KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 19/34
17. CỨU KÍNH VÔ NGÃ PHẦN
ÂM:
CỨU KÍNH VÔ NGÃ
Nhĩ thời Tu-bồ-đề
bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Thiện nam
tử, thiện nữ nhân phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, vân hà
ưng trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm?
Phật cáo Tu-bồ-đề:
– Thiện nam tử,
thiện nữ nhân phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm giả, đương
sanh như thị tâm, ngã ưng diệt độ nhất thiết chúng sanh, diệt độ
nhất thiết chúng sanh dĩ nhi vô hữu nhất chúng sanh thật diệt độ
giả. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng,
chúng sanh tướng, thọ giả tướng, tức phi Bồ-tát. Sở dĩ giả hà?
Tu-bồ-đề! Thật vô hữu pháp phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm
giả.
Tu-bồ-đề! Ư ý vân
hà? Như Lai ư Nhiên Đăng Phật sở, hữu pháp đắc A-nậu-đa-la tam-miệu
tam-bồ-đề phủ?
– Phất dã Thế Tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết
nghĩa, Phật ư Nhiên Đăng Phật sở, vô hữu pháp đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề.
Phật ngôn:
– Như thị, như thị! Tu-bồ-đề, thật vô hữu pháp
Như Lai đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Nhược hữu pháp
Như Lai đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề giả, Nhiên Đăng Phật tắc
bất dữ ngã thọ ký: Nhữ ư lai thế đương đắc tác Phật, hiệu Thích-ca
Mâu-ni. Dĩ thật vô hữu pháp đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, thị
cố Nhiên Đăng Phật dữ ngã thọ ký, tác thị ngôn: Nhữ ư lai thế, đương
đắc tác Phật, hiệu Thích-ca Mâu-ni. Hà dĩ cố? Như Lai giả, tức chư
pháp như nghĩa. Nhược hữu nhân ngôn: Như Lai đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Thật vô hữu pháp Phật đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề. Tu-bồ-đề! Như Lai sở đắc A-nậu-đa-la tam-miệu
tam-bồ-đề, ư thị trung, vô thật vô hư, thị cố Như Lai thuyết: Nhất
thiết pháp giai thị Phật pháp. Tu-bồ-đề! Sở ngôn nhất thiết pháp giả
tức phi nhất thiết pháp, thị cố danh nhất thiết pháp. Tu-bồ-đề! Thí
như nhân thân trường đại.
Tu-bồ-đề ngôn:
– Thế Tôn! Như Lai thuyết nhân thân trường đại
tắc vi phi đại thân, thị danh đại thân.
–
Tu-bồ-đề! Bồ-tát diệc như thị. Nhược tác thị ngôn: Ngã đương diệt độ
vô lượng chúng sanh, tức bất danh Bồ-tát. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Thật
vô hữu pháp danh vi Bồ-tát, thị cố Phật thuyết nhất thiết pháp vô
ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả.
Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát tác thị ngôn: Ngã đương trang nghiêm Phật độ,
thị bất danh Bồ-tát. Hà dĩ cố? Như Lai thuyết trang nghiêm Phật độ
giả, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm.
Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát thông đạt vô ngã pháp giả, Như Lai thuyết
danh chân thị Bồ-tát.
DỊCH:
TỘT CÙNG KHÔNG CÓ NGÃ
Khi ấy ngài Tu-bồ-đề bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn! Người thiện nam, người
thiện nữ phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao an trụ,
làm sao hàng phục tâm kia?
Phật bảo Tu-bồ-đề:
– Người thiện nam, người thiện nữ phát tâm
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nên sanh tâm như thế này: Ta nên
diệt độ tất cả chúng sanh, diệt độ tất cả chúng sanh rồi mà không có
một chúng sanh thật diệt độ. Vì cớ sao? Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn
tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả ắt không phải
là Bồ-tát. Vì cớ sao? Tu-bồ-đề, thật không có pháp phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Như Lai ở nơi
Phật Nhiên Đăng có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng?
– Bạch Thế Tôn, không vậy! Như chỗ hiểu của
con qua nghĩa Phật nói, Phật ở nơi Phật Nhiên Đăng không có pháp
được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Phật bảo:
– Như thế, như thế! Tu-bồ-đề, thật không có
pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề! Nếu
có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thì đức Phật
Nhiên Đăng ắt không thọ ký cho ta: Ở đời sau, ông sẽ được thành Phật
hiệu là Thích-ca Mâu-ni. Do thật không có pháp được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác, thế nên đức Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta, nói
thế này: Ở đời sau, ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni.
Vì cớ sao? Như Lai tức là nghĩa Như của các pháp. Nếu có người nói
Như Lai được pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, này Tu-bồ-đề,
thật không có pháp Phật được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này
Tu-bồ-đề! Như Lai được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, ở trong ấy
không thật, không hư. Thế nên Như Lai nói tất cả pháp đều là Phật
pháp. Này Tu-bồ-đề! Nói tất cả pháp đó tức không phải tất cả pháp,
nên gọi là tất cả pháp. Này Tu-bồ-đề, thí như có người thân cao lớn.
Ngài Tu-bồ-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn! Như Lai nói thân người cao
lớn ắt không phải thân lớn, ấy gọi là thân lớn.
