KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 25/34
23. TỊNH TÂM HÀNH THIỆN PHẦN
ÂM:
TỊNH TÂM HÀNH THIỆN
Phục thứ Tu-bồ-đề!
Thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ, thị danh A-nậu-đa-la tam-miệu
tam-bồ-đề. Dĩ vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả tu nhất
thiết thiện pháp tắc đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề!
Sở ngôn thiện pháp giả, Như Lai thuyết tức phi thiện pháp, thị danh
thiện pháp.
DỊCH:
TÂM TRONG SẠCH LÀM VIỆC THIỆN
Lại nữa Tu-bồ-đề, pháp này bình đẳng không
có cao thấp, ấy gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Do không
ngã, không nhân, không chúng sanh, không thọ giả tu tất cả pháp lành
tức được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề, nói rằng
pháp lành đó, Như Lai nói tức chẳng phải pháp lành, ấy gọi là pháp
lành.
GIẢNG:
Tịnh tâm là tâm trong sạch tức là không còn chấp
ngã, chấp pháp, lúc đó lại làm lành nữa mới gọi là Phật. Đây đức
Phật nói: Pháp này
bình đẳng không có cao thấp, ấy gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Bình đẳng không
có cao thấp gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Hay nói ngược
lại là pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là tâm bình đẳng không
có cao thấp. Bình đẳng là thế nào? Quí vị thử hiểu xem. Như hiện giờ
trong giảng đường có một trăm người nhưng trình độ học thức hiểu
biết có bình đẳng không? Nếu đem ra đo lường trình độ thì một trăm
người này có thể sai biệt nhau vô cùng, kẻ hơn cái này, người thua
cái kia… luôn luôn có sai biệt. Như thế trên tâm lượng hiểu biết do
học tập được thì tất cả chúng ta có bình đẳng không? Nay tất cả
những kiến thức do học được và những kiến thức do kinh nghiệm trong
cuộc sống, chúng ta dẹp qua một bên, lặng hết mọi vọng tưởng thì lúc
đó chúng ta có nghe, có thấy, có biết, nhưng những cái đó có bình
đẳng không? Thế nên pháp này bình đẳng không cao thấp là thế, nghĩa
là người nào đến chỗ đó, tức là được bình đẳng, là Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác. Chúng ta học đạo muốn được đạo là chỗ đó. Vì thế
đức Phật bảo: Tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật. Nhưng hiện nay sở
dĩ chúng ta có thiên sai vạn biệt là do huân tập, chứa chấp không
đồng. Cái thiên sai vạn biệt đó là tướng huân tập bên ngoài đem lại,
là những chủng tử sanh diệt, chúng ta bám vào đó cho là mình nên bị
dẫn đi trong luân hồi sanh tử. Huân tập cái gì nhiều thì sức mạnh
của cái đó dẫn đi, gọi là theo nghiệp thọ sanh. Nếu những cái đó
chúng ta cho lặng hết, chỉ còn cái tri giác bình đẳng, lúc đó không
còn nghiệp nào dẫn chúng ta đi, là giải thoát, là Phật. Thành Phật
ngay ở chỗ đó. Như thế quí vị nghĩ ở đây có người nào không có khả
năng thành Phật không? Ai cũng có mà chỉ ưng hay không ưng làm thôi.
Ai không ưng làm thì cứ làm chúng sanh, còn ai ưng làm thì người đó
có ngày sẽ thành Phật. Thế nên đừng trách ai mà phải tự trách mình
tại sao không ưng làm Phật, do không ưng làm Phật nên cứ lạy Phật
hoài. Nay tất cả những gì Phật đã làm, chúng ta làm theo đúng như
vậy thì chúng ta sẽ là Phật. Như thế pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác đã sẵn nơi mình, không người nào thiếu. Người nào còn thấy, còn
nghe, còn biết thì người đó có khả năng thành Phật. Nếu tất cả chúng
ta buông hết những cái do bên ngoài huân vào thì chỉ còn cái ta chân
thật, khi ấy sẽ không còn luân hồi sanh tử, đó là giác ngộ thành
Phật, đó là căn bản. Như thế thì không ngã, không nhân, không chúng
sanh, không thọ giả, vì đến chỗ bình đẳng thì không còn thấy có
mình, có người, không thấy ngã nhân thì không thấy chúng sanh, thọ
giả. Tại sao? Vì khi quí vị buông tất cả, vọng tưởng lặng xuống chỉ
còn cái chân thật hằng giác hằng tri, cái đó không có niệm dấy lên
phân biệt đây là mình, kia là người, cũng không dấy niệm ta là chúng
sanh… Chúng sanh là tướng duyên hợp, do các duyên hợp lại mà thành,
mà sanh nên gọi là chúng sanh. Cái chân thật đó không phải là tướng
duyên hợp nên không phải là chúng sanh, không có chúng sanh thì
không có thọ giả tức thọ mạng, không bao giờ sanh thì làm gì có tử
mà nói có thọ mạng. Quí vị thấy đến đó là mất hết bốn tướng. Nhưng
không phải đến đó rồi không làm gì hết, đến đó lại phải làm tất cả
pháp lành, mới là điều đặc biệt. Điều này quí vị nghe cũng khó hiểu.
