KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 34/34

32. ỨNG HÓA PHI CHƠN PHẦN

ỨNG HÓA PHI CHÂN

ÂM:

ỨNG HÓA PHI CHÂN

Tu-bồ-đề! Nhược hữu

nhân dĩ mãn vô lượng a-tăng-kỳ thế giới thất bảo, trì dụng bố thí;

nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhân, phát Bồ-đề tâm giả, trì ư thử

kinh, nãi chí tứ cú kệ đẳng, thọ trì độc tụng, vị nhân diễn thuyết,

kỳ phước thắng bỉ. Vân hà vị nhân diễn thuyết? Bất thủ ư tướng, như

như bất động. Hà dĩ cố?

Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.

Phật thuyết thị kinh

dĩ, trưởng lão Tu-bồ-đề cập chư Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc,

Ưu-bà-di, nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la văn Phật sở

thuyết, giai đại hoan hỉ tín thọ phụng hành.

DỊCH:

ỨNG HÓA KHÔNG PHẢI THẬT

Này Tu-bồ-đề, nếu có người đem bảy báu bằng

thế giới trải qua số kiếp vô lượng a-tăng-kỳ để bố thí. Nếu có người

thiện nam, người thiện nữ phát tâm Bồ-đề đem kinh này cho đến bốn

câu kệ v.v… thọ trì, đọc tụng, vì người diễn nói thì phước của người

này còn hơn phước của người kia. Thế nào là vì người diễn nói? Chẳng

thủ nơi tướng, như như bất động. Vì cớ sao?

Tất cả pháp hữu vi,

Như mộng, huyễn, bọt, bóng,

Như sương cũng như điện,

Nên khởi quán như thế.

Phật nói kinh này rồi, trưởng lão Tu-bồ-đề

và chúng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di, tất cả thế gian

trời, người, a-tu-la nghe Phật nói đều rất vui mừng, tin thọ và vâng

làm.

GIẢNG:

Trong đoạn trước, đức Phật bảo: Giả sử có người

đem của báu đầy cả số thế giới bằng số cát sông Hằng ra bố thí, công

đức không bằng người dùng trí biết tất cả các pháp là vô ngã và ứng

dụng để tu hạnh nhẫn nhục. Ở đây đức Phật lại bảo: Đem bảy báu đầy

cả thế giới trải qua thời gian vô số vô biên kiếp ra bố thí. Đoạn

trước là đứng về mặt không gian mà nói (thế giới nhiều bằng cát sông

Hằng), còn đoạn này là đứng về mặt thời gian là vô lượng a-tăng-kỳ.

