KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 2/34
LƯỢC KHẢO
Kinh Kim Cang cũng có người đọc là Kim Cương. Kinh
này do đức Phật nói, nguyên văn bằng chữ Phạn, sau truyền sang Trung
Quốc được dịch ra chữ Hán.
A- Những nhà phiên dịch Phạn-Hán:
1- Ngài Cưu-ma-la-thập (Kumãrajiva) ở chùa Thảo Đường
tại Trường An. Vào niên hiệu Hoằng Thủy năm thứ 4, tức là năm 402 Tây
lịch, thuộc đời Dao Tần, Ngài dịch tên kinh là “Kim Cang Bát-nhã
Ba-la-mật”. Đây là bản có giá trị nhất, được gọi là định bản, vì bản
dịch này được mọi người dùng để trì tụng. Bản này nằm trong bộ Tam Bảo
tụng hằng ngày (Kinh nhật tụng).
2- Ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) đời Ngụy dịch tên
kinh cũng đồng với bản trên tức là “Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật” vào
khoảng 508 Tây lịch.
3- Ngài Ba-la-mật-đà (Paramàrtha) – Trung Hoa dịch là
Chân Đế – dịch vào đời Trần, khoảng giữa thế kỷ thứ VI, để tên là “Kim
Cang Bát-nhã Ba-la-mật”.
4- Ngài Đạt-ma-cấp-đa (Dharmagupta) đời Tùy, khoảng
đầu thế kỷ thứ VII dịch tên cũng đồng là “Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật”.
5- Ngài Huyền Trang đời Đường, khoảng giữa thế kỷ thứ
VII, dịch chung trong bộ Đại Bát-nhã, sáu trăm quyển, gồm mười sáu hội,
“Kim Cang” là hội thứ chín, quyển 577 trong bộ Đại Bát-nhã.
6- Ngài Nghĩa Tịnh, đời Đường đầu thế kỷ thứ VIII,
dịch tên kinh là “Phật thuyết năng đoạn Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh”. Ngài
có đi Ấn Độ mang bản chữ Phạn về.
Sáu nhà dịch đồng một bản
kinh, nhưng về sau được chú ý nhất là bản của các ngài Cưu-ma-la-thập,
ngài Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh.
B- Những nhà sớ giải:
Kinh Kim Cang rất được
các Thiền sư và Giảng sư Trung Hoa chú ý sớ giải, có cả thảy độ mười
nhà.
1- Ngài Trí Khải đời Tùy để tên là “Kim Cang Bát-nhã
kinh sớ” gồm một quyển.
2- Ngài Kiết Tạng đời Tùy để tên là “Kim Cang Bát-nhã
sớ”, gồm bốn quyển.
3- Ngài Khuy Cơ đời Đường để tên là “Kim Cang Bát-nhã
kinh tán thuật” gồm hai quyển.
4- Ngài Tông Mật tức ngài Khuê Phong cũng ở đời
Đường, để tên là “Kim Cang Bát-nhã kinh sớ luận toát yếu” gồm hai quyển.
5- Ngài Trí Nghiêm cũng thuộc đời Đường, để tên là
“Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật kinh lược sớ” gồm hai quyển.
6- Ngài Tử Cừ đời Tống, để tên là “Kim Cang kinh toát
yếu san định ký” gồm bảy quyển.
7- Ngài Tông Lặc và Như Khởi vào đời Minh, để tên là
“Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật chú giải” gồm một quyển.
8- “Kim Cang chư gia” trích lời giảng của các Thiền
sư .
Gần đây có ngài Thái Hư,
để tên là “Kim Cang giảng lục”.
Gần đây nhất là cư sĩ Giang Vị Nông, để tên là “Kim
Cang Bát-nhã Ba-la-mật kinh giảng nghĩa”.
C- Những nhà phiên dịch Hán-Việt:
1- Hòa thượng Thích Trí Tịnh dịch trong bộ Tam Bảo
tụng hằng ngày.
2- Hòa thượng Thiện Hoa dịch trong bộ Phật Học Phổ
Thông (tức là trong mười hai nấc thang giáo lý).
3- Thượng tọa Huệ Hưng dịch quyển Kim Cang Giảng Lục
của ngài Thái Hư.
4- Cư sĩ Đồ Nam dịch bản của ông Giang Vị Nông.
Quyển Kim Cang Chư Gia cũng được dịch.
D- Sự liên hệ giữa kinh Kim Cang và Thiền tông.
Dĩ nhiên ai cũng biết đức
Lục Tổ khi gánh củi vào khách điếm bán, thấy có người đang tụng kinh Kim
Cang, đức Lục Tổ nghe qua, tâm liền khai ngộ, mới hỏi thăm và được biết
là Ngũ tổ Huỳnh Mai dạy đồ đệ trì tụng “Kim Cang”, do đó Ngài tìm đến
học đạo.