– Này Tu-bồ-đề! Bồ-tát cũng như thế, nếu
nói lời thế này: ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh, ắt không gọi là
Bồ-tát. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! Thật không có pháp tên là Bồ-tát.
Thế nên Phật nói: tất cả pháp không ngã, không nhân, không chúng
sanh, không thọ giả.
Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát nói lời thế này:
ta sẽ trang nghiêm cõi Phật, ấy chẳng gọi là Bồ-tát. Vì cớ sao? Như
Lai nói trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm, ấy gọi là
trang nghiêm.
Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát thông đạt pháp vô
ngã, Như Lai gọi đó là chân thật Bồ-tát.
GIẢNG:
Chúng tôi đã nói với quí vị rằng: Kinh Kim Cang
chủ yếu là trả lời hai câu hỏi:
Làm sao an trụ tâm, làm sao hàng phục tâm, nhưng
câu hỏi đó phải đi đôi với câu trước là
người phát tâm cầu thành Phật chớ không phải người
thường. Người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức phát tâm
cầu thành Phật, làm sao trụ tâm, làm sao hàng phục tâm? Câu hỏi đó ở
trước Phật trả lời rồi, vậy tại sao ở đây ngài Tu-bồ-đề lại hỏi nữa?
Bởi vì hai câu hỏi này là tối hệ trọng trên đường tu hành, nếu chúng
ta nghe lướt qua, không chăm chỉ để hết tâm trí vào đó thì khó mà
lãnh hội nổi, cho nên Ngài nhắc lại một lần nữa để Phật giải. Do đó
tôi gọi là điệp khúc. Đó là vì Ngài muốn chúng ta thấy rõ ý Phật dạy
cách hàng phục tâm, cách an trụ tâm.
Đức Phật trả lời:
Nếu người thiện nam, thiện nữ phát tâm cầu thành Phật nên
sanh tâm như thế này: Ta nên diệt độ tất cả chúng sanh, nhưng độ tất
cả chúng sanh rồi mà không có một chúng sanh nào được diệt độ.
Độ là qua, diệt là mất, tức là đưa tất cả chúng sanh qua chỗ
tịch diệt qua mất hết. Tôi đã từng nói với quí vị: Mỗi niệm là một
chúng sanh, đưa nó đến chỗ vô sanh, đưa nó qua đó rồi nhìn lại không
còn chúng sanh nào hết, mà không còn một chúng sanh nào, như vậy lúc
đó có còn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả không? Quí vị nhớ
chúng ta còn thấy ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả là do niệm sanh
phải không? Do niệm khởi mới chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
Nếu niệm không khởi thì lấy gì chấp? Thế nên nói độ qua hết rồi thì
không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Sở
dĩ hiện tại ai nói đến tên chúng ta liền nổi giận là vì vừa nghe
nói, niệm liền khởi phân biệt nên mới giận, nếu nghe nói mà niệm
không khởi thì đâu có giận. Nếu dấy niệm thì chấp ngã cho nên sân,
không dấy niệm thì không chấp ngã cho nên không sân. Không chấp ngã
thì không chấp nhân do đó tham sân si đâu còn. Như vậy chúng ta thấy
rõ độ tất cả niệm đến chỗ vô sanh rồi bốn tướng cũng theo đó hết.
Trái lại còn có niệm sanh thì còn bốn tướng. Thế nên muốn hàng phục
tâm mình đến chỗ an trụ viên mãn thì phải độ tất cả chúng sanh. Tại
sao ở đây đức Phật chỉ trả lời câu hàng phục tâm chớ không nói an
trụ tâm? Bởi vì hàng phục rồi là an trụ. Ở đoạn trước Phật dạy an
trụ riêng, hàng phục riêng, nhưng ở đây kết thúc lại thì hàng phục
là an trụ. Quí vị thử hàng phục tâm mình đi. Nếu mình độ hết tất cả
chúng sanh rồi thì có an trụ không? Đó là an trụ rồi, vì vậy không
cần nói đến an trụ nữa. Nói độ tất cả chúng sanh mà không thấy có
chúng sanh thật diệt độ. Do đó Phật bảo:
Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân,
tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì không phải là Bồ-tát. Người
không còn bốn tướng là người gì? Như vậy quí vị lo gì mình không làm
Bồ-tát được. Nếu mình đừng dấy niệm, đừng khởi chấp ngã, lúc đó dù
mình không tự xưng là Bồ-tát, không mang nhãn hiệu Bồ-tát nhưng vẫn
là Bồ-tát. Trái lại dù mang nhãn hiệu Bồ-tát A, Bồ-tát B v.v… mà
niệm khởi liền liền thì có phải là Bồ-tát chưa? Như vậy chúng ta
thấy rõ Bồ-tát là người tâm không còn chấp, không còn kẹt. Hiểu như
thế mới thấy được ý nghĩa của sự tu hành là phải đi đến chỗ độ hết
chúng sanh, độ hết chúng sanh rồi là hàng phục, hàng phục rồi liền
an trụ. Như thế mới thật là Bồ-tát.