A-tăng-kỳ là vô số, nghĩa là trải qua thời gian vô lượng vô số, mà

mỗi thời gian đều đem bảy báu đầy cả thế giới ra bố thí. Lại một

người khác, hoặc nam, hoặc nữ phát tâm Bồ-đề đem kinh này cho đến

chỉ bốn câu kệ v.v… thọ trì, đọc tụng vì người diễn nói thì phước

của người này hơn phước của người kia. Nghe như thế ai mà không

thích. Nhưng tiếp theo đức Phật liền đặt câu hỏi: Thế nào là vì

người diễn nói? Đoạn này nêu rõ ba trường hợp: thọ trì, đọc tụng, vì

người diễn nói, nhưng đức Phật chỉ hỏi trường hợp thứ ba thôi, tuy

trường hợp thứ ba nhưng gồm cả hai trường hợp trước rồi. Ngài dạy

tiếp: Chẳng thủ nơi tướng, như như bất động,

thì thọ trì cũng chẳng thủ nơi tướng, như như bất động, đọc

tụng cũng chẳng thủ nơi tướng, như như bất động, vì người diễn nói

cũng chẳng thủ nơi tướng, như như bất động, đó là công đức hơn người

bố thí bảy báu trải qua số kiếp vô lượng vô biên. Như thế đâu phải

là đơn giản. Người nay cứ nghe nói thọ trì, đọc tụng bèn đem ra đọc

mãi, cho đó là tôi thọ trì kinh Kim Cang rồi tính được một phẩm hai

phẩm… (một phẩm là sáu mươi quyển), một đời tôi thọ trì được ba phẩm

kinh Kim Cang và cho đó là hay. Như thế người này đã căn cứ trên chữ

nghĩa để thọ trì, lại thêm tính phẩm, tính số lượng nữa thì đối với

tướng là thủ tướng. Hiểu như thế mới thấy rõ lời Phật dạy chớ nhiều

khi chúng ta bị lầm, chỉ nhớ mấy chữ thọ trì đọc tụng chớ không nhớ

phần sau, mà chủ yếu là phần sau. Chúng ta thấy Phật thật là khéo,

nếu là chúng ta, đến khi hỏi, thế nào cũng hỏi luôn cho đủ ba phần,

còn Phật chỉ hỏi có phần sau, chỉ hỏi thế nào là vì người diễn nói

và dạy rằng: “chẳng thủ tướng, như như bất động” và bỏ lửng phần thọ

trì đọc tụng. Như thế để thấy rằng Ngài biết đi đến chỗ “chẳng thủ

tướng, như như bất động” rất khó, chúng sanh ít ai làm nổi. Nếu giải

nghĩa trùm luôn e thấy khó không ai làm, nên Ngài chỉ nói vì người

diễn nói là chẳng thủ tướng, như như bất động, mà không đề cập đến

hai phần trên, nhưng văn thể là như thế. Người không hiểu cho rằng

thọ trì đọc tụng là thường, còn vì người diễn nói mới là chẳng thủ

tướng, như như bất động, thôi ráng thọ trì đọc tụng để được phước.

Thế nên nhiều khi chúng ta học kinh mà không nắm vững ý kinh, cứ

chấp từng đoạn và lấy đó làm sở đắc, đó là điều nguy hiểm. Hiểu như

thế chúng ta mới hiểu rõ tại sao đức Phật bảo công đức trì kinh Kim

Cang là vô lượng vô biên, hơn tất cả công đức. Vì dùng Trí tuệ

Bát-nhã thấy tất cả Pháp tướng không thật, do đó không chấp vào một

tướng nào nên mới không thủ tướng. Không chấp tướng mà hằng sống với

tâm đưa tất cả chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn, đó là như như bất

động. Như thế chỗ như như bất động là cái không sanh, không diệt.

Chúng ta sống được với nó, vì người diễn nói, thử hỏi công đức không

hơn công đức của người đem bảy báu đầy khắp cả không gian hoặc là

suốt cả thời gian mà bố thí sao? Của báu là cái hữu tướng, là vô

thường, còn như như bất động là không có tướng, không vô thường nên

không sanh diệt. Sống được với cái không sanh diệt, và đem cái không

sanh diệt chỉ cho người nhận, thì phước đức không lớn là gì?

Đến đây đức Phật dạy thêm:

Nhất thiết hữu vi pháp,

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.

Những gì có hình tướng, có động tác bị vô thường

sanh diệt đều gọi là pháp hữu vi. Có nhiều người nói: Ở chùa thờ

tượng Phật, đánh chuông, đánh trống, đó là tướng hữu vi, chúng tôi

không như vậy, chúng tôi chỉ thờ một tấm vải, hay chúng tôi chỉ thắp

một cây hương trên bàn không, hay chúng tôi dùng tấm vải vẽ chữ Phật

thôi, đó là vô vi. Tuy nhiên còn có cây hương, có tấm vải, có cái

bàn cũng là hữu vi mất rồi. Thế mà người ta cứ lầm, không hiểu được

ý nghĩa chánh của đạo Phật. Hữu vi nghĩa là tất cả những gì có tướng

mạo, có tướng mạo đều bị vô thường, sanh diệt. Như tượng Phật bằng

gỗ, bằng xi măng có tướng mạo thì vô thường, tấm vải có tướng mạo

thì cũng vô thường, cây nhang có tướng mạo thì cũng vô thường. Cả

đến những niệm tưởng cũng là tác động sanh diệt thì cũng là hữu vi.

