

sanh giác ngộ, thấy được lẽ thật (đúng chân lý) và chúng sanh tin nhận

được (hợp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có thể hiểu là tùy duyên và bất

biến. Kinh Phật nói ngàn đời cũng không sai, đó là bất biến; nhưng vào

mỗi thời theo căn cơ mà nói, hoặc thấp hoặc cao, đó là tùy duyên.

1. PHÁP HỘI NHÂN DO PHẦN

ÂM:

PHÁP HỘI NHÂN DO

Như thị ngã văn:

Nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô

Độc viên dữ đại Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu. Nhĩ

thời Thế Tôn thực thời, trước y trì bát, nhập Xá-vệ đại thành khất

thực. Ư kỳ thành trung thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bản xứ. Phạn thực

ngật, thu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa.

DỊCH:

NGUYÊN DO CỦA PHÁP HỘI

Tôi nghe như vầy:

Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ (Sràvasti)

tại rừng Kỳ-đà (Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại

Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ

trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ khất thực.

Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng

ở. Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi.

GIẢNG:

Đoạn này diễn tả pháp hội Phật nói kinh Kim Cang.

Phần đầu chỉ cho lục chủng chứng tín. Sáu điều

này mở đầu kinh nào cũng như thế cả. Đây giống như một lối biên bản

của ngài A-nan (Ananda) để cho thấy lời Ngài nói có giá tri thật.

“Như thị ngã văn” là “tôi nghe như vầy”, chỉ cho

người nghe và pháp được nghe. “Tôi” chỉ người nghe tức ngài A-nan.

“Như vầy” là pháp được nghe tức là đề tài trong buổi thuyết pháp.

“Nhất thời” chỉ thời gian. Vì thuở xưa thời gian

mỗi nước mỗi khác cho nên chỉ nói một hôm, chớ không xác định hôm đó

là mấy giờ ngày mấy tháng mấy.

Phật là vị chủ tọa trong buổi nói pháp.

Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên là nơi Phật

thuyết pháp.

Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên: Trưởng giả Cấp Cô Độc tên

thật là Tu-đạt-đa (Sudatta), do ông hay bố thí, cứu giúp những người

nghèo khổ cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc. Ông muốn mua vườn của

Thái tử Kỳ-đà để cất tinh xá thỉnh Phật đến thuyết pháp. Thái tử bảo

ông đem vàng lót đầy vườn thì Thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông

trải vàng gần xong, Thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa

và Thái tử cũng xin cúng tất cả cây cối trong vườn cho đức Phật, do

đó nên thành tên rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.

Chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi

vị là cử tọa. Thời gian, nơi chốn và số cử tọa cho thấy bài kinh này

không phải tự ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe trong hội thuyết

pháp gồm cả thảy một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.

Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín,

nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin kinh này không

phải tự ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thuật lại buổi thuyết

pháp của đức Phật.

Đến phần thứ hai tả cảnh Phật sắp nói pháp.

Khi ấy là buổi sáng gần đến giờ thọ trai, đức Thế

Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực.

Khất thực theo thứ lớp: Nếu hàng Phật tử thỉnh

thọ trai thì không cần theo thứ lớp, cứ đi thẳng đến nhà thỉnh mình.

Còn khất thực theo thứ lớp, là trong xóm có nhà nghèo, nhà giàu, cứ

tuần tự đến nhà thứ nhất, nếu không được cúng dường thì đến nhà thứ

hai, thứ ba v.v… không phân biệt giàu nghèo đến khi được cúng dường

thì về.

Thọ trai xong, xếp y, dẹp bát, rửa chân rồi, trải

tòa ngồi kiết-già. Đoạn này tả lại cuộc sống bình dị của đức Phật,

sáng đi khất thực, về ăn xong rửa bát, xếp y, rửa chân, trải tòa

ngồi kiết-già, sắp nói chuyện với chúng. Đó là ý thâm sâu muốn chỉ

rằng chân lý không ngoài việc bình thường để đánh tan lòng hiếu kỳ,

tưởng chân lý là những gì mầu nhiệm ngoài việc bình thường. Thấy

được chân lý trong việc bình thường là thấy đạo, nếu trái lại là lạc

hướng.

Khi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi ngài Nam Tuyền

“thế nào là đạo” thì Nam Tuyền trả lời “bình thường tâm thị đạo”,

nghĩa là tâm bình thường là đạo.

Ông Lý Tường đến hỏi ngài Dược Sơn Duy Nghiễm

“thế nào là đạo” Ngài bảo “vân tại thanh thiên, thủy tại bình”,

nghĩa là mây trên trời xanh, nước trong bình. Việc bình thường này

hợp với tinh thần Đại thừa.

2. THIỆN HIỆN KHỞI THỈNH PHẦN

THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH

ÂM:

THIỆN HIỆN KHẢI THỈNH

Thời trưởng lão Tu-bồ-đề tại đại chúng trung,

tức tùng tòa khởi, thiên đản hữu kiên, hữu tất trước địa, hiệp

chưởng cung kính nhi bạch Phật ngôn:

– Hi hữu Thế Tôn! Như Lai thiện hộ niệm chư

Bồ-tát, thiện phó chúc chư Bồ-tát. Thế Tôn! Thiện nam tử, thiện nữ

nhân, phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, vân hà ưng trụ, vân

hà hàng phục kỳ tâm?

Phật ngôn:

– Thiện tai, thiện tai! Tu-bồ-đề, như nhữ sở

thuyết, Như Lai thiện hộ niệm chư Bồ-tát, thiện phó chúc chư Bồ-tát,

nhữ kim đế thính, đương vị nhữ thuyết. Thiện nam tử, thiện nữ nhân

phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, ưng như thị trụ, như thị

hàng phục kỳ tâm.