Tiếp theo Phật liền đặt câu hỏi:
Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, thật không có pháp phát tâm Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thường thường khi tu, chúng ta
thích lựa pháp cao để tu cốt mau thành Phật. Tuy nhiên khi phát tâm
cầu thành Phật thì pháp để chúng ta ứng dụng tu là thật hay không
thật? Nếu thấy pháp đó thật thì tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng
sanh, tướng thọ giả còn hay không? Như muốn qua sông, tôi nhờ chiếc
đò đưa qua sông rồi, tôi thấy chiếc đò là thật thì thế nào? Đò thật
thì tôi cũng thật, người chèo đò cũng thật. Tất cả đều thật! Thế nên
qua sông rồi, thấy đò không còn quan trọng nữa mới bỏ đò được. Như
vậy còn có pháp thì còn có ngã, còn có ngã thì còn có pháp, hai cái
đó hỗ tương. Đoạn trước Phật phá chấp ngã, ở đây Phật phá thêm chấp
pháp. Đây không phải pháp thường, pháp này là pháp Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác mà còn không thấy là thật, thì tất cả pháp thế gian
có pháp nào thật đâu! Khi chúng ta đưa ra một ý kiến, đó là pháp,
nhưng nếu điều mình nói mà người ta không theo thì sao? Chúng ta
giận phải không? Cái đó là phi pháp thì tại sao chúng ta giận?
Pháp còn nên xả, hà huống phi pháp,
nên nhớ câu đó. Nếu không chấp pháp thì không còn buồn
phiền. Trái lại nếu nói việc này là thật là phải mà người ta không
chịu nghe thì sao? Bởi chấp nó phải nên biến thành sân si, mà biến
thành sân si thì còn phải nữa không? Chúng ta chấp việc phải là chấp
pháp phải, chấp pháp phải rồi thì ngã nổi lên, ngã nổi lên tức si mê
dấy khởi. Thế nên người tu đến cả pháp cũng không chấp nữa.
Đến đây tôi nói tế nhị hơn, như hiện nay quí Phật
tử thường nghe chúng tôi dạy tu thiền, thấy tu thiền hay liền ứng
dụng tu. Bất thần, hôm nào có người chỉ mặt nói tu thiền là điên, là
ngu si thì quí vị nghĩ sao? Lúc đó nếu chấp pháp của tôi hay thì ngã
nổi lên, tức thì muốn đàn áp, muốn gây sự với họ. Như vậy có pháp là
có ngã. Đó là chỉ nói pháp tu thiền thôi. Còn đức Phật bảo cả pháp
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác cũng không thật. Thật là cao siêu,
thâm diệu! Thế gian chúng ta quá nông nổi, những vọng tưởng là ý
nghĩ không thật mà còn chấp, nghĩ ra là muốn bắt người khác theo, ai
không theo thì giận ngay, thật là phi lý làm sao! Nếu ai gạt bỏ được
những cái phi lý đó thì lần lần sẽ bớt khổ, bớt sân si. Đó là chỗ
tu. Thế nên phải thuộc lòng câu
“pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp”. Pháp Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác còn phải bỏ, huống nữa là cái phi pháp.
Hiểu như vậy, quí vị mới sống một cách thoải mái nhẹ nhàng. Chúng ta
hiểu, chúng ta ứng dụng tu mặc người đời chê khen. Giải thoát hay
không là việc làm của mình, họ khen mình cũng không giải thoát, họ
chê mình cũng không trầm luân. Chúng ta biết rõ tu như thế là có ích
lợi cho mình thì cứ việc tu. Thí dụ như quí Phật tử hằng ngày, buổi
sáng, buổi trưa khi đói bụng thì ăn cơm, xong rồi thấy khỏe, đi làm
công tác được; đều đều bữa nào như bữa nấy, mình thấy vui vẻ nhẹ
nhàng. Bây giờ bất thần có người bảo ăn cơm là ngu si, là vô ích thì
lúc đó chúng ta cứ ăn hay là ngưng không ăn? Vô lý quá, mình không
ăn để đói sao? Thế nên những lời nói dù là lời chửi mắng, chê bai,
mình nghe làm gì, nổi sân làm chi? Chúng ta biết rõ trăm phần đó là
lẽ thật thì ai nói gì cũng mặc, chuyện mình làm mình biết rõ rồi.
Người như vậy mới là người thật tin lẽ thật. Có nhiều người đang làm
một việc lợi ích thật, nhưng vừa nghe người khác chỉ trích liền
hoảng hốt nghi ngờ, đó là chưa có kinh nghiệm, chưa nhận lẽ thật;
chớ nếu có kinh nghiệm, nhận lẽ thật rồi thì ai nói gì cũng không
thay đổi lập trường. Trong sự tu hành cũng phải như thế. Quí vị thấy
câu “pháp còn
nên bỏ huống là phi pháp”
thật hay vô cùng, chúng ta ứng dụng thì lợi ích biết bao nhiêu.
Chúng ta nghĩ phải mà nếu ai nói không phải, chúng ta bảo làm, họ
nói không phải không làm, thì chúng ta nghĩ pháp của Phật còn phải
xả huống nữa là cái phi pháp này, do đó chúng ta không giận hờn chi
cả. Chúng ta có quyền đề nghị nhưng nghe theo hay làm theo là quyền
của người, như vậy chúng ta mới không sân hận. Nhất là quí đạo hữu
có quyền làm chủ gia đình, hay lấy quyền làm chủ bắt mọi người theo
mình, nhiều khi đề nghị sai nhưng tự ái không dám nhận lỗi. Thế nên
nếu mình cởi mở, cho mỗi người được tự do, mình đề nghị nhưng khi
thấy hợp, thấy hay thì họ làm, khi thấy không hợp, không hay thì
thôi, mình cũng cười, không hờn gì cả, như vậy là an ổn nhất trong
đời tu của mình.