Tất cả pháp hữu vi đều như giấc mộng, đều huyễn hóa, đều như bong

bóng khi hạt mưa rơi, đều như bóng của người, của cây, của vật không

thật, cũng như sương mù, điện chớp, chúng ta phải khởi quán như thế

mới không thủ tướng, mới như như bất động. Nếu thấy có cái thật, tức

là thủ tướng mà thủ tướng thì tâm động. Tôi nói một ví dụ gần nhất

như chúng ta mặc chiếc áo thật sạch, bất thần có người tay dính đầy

lọ chụp vào vai chúng ta thì thế nào? Mình động không? Vì mình chấp

cái tướng sạch nên thấy chiếc áo dơ là nổi sân liền. Thế nên thủ

tướng thì động, trái lại nếu không chấp tướng thì như như bất động,

rõ ràng như vậy, đó là tôi nói những việc hết sức nhỏ. Đến những

việc lớn hơn như thân mạng thì động liên miên… Giả sử có người nào

nghe nói ngày mai bị tử hình thì đêm nay người đó ngồi thiền yên

lặng được không? Quí vị tưởng tượng xem đêm đó ngồi thiền yên lặng

hay là trằn trọc suốt đêm hay khóc thôi là khóc? Như thế để thấy còn

chấp tướng là không bao giờ an ổn được.

Đến đây tôi kể cho quí vị câu chuyện như sau: Vua

nước Kế-tân nghe lời sàm thần nói Tổ Sư Tử truyền bá tà pháp làm

nhiễu loạn lòng dân. Vua tay cầm kiếm đi đến chỗ Tổ, hỏi: “Nghe nói

Ngài thấy năm uẩn đều không phải chăng?” Tổ bảo: “Phải.” Vua nói:

“Nếu thấy năm uẩn đều không, Ngài cho tôi cái đầu được không?” Tổ

bảo: “Năm uẩn đã không, sá gì cái đầu.” Vua liền chặt đầu Tổ(1).

Qua câu chuyện này, vua Trần Thái Tông có lời

niêm:

Tương đầu lâm bạch nhẫn

Du như trảm xuân phong.

Dịch:

Đem đầu kề gươm bén

Dường như chém gió xuân.

Chúng ta thấy người xưa đạt đạo đến như thế, đó

là người tự tại khi sanh tử. Còn chúng ta vì thấy tất cả đều thật

nên nghe động đến tứ đại này thì tâm rối loạn, không bao giờ an ổn

được. Vì thế nếu không dùng trí hằng quán, hằng thấy như lời Phật

dạy thì không thể nào không chấp tướng, không thể nào như như bất

động được. Quí vị thấy Phật dạy có hệ thống rõ ràng, muốn được như

như thì trước phải đừng chấp tướng, còn chấp tướng thì đừng nói như

như. Bài kệ trên dạy ta phải dùng trí hằng thấy, hằng quán tất cả

pháp hữu vi, từ thân đến cảnh, những gì có hình tướng, có tác động,

đều là vô thường sanh diệt nên như huyễn, như hóa, như bào, như ảnh…

Phật nói kinh này rồi trưởng lão Tu-bồ-đề và các

Tỳ-kheo v.v… đều hoan hỉ, tín thọ phụng hành. Vậy quí vị có hoan hỉ,

tín thọ phụng hành không? Hoan hỉ thì có thể có, còn tín thọ phụng

hành thì xem ra có vẻ khó phải không?

(1) Tổ Sư Tử là

vị Tổ thứ 24 ở Ấn Độ.

TÓM TẮT

Tôi tóm tắt lại xem bộ kinh Kim Cang dạy chúng ta

những gì? Toàn bộ kinh Kim Cang chia làm ba mươi hai phần, trong ba

mươi hai phần này, chủ yếu có hai điểm chánh, điểm thứ nhất là ngài

Tu-bồ-đề hỏi làm sao hàng phục tâm, điểm thứ hai là hỏi làm sao an

trụ tâm. Khi ngài Tu-bồ-đề hỏi hàng phục tâm, an trụ tâm là hỏi cho

ai? – Cho người cầu quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Có người

thiện nam, thiện nữ phát tâm tu hành, cầu giác ngộ làm sao hàng phục

tâm, làm sao an trụ tâm? Hàng phục tâm, an trụ tâm là hai điểm chủ

yếu của bộ kinh. Đức Phật dạy như thế nào? Lý đáng thì câu hỏi đầu

là an trụ tâm, câu hỏi kế là hàng phục tâm, nhưng khi trả lời, Phật

dạy hàng phục tâm trước rồi an trụ tâm sau. Đức Phật dạy: Muốn hàng

phục tâm thì phải phát tâm độ tất cả chúng sanh, thai sanh, thấp

sanh v.v… vào Vô dư y Niết-bàn mà thật không có chúng sanh được diệt

độ. Nói tóm lại muốn hàng phục được tâm thì phải độ tất cả những

niệm tưởng về có sắc, niệm tưởng về không sắc, về có tưởng, về không

tưởng v.v… vào chỗ vô sanh, đưa chúng vào chỗ vô sanh không còn tăm

dạng. Muốn an trụ tâm phải làm sao? Đức Phật dạy: Muốn tâm an trụ

thì đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp tức là đối với sáu trần

Bồ-tát bố thí không nên trụ sắc sanh tâm, không nên

trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ

tâm, tức là không để

cho tâm kẹt vào sáu trần. Tâm không dính với sáu trần thì đó là trụ

tâm. Như thế sáu trần là cái cớ để tâm mình động, nghĩa là mắt thấy

sắc, tâm chạy theo sắc, là tâm động. Trái lại mắt thấy sắc mà tâm

không chạy theo sắc, là tâm trụ, tai nghe tiếng mà tâm không chạy

theo tiếng, là tâm trụ, trụ mà không trụ, trụ chỗ không trụ. Còn

thấy sắc mà chạy theo sắc là không phải trụ, trụ nơi sắc tức là kẹt

nơi sắc thì tâm mình động chớ không phải trụ, không trụ nơi sắc thì

tâm mới thật an trụ.

Như thế muốn trụ tâm, thì đừng dính với sáu trần,

muốn hàng phục tâm thì buông xả mọi vọng tưởng. Vọng tưởng hết, đó

là hàng phục được tâm, không theo sáu trần, đó là an trụ tâm. Tuy

nói hai mà dường như không phải hai, vì an trụ tức là hàng phục,

hàng phục tức là an trụ, nhưng tại sao lại nói thành hai? Hàng phục

với an trụ, quí vị thấy cái nào sâu hơn? Nếu chữ hàng phục có công

năng là phải dùng sức để đàn áp thì chữ trụ là chỉ buông xả rồi

thôi. Thế nên hàng phục là giai đoạn đầu, giai đoạn sơ cơ, khi tâm

còn chạy theo cảnh, theo người tức là theo sáu trần một cách mạnh

mẽ. Nếu mình không có phương tiện, không khéo dùng sức mạnh để trị

nó thì dừng không được. Vì thế mỗi một niệm tưởng nào dấy lên thì

trong giai đoạn đầu mình phải nhìn, phải phá nó bằng mọi phương

tiện, hoặc biết nó là vọng rầy la nó, hoặc thấy nó giả dối buông bỏ

nó, đó gọi là hàng phục. Vì lúc đó tâm còn hung hăng, cho nên phải

tận dụng khả năng đập đánh nó, nó mới dừng. Còn nói đến an trụ là

đối với sáu trần không dính mắc, thấy sắc mà không theo sắc, đó là

lúc tâm hơi thuần rồi, nghe tiếng mà không theo tiếng, đó là thuần

rồi. Thế nên giai đoạn an trụ là giai đoạn thứ hai khi nó thuần

thục. Vì thế Phật trả lời từ hàng phục đến an trụ, vì giai đoạn hàng

phục là giai đoạn dụng công nhiều, còn giai đoạn an trụ là thấy nghe

đều buông nên nhẹ nhàng hơn. Tỉ dụ như chúng ta vừa thấy cảnh, tâm

liền duyên theo cảnh tức thì mình phải nói đây là vọng, là giả dối,

theo cái vọng này là sai, dụng công la rầy, quở phạt nó, đó là hàng

phục, còn an trụ thì chỉ là buông xả. Thế là hai giai đoạn khác nhau

rõ ràng, từ hàng phục chúng ta đi đến chỗ an trụ, một bên dụng công

mạnh, một bên dụng công nhẹ, nhẹ là vì nó hơi thuần rồi. Cả hai phần

này đều nhắm vào nội tâm.