– Duy nhiên, Thế Tôn! Nguyện nhạo dục văn.

DỊCH:

THIỆN HIỆN THƯA HỎI

Khi ấy trưởng lão Tu-bồ-đề (Subhuti) ở

trong đại chúng, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, bày vai áo bên mặt, gối

mặt quì xuống đất, chấp tay cung kính bạch Phật rằng:

– Thế Tôn! Rất ít có, đức Như Lai khéo hộ

niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị Bồ-tát. Bạch Thế Tôn! Người

thiện nam, người thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác

nên làm sao trụ, làm sao hàng phục tâm kia?

Đức Phật bảo:

Lành thay, lành thay! Này Tu-bồ-đề, như lời

ông nói, Như Lai khéo hộ niệm các vị Bồ-tát, khéo phó chúc các vị

Bồ-tát, nay ông hãy lắng nghe cho kỹ, ta sẽ vì ông mà nói. Người

thiện nam, thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên như

thế mà trụ, như thế mà hàng phục tâm kia.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn! Con nguyện thích

được nghe.

GIẢNG:

Đây là phần thưa hỏi của ngài Tu-bồ-đề. Tu-bồ-đề

là một vị A-la-hán thâm hiểu lý Bát-nhã. Có chỗ dịch là Thiện Hiện,

có chỗ dịch Không Sanh, có chỗ dịch Kiết Tường. Nói Tu-bồ-đề là dịch

âm tiếng Phạn. Trong Đại Bát-nhã dịch là Thiện Hiện, đây nói

Tu-bồ-đề cũng chỉ là một vị. Thiện Hiện là khéo hiện. Ngài Tu-bồ-đề

thuộc hàng trưởng lão.

Trước hết là phần nghi thức. Theo lễ nghi Ấn Độ,

khi đệ tử muốn thưa hỏi Phật điều gì thì phải bày vai áo bên mặt,

quì gối mặt xuống rồi chấp tay cung kính thưa hỏi.

Hộ niệm: hộ là bảo hộ, niệm là nhớ nghĩ.

Phó chúc là trao dặn lại.

Trước hết ngài Tu-bồ-đề tán thán Phật: Đức Thế

Tôn là bậc ít có trong thế gian, Ngài thường bảo hộ và nhớ nghĩ các

vị Bồ-tát, khéo trao dặn lại các vị Bồ-tát.

Tán thán Phật xong rồi, ngài Tu-bồ-đề bắt đầu

thưa hỏi.

Phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là phát

tâm cầu thành Phật.

Ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Giả sử có người thiện

nam, thiện nữ muốn phát tâm cầu thành Phật thì phải làm sao để an

trụ tâm đó và làm sao hàng phục được tâm đó?

“Làm sao an trụ, làm sao hàng phục tâm kia” là

hai câu hỏi then chốt của

toàn bộ kinh, hai câu hỏi quan trọng cho sự tu hành. Tất cả chúng

ta, ai đã phát tâm tu theo đạo Phật, đều nguyện tiến tới Phật quả,

nhưng muốn tiến tới Phật quả phải làm sao? – Tức là phải an trụ tâm

và hàng phục tâm, vì nếu còn tâm điên đảo làm sao thành Phật được?

Thế nên đó là chỗ chánh yếu của người tu. Phát tâm vô thượng là đặt

mục tiêu mình tiến, nhưng an trụ trong đó và hàng phục vọng tưởng

không phải là chuyện dễ. Phát tâm cầu thành Phật là buổi đầu, nhưng

còn nhiều chướng ngại phải vượt qua.

Phật thừa nhận lời tán thán của ngài Tu-bồ-đề là

đúng nên đức Phật bảo rằng: “Lành thay, lành thay! Đúng như lời ông

nói, Như Lai thường hộ niệm các vị Bồ-tát và khéo phó chúc các vị

Bồ-tát.” Bởi vì đức Phật luôn luôn nhớ nghĩ làm sao cho các vị

Bồ-tát được tiến lên Phật quả và dặn dò các vị Bồ-tát làm lợi ích

cho chúng sanh để cùng tiến lên Phật quả. Đó là chủ đích mà đức Phật

hằng mong mỏi và hằng giáo hóa.

Tiếp đến Phật dạy: Bây giờ ông phải lắng tâm nghe

cho kỹ, tôi sẽ vì ông mà nói. Những người thiện nam, thiện nữ nào

phát tâm cầu thành Phật thì nên như lời tôi dạy ở sau mà an trụ tâm,

nên như lời tôi dạy ở sau mà hàng phục tâm. Đó là lời của Phật hứa

sẽ dạy, ngài Tu-bồ-đề thưa: Xin vâng, đức Thế Tôn con nguyện thích

được nghe những lời này. Đây là bắt đầu thời thuyết pháp chánh.

Qua đoạn này chúng ta thấy rõ tinh thần người xưa

đến học đạo. Trong hội chúng đông đảo, khi đức Phật thọ trai xong,

trải tọa cụ ngồi kiết-già rồi, ngài Tu-bồ-đề theo đúng nghi lễ quì

gối chấp tay tán thán Phật trước, kế đến mới thưa hỏi những điểm

quan trọng. Như vậy đức Phật thuyết pháp là do đệ tử có những thắc

mắc nghi ngờ đem ra thưa hỏi, nhân đó đức Phật mới thuyết pháp. Hiện

nay chúng ta đi chùa học đạo cũng vậy, khi nào có gì thắc mắc cũng

đem ra hỏi, như thế chính mình có lợi và cũng lợi cho những người

chung quanh.

Ai muốn hàng phục

được tâm mình, an trụ được tâm mình, phải theo dõi lời Phật dạy ở

sau.

Đọc tiếp: 2. THIỆN HIỆN KHỞI THỈNH PHẦN →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *