KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 32/34

30. NHẤT HỢP TƯỚNG LÝ PHẦN

NHẤT HIỆP TƯỚNG LÝ

ÂM:

NHẤT HIỆP TƯỚNG LÝ

Tu-bồ-đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân dĩ

tam thiên đại thiên thế giới toái vi vi trần, ư ý vân hà? Thị vi

trần chúng ninh vi đa phủ?

Tu-bồ-đề ngôn:

– Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Nhược thị vi

trần chúng thật hữu giả, Phật tắc bất thuyết thị vi trần chúng. Sở

dĩ giả hà? Phật thuyết vi trần chúng tắc phi vi trần chúng, thị danh

vi trần chúng. Thế Tôn! Như Lai sở thuyết tam thiên đại thiên thế

giới tắc phi thế giới, thị danh thế giới. Hà dĩ cố? Nhược thế giới

thật hữu giả, tắc thị nhất hiệp tướng. Như Lai thuyết nhất hiệp

tướng tắc phi nhất hiệp tướng, thị danh nhất hiệp tướng.

– Tu-bồ-đề! Nhất hiệp

tướng giả tắc thị bất khả thuyết, đản phàm phu chi nhân tham trước

kỳ sự.

DỊCH:

LÝ MỘT HỢP TƯỚNG

Này Tu-bồ-đề, nếu người thiện nam, thiện nữ

đem thế giới tam thiên đại thiên này nghiền nát thành bụi, ý ông

nghĩ sao? Số bụi này thật là nhiều chăng?

Ngài Tu-bồ-đề thưa:

– Bạch Thế Tôn! Rất nhiều. Vì cớ sao? Nếu

là bụi thật có đó thì Phật ắt không nói là bụi nhiều. Vì cớ sao?

Phật nói các bụi đó tức không phải là bụi, ấy gọi là bụi. Bạch Thế

Tôn, Như Lai nói thế giới tam thiên đại thiên tức không phải thế

giới, ấy gọi là thế giới. Vì cớ sao? Nếu thế giới thật có thì ắt là

một hợp tướng. Như Lai nói một hợp tướng tức không phải một hợp

tướng ấy gọi là một hợp tướng.

– Này Tu-bồ-đề, một hợp tướng đó ắt không

thể nói, chỉ người phàm phu tham trước việc ấy.

GIẢNG:

Trong đoạn này đầu tiên đức Phật hỏi ngài

Tu-bồ-đề: Giả sử có người nam, người nữ, đem thế giới tam thiên đại

thiên này nghiền nát thành bụi, số bụi đó nhiều chăng? Ngài Tu-bồ-đề

trả lời là rất nhiều. Trả lời xong, Ngài không dừng nơi đó, Ngài

giải thích thêm: Vì cớ sao? Vì bụi nếu thật có thì Phật không nói là

bụi, Phật nói bụi tức

không phải bụi, ấy gọi là bụi.

