KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 3/34
1. PHÁP HỘI NHÂN DO PHẦN
ÂM:
PHÁP HỘI NHÂN DO
Như thị ngã văn:
Nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô
Độc viên dữ đại Tỳ-kheo chúng thiên nhị bách ngũ thập nhân câu. Nhĩ
thời Thế Tôn thực thời, trước y trì bát, nhập Xá-vệ đại thành khất
thực. Ư kỳ thành trung thứ đệ khất dĩ, hoàn chí bản xứ. Phạn thực
ngật, thu y bát, tẩy túc dĩ, phu tòa nhi tọa.
DỊCH:
NGUYÊN DO CỦA PHÁP HỘI
Tôi nghe như vầy:
Một hôm đức Phật ở nước Xá-vệ (Sràvasti)
tại rừng Kỳ-đà (Jeta) trong vườn Cấp Cô Độc cùng với chúng đại
Tỳ-kheo là một ngàn hai trăm năm mươi vị. Khi ấy gần đến giờ thọ
trai, đức Thế Tôn đắp y mang bát vào đại thành Xá-vệ khất thực.
Trong thành ấy, Ngài theo thứ lớp khất thực xong, trở về nơi chúng
ở. Thọ trai rồi, Ngài dẹp y bát, rửa chân, trải tòa ngồi.
GIẢNG:
Đoạn này diễn tả pháp hội Phật nói kinh Kim Cang.
Phần đầu chỉ cho lục chủng chứng tín. Sáu điều
này mở đầu kinh nào cũng như thế cả. Đây giống như một lối biên bản
của ngài A-nan (Ananda) để cho thấy lời Ngài nói có giá tri thật.
“Như thị ngã văn” là “tôi nghe như vầy”, chỉ cho
người nghe và pháp được nghe. “Tôi” chỉ người nghe tức ngài A-nan.
“Như vầy” là pháp được nghe tức là đề tài trong buổi thuyết pháp.
“Nhất thời” chỉ thời gian. Vì thuở xưa thời gian
mỗi nước mỗi khác cho nên chỉ nói một hôm, chớ không xác định hôm đó
là mấy giờ ngày mấy tháng mấy.
Phật là vị chủ tọa trong buổi nói pháp.
Xá-vệ quốc, Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên là nơi Phật
thuyết pháp.
Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên: Trưởng giả Cấp Cô Độc tên
thật là Tu-đạt-đa (Sudatta), do ông hay bố thí, cứu giúp những người
nghèo khổ cô độc nên được gọi là Cấp Cô Độc. Ông muốn mua vườn của
Thái tử Kỳ-đà để cất tinh xá thỉnh Phật đến thuyết pháp. Thái tử bảo
ông đem vàng lót đầy vườn thì Thái tử sẽ bán vườn cho ông. Khi ông
trải vàng gần xong, Thái tử vui vẻ bảo thôi đừng chở vàng thêm nữa
và Thái tử cũng xin cúng tất cả cây cối trong vườn cho đức Phật, do
đó nên thành tên rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.
Chúng đại Tỳ-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi
vị là cử tọa. Thời gian, nơi chốn và số cử tọa cho thấy bài kinh này
không phải tự ý ngài A-nan nói, mà do Ngài nghe trong hội thuyết
pháp gồm cả thảy một ngàn hai trăm năm mươi vị Tỳ-kheo.
Sáu điều trên đây gọi là lục chủng chứng tín,
nghĩa là sáu điều làm bằng chứng để cho chúng ta tin kinh này không
phải tự ý ngài A-nan nói ra, mà chính là Ngài thuật lại buổi thuyết
pháp của đức Phật.
Đến phần thứ hai tả cảnh Phật sắp nói pháp.
Khi ấy là buổi sáng gần đến giờ thọ trai, đức Thế
Tôn đắp y mang bát vào thành Xá-vệ khất thực.
Khất thực theo thứ lớp: Nếu hàng Phật tử thỉnh
thọ trai thì không cần theo thứ lớp, cứ đi thẳng đến nhà thỉnh mình.
Còn khất thực theo thứ lớp, là trong xóm có nhà nghèo, nhà giàu, cứ
tuần tự đến nhà thứ nhất, nếu không được cúng dường thì đến nhà thứ
hai, thứ ba v.v… không phân biệt giàu nghèo đến khi được cúng dường
thì về.
Thọ trai xong, xếp y, dẹp bát, rửa chân rồi, trải
tòa ngồi kiết-già. Đoạn này tả lại cuộc sống bình dị của đức Phật,
sáng đi khất thực, về ăn xong rửa bát, xếp y, rửa chân, trải tòa
ngồi kiết-già, sắp nói chuyện với chúng. Đó là ý thâm sâu muốn chỉ
rằng chân lý không ngoài việc bình thường để đánh tan lòng hiếu kỳ,
tưởng chân lý là những gì mầu nhiệm ngoài việc bình thường. Thấy
được chân lý trong việc bình thường là thấy đạo, nếu trái lại là lạc
hướng.
Khi ngài Triệu Châu Tùng Thẩm hỏi ngài Nam Tuyền
“thế nào là đạo” thì Nam Tuyền trả lời “bình thường tâm thị đạo”,
nghĩa là tâm bình thường là đạo.
Ông Lý Tường đến hỏi ngài Dược Sơn Duy Nghiễm
“thế nào là đạo” Ngài bảo “vân tại thanh thiên, thủy tại bình”,
nghĩa là mây trên trời xanh, nước trong bình. Việc bình thường này
hợp với tinh thần Đại thừa.