Đức Phật lại hỏi tiếp:
Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai ở chỗ Phật Nhiên Đăng có
pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không?
Ngài Tu-bồ-đề phủ nhận: Bạch Thế Tôn, không. Tại sao Ngài
dám phủ nhận? Chúng ta thấy Ngài nói thật là dè dặt:
Như chỗ hiểu của con qua lời Phật nói, Phật ở chỗ Phật
Nhiên Đăng không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Bởi vì Ngài chưa thành Phật, Ngài chưa xả được, nhưng
hiện giờ Ngài hiểu qua lời Phật dạy. Người xưa thật kỹ lưỡng, còn
chúng ta bây giờ vừa hiểu một chút là nói bướng, xưng là ta nói, ta
hiểu. Phật khen: Đúng
như vậy, đúng như vậy, này Tu-bồ-đề, thật không có pháp Như Lai được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Nếu thấy có pháp để được thì còn ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả. Phật giải nghĩa thêm:
Này Tu-bồ-đề, nếu có pháp Như Lai được Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác thì đức Phật Nhiên Đăng ắt không thọ ký cho ta: Ở
đời sau ông sẽ được thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni.
Nếu ta còn thấy có pháp để được thì Phật Nhiên Đăng không
bao giờ thọ ký cho ta thành Phật.
Do thật không có pháp được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
nên đức Phật Nhiên Đăng mới thọ ký cho ta.
Bởi Phật không thấy có pháp được nên Ngài được thành Phật,
trái lại nếu thấy có một pháp được là không được thành Phật. Cũng
thế, tất cả chúng ta tu mà còn thấy thân này thật, cảnh thật, pháp
thật, thì không giác ngộ. Trái lại nếu chúng ta thấy nó giả, tạm có
trong một thời gian ngắn chừng vài mươi năm không đáng kể, thì chúng
ta trở về sống với cái thật. Đó là chúng ta tỉnh, chúng ta giác, do
tỉnh giác tương lai sẽ được Phật thọ ký. Như trong đoạn trước Phật
bảo người trì kinh này, do tội đời trước, đáng lẽ bị đọa địa ngục,
nhưng chỉ bị mắng chê thôi và sau này sẽ thành Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác. Đó là đúng lời Phật nói chớ tôi đâu dám ức thuyết. Phật
nói rõ ràng như vậy, nghĩa là người nào biết rõ thân này, cảnh này
là hư giả, do duyên hợp tạm có một lúc rồi hoại, trong cái tướng hư
giả đó có cái chân thật đang bày hiện nơi sáu căn của chúng ta, nếu
chúng ta sống được với nó thì tất cả cái hư giả đều vô nghĩa. Nếu
không còn chấp thân, chấp cảnh, chấp pháp thì lúc đó sẽ được Như Lai
ắt thấy chúng ta, ắt biết chúng ta tương lai sẽ thành Phật không
nghi. Như thế làm người giác có khó không? Tôi thấy không khó chút
nào, chỉ cần vận dụng trí nhìn cho đúng, thấy cho đúng thôi. Tỉnh
rồi thì giác. Vậy tại sao không dùng trí mà cứ dùng tình thương
ghét, buồn, giận rồi cả ngày nó cứ dẫn mình chạy loanh quanh không
dừng. Thương ai, vắng mặt thì trông, thì tìm; ghét ai, gặp mặt thì
tức, thì tránh. Chúng ta sống với cái biết
tất cả là giả, mang cái giả chạy tìm cái giả làm chi cho
cực. Biết thế rồi cả ngày sống an lành tự tại, lúc nào cũng cười, vì
tất cả đều giả thì có gì quan trọng mà giận, mà buồn!
Tuy không quan trọng nhưng vẫn phải làm, đó là
chủ trương của Bồ-tát. Như Ngũ minh và Tứ nhiếp pháp là những phương
tiện để Bồ-tát giáo hóa chúng sanh. Biết rằng thân giả, cảnh giả
nhưng khi mê người ta thấy nó thật. Họ đang đói phải cho họ cơm ăn
cho đỡ đói rồi mới giảng đạo lý, lúc tỉnh rồi họ mới nghe. Vì vậy mà
Bồ-tát biết thân cảnh như huyễn, nhưng vẫn phải làm giúp người no ấm
rồi mới giảng đạo lý cho họ nghe. Quí vị phải hiểu cho rõ, nếu không
hiểu thì học Đại thừa trở thành Tiểu thừa tiêu cực. Tại sao? Bởi vì
nghe cái gì cũng giả thì chúng ta muốn ngồi không cho rồi, làm chi
nữa vô ích. Như vậy trở thành tiêu cực yếm thế. Chỉ có mình biết nó
giả chớ mọi người chưa biết, muốn cho người biết, mình phải có nghề
nghiệp cho khéo (công xảo minh) để dạy người ta làm, trong khi làm
mới nói chuyện đạo lý cho họ nghe, lần lần người ta thấm, đó là hạnh
Bồ-tát. Quí vị phải hiểu như vậy mới đúng tinh thần kinh Kim Cang,
đừng hiểu khác rồi trở thành tiêu cực yếm thế, trái đạo Đại thừa. Đó
là chỗ thực tế của Phật pháp. Tóm lại đức Phật chỉ rõ nếu ở chỗ Phật
Nhiên Đăng, Ngài còn thấy có pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
thì Phật Nhiên Đăng không thọ ký cho Ngài, bởi Ngài không thấy có
pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nên mới được Phật Nhiên Đăng
thọ ký cho sau này thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni.
Ngài nói thêm:
Vì cớ sao? Như Lai tức là nghĩa như của các pháp.
Học kinh Kim Cang là quí vị thâm nhập được nghĩa Như Lai.
Kinh Kim Cang giải thích nghĩa Như Lai quá rõ. Nếu có người hỏi thế
nào là Như Lai, quí vị dùng kinh Kim Cang mà đáp:
Như Lai giả vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai,
hoặc Như
Lai giả tức chư pháp như nghĩa. Như Lai là gì? Như Lai là nghĩa
như của các pháp. Nghĩa như các pháp là thế nào? Các pháp như đó là
Như Lai. Các pháp làm sao như được? Tỉ dụ khi chúng ta đi, lúc đi là
như như hay là động? Nếu là động, là biến đổi, là xê dịch thì đâu
phải là như, cho đến tất cả sự vật ở cõi này có cái nào như đâu, cái
nào cũng đang động, đang xê dịch, tại sao nói Như Lai là nghĩa như
của các pháp? Đúng vậy, Như Lai là nghĩa như của các pháp, bởi vì
các pháp tự nó không động, mà động là do duyên hợp và do tâm động
tịnh của mình, nên phân biệt cảnh động tịnh, như chuyện hai Sa-di
nói phướn động với gió động, còn Lục Tổ nói tâm nhân giả động. Nếu
tâm không động thì phướn còn động, gió còn động không? Tâm mình như
thì cảnh cũng như, cho nên nói Như Lai là nghĩa như của các pháp.
Khi nào đối với cảnh, tâm mình như như bất động thì đó là Như Lai
chớ không có gì lạ cả. Như thế Phật chỉ hết sức rõ. Ví dụ như nhìn
tất cả quí vị tôi thấy rõ hết, nhưng tôi không dấy một niệm phân
biệt để thương người này, ghét người kia. Tâm không dấy niệm thương
ghét, đó là tâm Phật bình đẳng, đó là như, do tâm như nên cảnh cũng
như. Đối với tất cả pháp ở cõi này cũng thế, gió thổi lá cây rung
v.v… nhưng tâm mình như thì không dấy niệm phân biệt động tịnh. Phân
biệt động tịnh thì các pháp động tịnh; không dấy niệm thì các pháp
tự như đó là nghĩa Như Lai. Như vậy chúng ta thấy có cái nhất quán
từ trước đến giờ. Phật dạy độ tất cả chúng sanh mà không thấy chúng
sanh được diệt độ, đó là Như Lai. Đến chỗ đó, không còn một niệm tức
tâm mình như thì đối cảnh cũng như, đó là Như Lai, đó là Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Rõ ràng lời Phật dạy thủy chung nhất quán.
Như thế trong kinh đã nói rõ, chúng ta không còn gì nghi ngờ.
Nếu có người nói Như Lai được pháp Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, này Tu-bồ-đề, thật không có pháp Phật được Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Này Tu-bồ-đề, Như Lai được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác, ở trong ấy không thật không hư.
Thật hư là đối đãi, mà chỗ Phật
thấy, chỗ Phật ngộ không còn đối đãi. Còn chúng ta thấy có được, có
mất là đối đãi, có thật, có hư là đối đãi. Thế nên chỗ Phật thành
Phật, chỗ đó không còn đối đãi, đó mới là Phật, còn thấy đối đãi thì
chưa phải là Phật. Thấy được tức là đối với mất, thấy hư là đối với
thật. Như thế chỗ Phật đạt là chỗ không thật không hư.
Thế nên Như Lai nói tất cả pháp đều là Phật
pháp.
Câu đó quí vị thấy thật là cao siêu và lý
thú làm sao! Chỉ một câu này là một bài giảng rồi. Tại sao? Bởi vì
nếu chúng ta nhìn tất cả mọi mặt của các pháp thế gian thì pháp nào
cũng là Phật pháp. Đây tôi chỉ cho quí vị thấy, ngay trong cảnh tham
sân si nếu mình biết ứng dụng đúng tinh thần đạo đức đó thì tham sân
si là Phật pháp. Tại sao? Tỉ dụ bây giờ quí vị phát tâm tu mạnh mẽ,
khi đó có người kêu tên mình chửi, mình nổi sân lên thì đó là gì? –
Là phiền não, là phi Phật pháp. Còn nếu biết mình đang phát tâm tu
mạnh mẽ mà người này chửi mình, có lẽ họ thử mình tức họ là Bồ-tát
thử xem mình có kiên tâm chưa, nhân đó mình cảm ơn họ, mình vươn
lên, không buồn giận gì hết. Như vậy phải là Phật pháp hay không?
Tất cả việc khác cũng vậy, mọi việc đến với mình, mình cũng đều cho
là thử thách xem mình có bền vững không, có tu thật không? Những thử
thách đó, nếu vượt qua khỏi, là mình tiến lên một bước, như thế
người giúp mình tiến là người ân phải không? Việc họ làm là Phật
pháp rõ ràng, vì giúp cho mình tiến bộ. Tất cả pháp đều là Phật
pháp. Phật pháp có nghĩa là hữu ích cho chúng sanh. Tất cả ở thế
gian này quí vị thấy cái nào là vô ích cho mình, cho người hay
không? Cho đến vật mà mình chê như mấy đống rác hôi hám, nhưng cũng
có những người làm rẫy hốt về làm phân trồng rau, cho đến những thứ
của mình bỏ ra, người ta cũng dùng được nữa thì có cái gì là vô ích
đâu. Nếu biết dùng thì tất cả đều hữu ích cho chúng sanh, hữu ích
tức là Phật pháp. Đó là mình nhìn một cách phổ biến.
Bây giờ đến cái cao hơn, như người ta hay than
phiền ở thế gian có nhiều chướng ngại khó tu. Tỉ dụ người nặng về
sắc dục thì nói rằng thấy những người đẹp nên chướng ngại khó tu,
người nặng về tham của cải thấy những món vật tốt nên chướng ngại
khó tu v.v… Tôi hỏi lại: Người đẹp, vật tốt có phải là cái chướng
ngại hay không? Hay chướng ngại tại nơi lòng tham của mình? Sự thật
người, vật không chướng. Nếu thấy nó làm chướng, làm mình động tâm
thì đó là phiền não. Trái lại khi thấy người đẹp chúng ta liền dùng
trí Bát-nhã thấy đó là tứ đại duyên hợp hư giả không thật, thấy vật
tốt cũng biết đó là tứ đại duyên hợp hư giả không thật. Vừa thấy đó
trí Bát-nhã liền hiện, như thế là Phật pháp rồi! Tất cả những cái
khác cũng thế thì cái gì không phải là Phật pháp? Cao hơn nữa, là
“Chư pháp như nghĩa”. Thấy cái nào cũng
như hết thì có cái gì không phải là Phật pháp? Trong
kinh nói: Xúc mục là Bồ-đề, tức thấy cái gì cũng là Bồ-đề cả, cái gì
cũng là như thì có cái gì không phải là Phật pháp? Quí vị thử kiểm
xem thế gian có cái gì là chướng không? Không có chướng thì tại sao
mình sợ, sợ là sợ cái gì? Sợ thế gian hay sợ tâm mình? Sợ vọng tưởng
điên đảo của mình? Như vậy nếu người nào biết vọng tưởng điên đảo là
cái đáng sợ thì hàng ngày cứ trị nó chớ cần gì phải trốn thế gian.
Quí vị nghĩ đi đâu trốn thế gian được? Bất cứ nơi nào cũng nằm trong
thế gian, vô rừng cũng là thế gian, ở núi cũng là thế gian, ở chợ
cũng là thế gian… Chỉ có tâm mình an thì chỗ nào cũng là Phật pháp
cả. Vậy tại sao chúng ta không lo trị vọng tưởng mà cứ lo trốn cảnh,
trốn người v.v… Vậy thì chúng ta thấy cái nào là trọng tâm, là then
chốt để chúng ta làm. Nếu muốn tu thì ngay nơi tâm mình mà tu. Trước
hết nhắm thẳng tâm mình, làm sao trị những chú vọng tưởng thành
những người lương thiện, chúng không còn điên đảo ngược xuôi nữa,
chừng đó chúng ta mới nhẹ nhàng, rồi lần lần nó thuần thục nằm yên
như con trâu mà mình ngồi trên lưng nó thổi sáo đi tự tại, thế là
thảnh thơi lắm rồi đó. Như vậy mình phải trị mình, phải sợ mình chớ
không sợ thế gian, vì tất cả pháp trên thế gian đều là Phật pháp.
Nhất thiết pháp vô phi Phật pháp.
Vô phi Phật pháp hay giai thị Phật pháp cũng thế, cũng có
nghĩa đều là Phật pháp.
Nhất thiết pháp giai thị Phật pháp.
Phật xác nhận rõ như vậy. Đây
tôi dẫn một câu chuyện để nhiều khi quí vị nghe mà không hiểu. Như
có một lần, ngài Văn-thù bảo Thiện Tài đồng tử: Ngươi ra ngoài núi
tìm những cây cỏ thuốc đem về cho ta. Thiện Tài đồng tử bước ra
ngoài thấy cây nào cũng là cây thuốc cả, liền về thưa: Bạch Hòa
thượng sao con thấy cây nào cũng là cây thuốc cả. Ngài Văn-thù mới
bảo: Thôi ngươi ra ngoài tìm cây nào không phải cây thuốc đem về cho
ta. Thiện Tài đồng tử đi ra nhìn thấy cây nào cũng không phải cây
thuốc(1)!
Như vậy là tại sao? Đó là để nói rằng nếu chúng ta nhìn đúng,
nếu chúng ta có quan niệm đúng đắn thì các pháp đều là Phật pháp.