Tuy nhiên nếu chỉ có hai phần trên thì quyển kinh

Kim Cang chưa ứng dụng được, cần phải có phần thứ ba, tức là phải

dùng Trí tuệ Bát-nhã thấy tất cả pháp là tướng duyên hợp không có Tự

tánh, chỉ có giả danh. Bởi chỉ có giả danh nên không một pháp nào

thật, do đó không chấp vào pháp và không chấp pháp thì mới có thể

hàng phục, an trụ được tâm. Thế nên điều thứ ba là phải dùng trí tuệ

thấy tất cả pháp không thật, chỉ có giả danh. Thế giới không phải

thế giới, ấy gọi là thế giới, chúng sanh không phải chúng sanh, ấy

gọi là chúng sanh… Phật lặp đi lặp lại ý nghĩa đó để chúng ta hằng

dùng Trí tuệ Bát-nhã quán chiếu tất cả pháp là hư giả, rồi sau đó

mới hàng phục được tâm, mới an trụ được tâm. Như thế phần thứ ba

dường như là sau mà lại ở trước. Bài kệ cuối cùng đức Phật dạy:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như lộ diệc như điện,

Ưng tác như thị quán.

Phật bảo phải thấy, phải khởi quán như vậy thì

mới hàng phục, mới an trụ được tâm, còn nếu không thấy như thế thì

không thể nào làm được hai việc trên. Vì vậy phần này ở sau mà thành

ra trước, bởi vì đức Phật phải trả lời hai câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề

trước, rồi Ngài mới chỉ cách tu dùng lối quán chiếu để việc hàng

phục được dễ, việc an trụ thực hiện được. Nếu thiếu phần quán chiếu

không thể nào hàng phục tâm và cũng không thể nào an trụ tâm. Vì thế

học Bát-nhã chúng ta phải dùng trí tuệ quán chiếu các pháp do duyên

hợp, không có Thật thể, chỉ có giả danh. Đó là triết lý “Tánh không

duy danh”, Thể tánh các pháp là không thật, chỉ có giả danh, vì giả

danh nên nó không phải thật có, cũng không phải thật không; không

kẹt hai bên, đó là tinh thần Trung đạo của đạo Phật. Trái lại nếu

kẹt một bên nào hoặc có, hoặc không đều là chưa giải thoát. Như vậy

Kim Cang là Trung đạo, chớ không phải chấp không. Hiểu lý Kim Cang

là hiểu lý Trung đạo, không kẹt vào có và không. Thế nên đúng ra

chúng ta tu thì trước phải dùng trí tuệ thấy các pháp Tự tánh là

không, duyên hợp giả có, kế đó mới hàng phục tâm rồi sau mới an trụ

tâm. Thứ tự là như thế, nếu chúng ta không ứng dụng thì không thế

nào có kết quả. Nhiều khi học một bộ kinh rồi muốn ứng dụng tu, ta

không biết ứng dụng thế nào, không biết chỗ nào là then chốt của sự

tu hành. Nay chúng ta phải thấy rõ đầu tiên là ta dùng bốn câu kệ

cuối: Quán tất cả pháp hữu vi như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ, như

điện, hằng quán như thế là chúng ta đã có Trí tuệ Bát-nhã rồi mới

không chấp tướng. Không chấp tướng rồi mới hàng phục tâm, hàng phục

tâm rồi mới an trụ tâm, như thế mới như như bất động và như như bất

động là thọ trì kinh Kim Cang, là đọc tụng kinh Kim Cang, là diễn

nói kinh Kim Cang. Được như vậy thì phước đức như thế nào? Ở đây tôi

nói phước đức sau cùng phải không?

Tôi nhắc lại đứng về không gian, người đem của

báu bằng tam thiên đại thiên thế giới bố thí cũng không bằng trì bốn

câu kinh Kim Cang. Đứng về thời gian, dù đem của báu bằng quả địa

cầu bố thí trong muôn ngàn kiếp cũng không bằng trì bốn câu kinh Kim

Cang. Ngay nơi thân mạng, giả sử buổi sáng đem số thân bằng số cát

sông Hằng, buổi trưa đem số thân bằng số cát sông Hằng, buổi chiều

đem số thân bằng số cát sông Hằng bố thí cũng không bằng trì bốn câu

kinh Kim Cang. Nói tóm lại là bố thí nội tài, ngoại tài, dù bao

nhiêu đi nữa cũng không bằng ứng dụng trì kinh Kim Cang. Như thế là

đức Phật so sánh tất cả pháp hữu vi không bì được với pháp vô vi bất

sanh bất diệt. Không thủ tướng như như bất động, đó là vô vi, còn

chấp tướng là hữu vi. Do đó, quí vị thấy từ giai đoạn thứ nhất là

hàng phục tâm đến giai đoạn thứ hai là an trụ tâm, giai đoạn thứ ba

là quán các pháp huyễn hóa, giai đoạn thứ tư là so sánh công đức trì

kinh. Giờ đây chúng ta đổi lại, đầu tiên là phải quán tất cả pháp

hữu vi là hư giả huyễn hóa, kế đến mới hàng phục tâm, kế là an trụ

tâm và sau hết mới nói đến công đức vô lượng vô biên, sánh với tất

cả công đức hữu vi không công đức nào bì kịp. Đó là trọn vẹn tinh

thần quyển kinh Kim Cang. Bốn điều này nếu quí vị nhớ ứng dụng tu

được mới biết khả năng, diệu dụng, kết quả sau khi mình tu như thế

nào.

Tóm lại người ứng dụng thọ trì bốn câu kinh Kim

Cang là chẳng chấp tướng, như như bất động, hay vì người diễn nói

cũng đều là chẳng chấp tướng, như như bất động. Đó là chỗ then chốt.

Như như bất động là gì? Tức là Như Lai. Thế nên nói

chư pháp như nghĩa

hay Như Lai giả vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ.

Như như bất động nên mới không từ đâu đến và không đi

đâu, chư pháp như nghĩa, đó là như. Quí vị thấy có hệ thống rõ ràng,

chúng ta tu bắt đầu từ quán chiếu các tướng duyên hợp hư huyễn chỉ

có giả danh rồi dần dần hàng phục tâm, rồi an trụ được tâm, kết quả

là Như Lai, không còn nghi ngờ gì cả. Như Lai tức là Phật. Bao nhiêu

đó đủ tu thành Phật chớ không còn gì khác, thủy chung rõ ràng như

vậy. Nếu hiểu như thế thì việc ứng dụng tu có đầu đuôi, gốc ngọn;

nếu biết ứng dụng để tu thì đó là xứng đáng học kinh Kim Cang, tu

theo kinh Kim Cang và gọi là thọ trì đọc tụng kinh Kim Cang, chớ

đừng có nhớ bốn câu kệ rồi nói bốn câu kệ dễ thuộc quá. Đi đâu cũng

lẩm nhẩm nhất thiết

hữu vi pháp, như mộng, huyễn, bào, ảnh, như lộ diệc như điện, ưng

tác như thị quán và

nói tôi trì kinh Kim Cang, hoặc đi đâu cũng đọc

nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành

tà đạo, bất năng kiến Như Lai,

hoặc đọc câu

phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi

tướng tức kiến Như Lai,

rồi nói đó là tôi trì kinh Kim Cang. Nếu cứ đọc như thế mãi, đó

là động chớ chưa phải “Như”, mà động thì chưa phải là chỗ “Như như

bất động” như Phật nói ở đây. Đã thế còn tính phẩm nữa thì là thủ

tướng, mà thủ tướng cũng không phải như như. Như vậy quí vị đã hiểu

rõ trì kinh Kim Cang là như thế nào rồi phải không?

—o0o—

Nguồn: www.thuong-chieu.org

Trình bày: Nhị Tường

Cập nhật: 3-2007

Nguồn: www.quangduc.com

Về danh mục

æ³

부천금융센터 신한은행

三牧裕華

타르코프 게임이 팅김

莫洛大公已经伏诛

照一隅

腾迅会议

人生是 旅程 風景

森川彩香 フェチ

英語 表示順

公園 メーカー

thân

РюнÑ

村上市お墓

金泰琳啦啦隊年紀

메랜챈

ホイール塗装 松山市

äº

전기차 구별

ĺ

뉴작다수디시

外踝

寺田桜子

赵繁体

田加王

tá di

特定技能 支援委託契約書

不在着信

今日有学

錬金王

蛋殼

гӮ гӮ гғ гғҲгғіжІ зё

藍力

義交

рикна

メール 送信取り消し

메랜 디시

åŠ æ¼

헬븐 디시

瑞州三峰院的平和尚 唐代 臨濟

株式会社ヨシダホールディングス

謝震武

하겐다즈배탈디시

個人使用とは

二年级阅读故事

теоретические основы

ประเพณ แห นางแมว

对着美女撸鸡巴

아키히토 일왕

台灣男性平均握力

양주 타먹는

CHÙA ONLINE

Chùa Trực Tuyến

Phòng Cầu Siêu

Phòng Hộ Niệm – Cầu An

Phòng Lễ Giỗ Ông Bà

AUDIO PHẬT HỌC

Audio Truyện Phật Giáo

Audio Kinh điển đại thừa

Audio Đại tạng kinh (Nikaya)

Audio Kinh Tụng

Audio Luận tạng

Audio Luật tạng

Phật pháp cho người bắt đầu

Audio Thiền học

Audio Tịnh độ

Audio Triết học phật giáo

Âm nhạc phật giáo

Các bài Thuyết Pháp

Thầy Thích Thông Lai

Cư sĩ – Diệu Âm (Australia)

Pháp Sư Ngộ Thông

Pháp Sư Tịnh Không

Upload nhạc Phật Giáo

Thư viện media tổng hợp

TỦ SÁCH PHẬT HỌC

Bồ Tát Hạnh

Kinh Điển

Lịch sử Phật Giáo

Nghi Lễ

Danh Nhân Thế Giới

Phật Học

Đức Phật

Luận Giải

Giới Luật

Thiền Nguyên Thủy

Tổ Sư Thiền

Mật Tông

Triết Học Phật Giáo

VĂN HÓA & ĐỜI SỐNG

Truyện Phật Giáo

Chết & Tái sinh

Nghệ thuật sống đẹp

Thơ

Thiệp điện tử

Hình ảnh Phật Giáo

Ăn chay

Hướng dẫn nấu chay

Tài liệu chữa bệnh

CHÙA ONLINE

Chùa Trực Tuyến

Phòng Cầu Siêu

Phòng Hộ Niệm – Cầu An

Phòng Lễ Giỗ Ông Bà

Chùa Trực Tuyến

Phòng Cầu Siêu

Phòng Hộ Niệm – Cầu An

Phòng Lễ Giỗ Ông Bà

AUDIO PHẬT HỌC

Audio Truyện Phật Giáo

Audio Kinh điển đại thừa

Audio Đại tạng kinh (Nikaya)

Audio Kinh Tụng

Audio Luận tạng

Audio Luật tạng

Phật pháp cho người bắt đầu

Audio Thiền học

Audio Tịnh độ

Audio Triết học phật giáo

Âm nhạc phật giáo

Các bài Thuyết Pháp

Thầy Thích Thông Lai

Cư sĩ – Diệu Âm (Australia)

Pháp Sư Ngộ Thông

Pháp Sư Tịnh Không

Upload nhạc Phật Giáo

Thư viện media tổng hợp

Audio Truyện Phật Giáo

Audio Kinh điển đại thừa

Audio Đại tạng kinh (Nikaya)

Audio Kinh Tụng

Audio Luận tạng

Audio Luật tạng

Phật pháp cho người bắt đầu

Audio Thiền học

Audio Tịnh độ

Audio Triết học phật giáo

Âm nhạc phật giáo

Các bài Thuyết Pháp

Thầy Thích Thông Lai

Cư sĩ – Diệu Âm (Australia)

Pháp Sư Ngộ Thông

Pháp Sư Tịnh Không

Upload nhạc Phật Giáo

Thư viện media tổng hợp

TỦ SÁCH PHẬT HỌC

Bồ Tát Hạnh

Kinh Điển

Lịch sử Phật Giáo

Nghi Lễ

Danh Nhân Thế Giới

Phật Học

Đức Phật

Luận Giải

Giới Luật

Thiền Nguyên Thủy

Tổ Sư Thiền

Mật Tông

Triết Học Phật Giáo

Bồ Tát Hạnh

Kinh Điển

Lịch sử Phật Giáo

Nghi Lễ

Danh Nhân Thế Giới

Phật Học

Đức Phật

Luận Giải

Giới Luật

Thiền Nguyên Thủy

Tổ Sư Thiền

Mật Tông

Triết Học Phật Giáo

VĂN HÓA & ĐỜI SỐNG

Truyện Phật Giáo

Chết & Tái sinh

Nghệ thuật sống đẹp

Thơ

Thiệp điện tử

Hình ảnh Phật Giáo

Ăn chay

Hướng dẫn nấu chay

Tài liệu chữa bệnh

Truyện Phật Giáo

Chết & Tái sinh

Nghệ thuật sống đẹp

Thơ

Thiệp điện tử

Hình ảnh Phật Giáo

Ăn chay

Hướng dẫn nấu chay

Tài liệu chữa bệnh

Mở trong trình đọc kinh