Tại sao đến khi không thấy bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả
lại làm lành chi vậy? Tôi ví dụ như một hôm quí vị đi đường, bỗng
dưng thấy một người té, người đó không phải là thân, cũng không phải
là thù, quí vị liền đỡ họ. Khi quí vị hành động như vậy là do niệm
thân thù hay do cái gì? Không có niệm gì hết, thấy họ khổ thì ta
giúp. Đó là một ví dụ nhỏ khi mình chưa sạch bốn tướng, huống là khi
tất cả chấp ngã, chấp nhân lặng rồi thì các hành động phát ra đều
lành hết, cái lành đó là Vô duyên từ, nghĩa là lòng từ không có
duyên cớ. Chúng ta hiện nay lòng từ sanh ra đều có duyên cớ. Tỉ dụ
hôm nay có một huynh đệ thấy mình thiếu thức ăn, họ đem qua cho mình
một đĩa thức ăn, ngày mai mình thấy huynh đệ đó thiếu thức ăn, nếu
mình có thì mình đem cho lại, như vậy lòng từ giúp đỡ nhau đó có
duyên cớ chớ đâu phải không duyên cớ. Cả khi những người tật nguyền
đến xin mình, có khi mình cũng giúp với lòng không có niệm gì hết,
nhưng nhiều khi giúp họ mà mình nghĩ là bố thí cho có phước. Nói có
phước tức là một lối bỏ ống chớ gì, như vậy cũng là có duyên cớ.
Không còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì lòng từ không có duyên
cớ, thấy người khổ là giúp, vì đâu còn thấy có mình có người mà còn
có duyên cớ. Chúng ta vì thấy có người có mình nên làm gì cũng qui
về bản ngã, hoặc là bản ngã hưởng ngay bây giờ hoặc mai sau hưởng,
nên việc làm có duyên cớ, lòng từ có duyên cớ. Đó là để thấy rõ khi
tu hành đến đó rồi làm tất cả pháp lành chớ không phải tâm như như
rồi không làm gì hết. Nếu không làm chi cả thì Phật đâu có đi thuyết
pháp bốn mươi chín năm, Bồ-tát đạt đến đó rồi cũng đem Lục độ giáo
hóa chúng sanh. Hiểu như thế mới thấy rằng khi đến đó mới có lòng từ
không duyên cớ và đó mới là lòng từ chân thật. Còn chúng ta hiện nay
lòng từ tuy có, nhưng cũng còn mưu toan tính toán hoặc ít hoặc
nhiều. Người đời thường nói: thấy phơi lúa mới cho mượn gạo, nếu như
không thấy họ phơi lúa thì không muốn cho mượn gạo… Chúng ta giúp
nhau phần nhiều là thấy người kia có thể giúp lại mình việc gì mai
sau, như thế đều là những việc có tính toán cả, tâm đó chưa phải
bình đẳng, chưa phải là cứu kính. Phải đến chỗ không còn bốn tướng
mà vẫn làm pháp lành đó mới gọi là được Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác. Không còn ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, tức là những cái giả
đó đã phá sạch rồi, đến chỗ như như lại còn hiện thân làm tất cả
việc lợi ích cho chúng sanh, như thế mới là Phật.
Nói pháp lành nhưng e chúng ta chấp pháp lành là
thật, nên Phật bảo ngài Tu-bồ-đề:
Pháp lành đó Như Lai nói tức không phải pháp lành, ấy gọi
là pháp lành. Ở thế
gian nói thiện nói ác chẳng qua là tướng duyên thôi. Như thế thì nói
pháp lành chẳng qua là cái tướng của duyên khởi, không có thật cho
nên nói không phải pháp lành, nhưng giả danh tạm gọi là pháp lành.
Làm đau khổ chúng sanh gọi là ác, làm an vui chúng sanh gọi là lành.
Khi đạt đạo rồi, sống được bình đẳng thì thấy tất cả chúng sanh nào
khổ mình giúp, giúp họ được vui tạm gọi là lành, chớ đâu phải thật
có một pháp lành. Đó là tịnh
tâm hành thiện, tâm
hoàn toàn không còn ngã pháp mà làm lành.