Trái lại nếu chúng ta có quan niệm sai lầm thì tất cả pháp đều là
phiền não. Tại sao? Vì khi nói không phải thuốc thì Thiện Tài đồng
tử đinh ninh trong tâm trí cái không phải thuốc rồi thấy cây nào
cũng không phải thuốc. Chúng ta hiện nay cũng như thế. Vì chúng ta
đang sống với vọng tưởng điên đảo nên nhìn cái nào cũng là vọng
tưởng điên đảo. Khi chúng ta dùng Trí tuệ Bát-nhã nhìn thì cái nào
cũng là Trí tuệ Bát-nhã. Như thế chúng ta thấy rằng tất cả cảnh
không phải đẹp, không phải xấu, không phải lợi, không phải hại mà
đẹp xấu lợi hại là tại tâm mình phân biệt. Nếu tâm mình không phân
biệt thì các pháp có lỗi lầm gì! Như vậy chúng ta thấy cái trọng tâm
là do tâm mình chớ đừng nói tìm pháp nào thuận lợi cho mình. Câu
“tất cả pháp đều là Phật pháp” rất chí lý. Tuy nhiên khi
nói câu này, đức Phật lại e chúng ta bám vào đó, chấp cho là thật
nên Phật mới bảo: Này
Tu-bồ-đề, nói rằng tất cả pháp đó tức không phải tất cả pháp, nên
gọi là tất cả pháp.
Như vậy khi nói tất cả pháp đều là Phật pháp là nhìn theo khía cạnh
nào? Đó là nhìn theo Trí tuệ Bát-nhã, nghĩa là thấy tất cả pháp đều
là tướng duyên hợp hư huyễn, thấy pháp nào cũng thế tức là Trí tuệ
Bát-nhã rồi. Trái lại nếu thấy tất cả pháp là thật, thì tất cả không
phải là Phật pháp. Vì vậy không phải là thật, ấy là Phật pháp, nghĩa
là thấy tất cả pháp đều là tướng duyên hợp không thật, nhưng trên
giả danh thì tạm gọi là tất cả pháp.
Này Tu-bồ-đề, thí như có người thân cao lớn.
Ngài Tu-bồ-đề đang dùng Trí tuệ Bát-nhã
thấy tất cả pháp không phải tất cả pháp nên ngài Tu-bồ-đề thưa:
Bạch Thế Tôn, Như Lai nói thân người cao lớn ắt không phải
thân lớn, ấy gọi là thân lớn.
Nếu còn thấy thật cao, thật lớn thì chưa phải là lớn mà phải
thấy rõ thân cao lớn đó chẳng qua là tướng duyên hợp, bởi tướng
duyên hợp nên không thật là cao lớn nhưng trên giả danh thì gọi là
cao lớn.
Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát cũng như thế, nếu nói lời
thế này: “ta sẽ diệt độ vô lượng chúng sanh”, ắt không gọi là
Bồ-tát.
Đức Phật nhấn mạnh lại chỗ chấp ngã, nếu còn thấy
mình diệt độ tất cả chúng sanh thì không phải là Bồ-tát rồi.
Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, thật không có pháp tên là Bồ-tát.
Kể cả danh tự Bồ-tát cũng không thật! Nếu còn chấp Bồ-tát
là thật cũng còn kẹt. Thế nên đức Phật nói tất cả pháp không ngã,
không nhân, không chúng sanh, không thọ giả.
Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát nói lời thế này: “ta sẽ trang
nghiêm cõi Phật”, ấy chẳng gọi là Bồ-tát. Vì cớ sao? Như Lai nói
trang nghiêm cõi Phật tức chẳng phải trang nghiêm ấy gọi là trang
nghiêm. Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát thông đạt pháp vô ngã, Như Lai gọi
đó là chân thật Bồ-tát.
Như vậy quí vị thấy trong đoạn này đức Phật chỉ rõ: Những vị
Bồ-tát nếu còn thấy mình là Bồ-tát thì đó không phải là Bồ-tát. Như
thế ai dám vỗ ngực xưng Bồ-tát thì người đó phải là Bồ-tát chưa? Vậy
mà có người dám xưng Phật mẫu thì sao? Mạo xưng Phật mẫu, chúng ta
tin được không? Xưng là Bồ-tát còn không phải Bồ-tát huống nữa là
xưng danh hiệu gì. Xưng danh đó là ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả,
người đó không phải là Thánh. Không phải Thánh mà xưng Thánh là mù
quáng, mê tín. Vì thế trong nhà Phật thường nói những vị Bồ-tát khi
thị hiện giáo hóa chúng sanh, lúc đang làm việc, không ai biết đó là
Bồ-tát, đến khi gần tắt thở mới làm một bài thơ để lại, khi chúng ta
biết đó là Bồ-tát là các ngài đã đi rồi, chớ không bao giờ đang hiện
tại mà xưng mình là Bồ-tát. Như vậy những người xưng mình là Thánh
đó đều là tà quái chớ không phải Thánh đâu, kinh đã chỉ rõ ràng. Quí
vị phải nhớ kỹ, có khi Bồ-tát ở bên cạnh phá mình tơi bời, nên mình
xem không ra gì. Vì vậy chúng ta không dám khi một người nào, giả sử
chúng ta mới phát nguyện tu mà có người tướng như yêu quái đến phá,
mình đừng vội nghĩ họ là yêu quái mà phải tự bảo: Đây chắc là Bồ-tát
thị hiện thử mình. Nghĩ như thế nên mình thầm mang ơn người, thầm