Trong Thiền tông lúc Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma)
truyền tâm ấn cho ngài Huệ Khả, Tổ trao bốn quyển kinh Lăng-già (Lankà)
để làm tâm ấn. Đến đời Ngũ Tổ, thấy Kim Cang là quyển kinh tối yếu trong
nhà Thiền, Ngài dạy: Chẳng những Tăng Ni mà cả cư sĩ đều nên trì tụng
kinh Kim Cang. Ngũ Tổ chủ trương dùng kinh Kim Cang để ấn tâm, thế nên
khi Lục Tổ đến học, vào trước giờ truyền y bát, Ngài đem kinh Kim Cang
ra giảng. Khi giảng đến câu “ưng
vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, Lục Tổ hoàn toàn liễu ngộ. Như vậy Lục
Tổ ngộ đạo và được truyền y bát làm Tổ cũng nhân nơi kinh Kim Cang. Do
đó chúng ta thấy rõ tầm quan trọng của kinh này đối với Thiền tông. Sau
này kinh Kim Cang được xem như tâm ấn trong nhà Thiền. Trong các chùa,
các Thiền viện bộ kinh này được xem như kinh Nhật tụng.
Ngài Khuê Phong cũng bảo: Kim Cang là bộ kinh quí
đáng để ấn tâm.
Học kinh Kim Cang là học thẳng vào phương pháp tu
Thiền.
KINH KIM CANG
GIẢNG
Bản giảng này là y theo bản dịch của ngài Tam Tạng
pháp sư Cưu-ma-la-thập, vì bản này được công nhận là văn chương lưu loát
và sâu sắc hơn hết. Nếu xem lại bản của ngài Nghĩa Tịnh cũng như của
ngài Huyền Trang, chúng ta thấy cả hai bản dịch đều nặng về văn nghĩa.
Ngài La-thập không kẹt trong văn nghĩa, chỉ cốt làm sao cho ta nhận được
lời Phật dạy, ý Phật nói, nên văn dịch của Ngài thâm thúy và gẫy gọn dễ
hiểu.
Thái tử Chiêu Minh đời Lương, khi đọc Kim Cang, lãnh
hội được ý chỉ nên chia quyển kinh làm ba mươi hai phần để cho người đọc
dễ nhận hiểu.
ĐỀ KINH: Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật.
Kim Cang là một chất cứng hay phá các thứ khác mà các
kim loại khác không phá được nó.
Bát-nhã là âm theo tiếng Phạn.
Ba-la-mật là âm theo tiếng Phạn.
Kinh là chữ Hán.
Đề kinh gồm cả chữ Hán lẫn chữ Phạn. Người Trung Hoa
khi dịch kinh, chữ nào dịch được thì dịch, chữ nào không thể dịch hết
nghĩa thì để nguyên âm tiếng Phạn.
Bát-nhã nghĩa chánh là trí tuệ.
Ba-la-mật hoặc dịch là “đến bờ kia” hoặc dịch là “cứu
kính viên mãn”. Trí tuệ được cứu kính viên mãn gọi là Bát-nhã ba-la-mật,
vì nếu chỉ nói “trí tuệ” e có lầm lẫn. Ở thế gian người khôn ngoan lanh
lợi cũng gọi là người có trí tuệ, thế nên từ ngữ “Trí tuệ Bát-nhã” là để
giản trạch cho đừng lầm với trí tuệ của người thế gian. Trí tuệ Bát-nhã
là trí tuệ thấu được lý thật, thấy được Thể chân thật của các pháp,
không còn kẹt trong các kiến chấp, trong những cái nhìn thiên lệch chưa
thấu đáo. Do thấu được lẽ thật, nên trí tuệ này khi đến chỗ cứu kính
chẳng những phá được tất cả tà thuyết ngoại đạo mà còn dẹp hết những mê
lầm chấp trước của mọi người. Cho nên khả năng công phá đó vượt hơn tất
cả, dụ như kim cương là chất cứng nhất có thể phá tan các kim loại khác
mà các thứ khác không phá hoại được nó. Kim Cang Bát-nhã ba-la-mật là
một trí tuệ vững chắc, kiên cố phá dẹp tất cả tà thuyết ngoại đạo làm
cho chúng ta sạch hết những chấp trước sai lầm, những mê mờ đen tối để
đến bờ giải thoát, giác ngộ.
Kinh là những lời giảng
dạy của đức Phật góp lại thành bộ. Kinh là Khế kinh tức là khế lý và khế
cơ. Tất cả những kinh Phật đều phải đủ hai nghĩa khế lý khế cơ, nghĩa là
vừa hợp chân lý, vừa hợp căn cơ người. Thiếu một trong hai điều kể trên
thì chưa gọi là kinh được, vì chủ yếu của đạo Phật cốt giáo hóa chúng
sanh giác ngộ, thấy được lẽ thật (đúng chân lý) và chúng sanh tin nhận
được (hợp căn cơ). Khế cơ và khế lý còn có thể hiểu là tùy duyên và bất
biến. Kinh Phật nói ngàn đời cũng không sai, đó là bất biến; nhưng vào
mỗi thời theo căn cơ mà nói, hoặc thấp hoặc cao, đó là tùy duyên.