kính phục người tự nhiên quí vị tiến, quí vị thành công; trái lại
nếu chúng ta nghĩ họ là yêu quái muốn trị họ, muốn phạt họ, làm dữ
với họ tự nhiên mình thành yêu quái. Như vậy quí vị mới thấy rõ, khi
nghĩ người ta yêu quái, mình biến thành yêu quái, khi nghĩ người ta
là Bồ-tát mình là Bồ-tát. Thế nên, ai làm khó ngăn trở sự tu tiến
của mình, hoặc là quyến rũ bằng cách này, cách khác, mình đều thấy
họ là Bồ-tát. Tỉ dụ người đem đạo lý khuyên dạy mình, nhắc nhở mình
từng cái dở, cái xấu để mình sửa, đó là Bồ-tát thuận hạnh; người làm
trở ngại ngăn bước tiến của mình để mình vươn lên, đó là Bồ-tát
nghịch hạnh. Tất cả đều là Bồ-tát. Như vậy đối với tất cả chúng sanh
mình có tâm bình đẳng, ai cũng là người mình quí cả. Tâm Bồ-tát là
tâm từ bi bình đẳng đối với tất cả chúng sanh. Nếu chúng ta thấy
người này là ơn, người kia là thù thì bất bình, bất bình thì mình đã
thành phàm phu mất rồi. Đây là cứu kính chân thật. Chúng ta muốn
thành Bồ-tát (nói muốn được cũng là tham vọng), muốn tiến tu thì
phải thấy tất cả mọi người đều là Bồ-tát, Bồ-tát thuận hạnh, Bồ-tát
nghịch hạnh, như vậy cả ngày không một niệm thù hằn, giận hờn. Nếu
mọi người đều có tâm niệm tu như vậy thì có ai phiền não không? Ngày
nào chúng ta cũng vui vẻ, ai chúng ta cũng quí cũng kính, giả sử
người không phải Bồ-tát thật nhưng chúng ta đối với họ như vậy thì
lâu ngày họ cũng thành Bồ-tát, bởi vì lúc đầu họ có niệm xấu, ngăn
trở mình nhưng thấy mình vẫn kính, vẫn thương họ, sau cùng họ bị
mình cảm hóa. Đó là một điều rất hay, lợi mình, lợi người đầy đủ. Đó
là chỗ quan trọng trong sự tu hành. Thế nên chúng ta hiểu Phật pháp
cho chí lý thì nhìn lại thấy cuộc đời đáng quí vô cùng, không có chỗ
nào đáng chê, vì tất cả pháp đều là Phật pháp. Ai cũng là Bồ-tát
thuận hạnh, nghịch hạnh, cõi này toàn là Bồ-tát còn gì mà chán, đợi
về Cực Lạc làm bạn bất thối chuyển thì xa quá, lâu quá. Ở ngay đây
mình có bạn Bồ-tát rồi, vui biết chừng nào! Sống ở chùa không có
chán gì cả, chúng ta thấy cõi đời này như Cực Lạc, toàn thiện hữu
tri thức bậc thượng vì toàn là Bồ-tát, và pháp nào cũng là Phật pháp
thì đâu còn gì buồn chán. Đợi về Cực Lạc mới nghe chim thuyết pháp,
mới nghe nhạc trời thì lâu quá. Nơi đây, nếu biết tất cả pháp đều là
Phật pháp thì còn gì không phải Phật pháp mà phải đi kiếm Phật pháp
làm chi. Như vậy quí vị thấy nếu chúng ta có tâm địa cứng cỏi và
khéo léo thì việc tu hành ở cõi đời này hay vô cùng, chuyển cõi
Ta-bà thành Tịnh độ ngay trong cuộc sống này, chuyển tất cả những
bạn bè không tốt trở thành tốt, tất cả mọi người đều thành người
tốt, dù ai nói sao đi nữa cũng bái bái: Tôi xin lỗi Bồ-tát, tôi lầm!
Nói đến trang nghiêm Phật độ. Tôi ví dụ như lối
tu bên Tịnh độ, muốn trang nghiêm tịnh độ thì phải làm sao? Trong
kinh thường dạy muốn trang nghiêm tịnh độ thì hàng ngày phải niệm
Phật, đến khi tâm mình tịnh rồi thì cõi Phật sẽ thanh tịnh, đó là
nhân trang nghiêm tịnh độ. Có những vị Bồ-tát khác trang nghiêm tịnh
độ bằng cách hoặc phát nguyện bố thí, hoặc phát nguyện nhẫn nhục,
hoặc phát nguyện tinh tấn, mỗi hạnh tu là để trang nghiêm tịnh độ,
khi thành Phật thì cõi nước phước đức viên mãn. Như vậy vô tình còn
có chỗ để mình được phải không? Việc làm này còn có nghĩ tới chỗ
mình được, mà còn nghĩ chỗ mình được thì còn ngã pháp, vì vậy Phật
mới bảo rằng: Bồ-tát nếu khởi nghĩ ta sẽ trang nghiêm Phật độ ấy
không phải Bồ-tát. Vì cớ sao? Như Lai nói trang nghiêm cõi Phật là
không phải trang nghiêm, ấy mới gọi là trang nghiêm.
Nghĩa là làm tất cả lợi ích chúng sanh mà không thấy có
gì thật cả thì không trang nghiêm mà là trang nghiêm cho nên
không phải trang nghiêm đó mới gọi là trang nghiêm.
Cuối cùng đức Phật giải thích: Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát
thông đạt được pháp vô ngã, Như Lai nói đó mới là chân thật Bồ-tát.
Thấy được pháp vô ngã mới là chân thật Bồ-tát, còn chưa thấy
được thì chưa phải thật Bồ-tát.
(1)
Trích ý trong Tục tạng.