Chỗ này nhắc chúng ta nhớ trong đoạn trước tôi đã nói quá rõ

rồi. Nếu chúng ta lầm chấp các pháp có Thật thể tức là thế giới là

thật thế giới, hạt bụi là thật hạt bụi; lớn như thế giới, nhỏ như

hạt bụi, nếu tất cả lớn nhỏ đều chấp có một Thật thể thì đó là cái

nhìn của phàm phu. Tại sao? Vì nếu thấy nó có Thật thể tức là không

phải tướng duyên hợp. Trái lại, con mắt Trí tuệ Bát-nhã của Bồ-tát

thấy các pháp do duyên hợp, mà đã duyên hợp thì không cái nào có

Thật thể. Thế giới cũng là tướng duyên hợp nên không thật, chỉ theo

phàm phu giả đặt tên là thế giới. Như vậy thế giới chỉ có giả danh

mà không có Thật thể. To như thế giới mà chỉ có giả danh, còn nhỏ

như hạt bụi thì sao? Hạt bụi tuy quá nhỏ đối với thế giới, nhưng hạt

bụi cũng không phải là đơn vị cuối cùng. Nhỏ như hạt bụi cũng vẫn là

một hợp thể do duyên hợp. Hạt bụi do duyên hợp nên không phải là hạt

bụi, nhưng giả danh gọi là hạt bụi. Như thế để thấy rằng dù lớn, dù

nhỏ đối với con mắt trí tuệ đều thấy là tướng duyên hợp, chớ không

một cái gì tự có Thật thể. Thường chúng ta có hai lối nhìn, hoặc cho

cái nhỏ không thật mà cái lớn lại là thật, hoặc cho cái lớn là duyên

hợp mà cái nhỏ là đơn vị cuối cùng. Cũng như viên đất bằng nắm tay,

đập nát thành bụi, chúng ta cho viên đất là không thật, nhưng hạt

bụi là thật, đó là đơn vị thật hợp thành viên đất, thế là chúng ta

thấy cái lớn là giả mà cái nhỏ là thật.

Chủ yếu Phật dạy ở đây là phải nhìn cho tường tận

tất cả pháp, không một pháp nào có hình tướng mà có Thật thể. Như

thế mới hiểu, mới thấy được lý duyên hợp. Từ thế giới đến hạt bụi

đều không có Thật thể, nó là một hợp tướng, nhưng hợp tướng cũng là

giả danh, nên nói: Hợp

tướng không phải hợp tướng, ấy gọi là hợp tướng.

Cuối cùng Ngài kết lại một câu: Này Tu-bồ-đề, một hợp

tướng đó ắt không thể nói, chỉ người phàm phu tham trước việc ấy.

Nói là một hợp tướng thì không thể nói. Tại sao? Vì nó là hư

giả, không thể nói là có, là không, nhưng người phàm phu không biết,

tham trước cho là thật. Trên nhân gian này, tất cả những gì có hình,

có tướng, sắc, thanh, hương v.v… quí vị kiểm lại xem có cái nào

không phải là tướng duyên hợp hay không? Cái nào cũng là tướng duyên

hợp, thế mà phàm phu chúng ta cho nó là thật hay giả? Nếu chúng ta

nói “chậu bông của tôi giả”, có người khác nói “giả thì cho tôi đi”,

khi đó chúng ta nói thế nào? Tuy nói giả mà ai xin thì không cho.

Nói giả sợ người ta xin, thành ra thấy cái gì cũng thật nên quí, mà

quí thì tham trước. Thế nên sự liên hệ là từ chỗ thấy các pháp là

thật, rồi sanh ra tưởng nó là quí và tâm tham trước theo đó mà sanh.

Bởi chiếc xe tôi thật, nhà của tôi thật nên tôi quí, tôi phải cố bảo

vệ, tất cả sự vật đều như thế cả. Thế nên những gì mình thấy là

thật, đều quí, đều tham trước. Không phải chúng ta bi quan, tạo ra

một cái tưởng tượng không đâu, mà đây đúng là chúng ta nhìn bằng trí

tuệ, thấy được lẽ thật. Nói đến cái nhà thì biết nó là tướng duyên

hợp, không có Thật thể. Nếu nói cái nhà thật thì thử hỏi cái gì thật

là nhà? Vách tường không phải nhà, kèo cột không phải nhà… Chẳng qua

là nhiều tướng nhỏ chung hợp thành một tướng lớn, tướng lớn đó tạm

đặt tên là cái nhà. Vậy cái nhà là danh từ tạm đặt để chỉ một hợp

tướng, mà hợp tướng là do duyên hợp thì đâu có cái gì là chủ, nên nó

không có Tự thể hay không có Thật thể. Đó là một lẽ thật, chúng ta

nhìn đúng lẽ thật chớ không phải bi quan. Nhìn đúng lẽ thật nên

không có tâm tham trước, do không tham trước nên không mắc kẹt ở thế

gian. Trái lại vì nhìn không đúng lẽ thật nên khởi tâm tham trước,

do đó mất một cái gì là lòng quặn đau, đến khi cái ngã mất thì đau

vô ngần, vì thế nên cứ quanh quẩn trong thế gian không có ngày ra.

Phật bảo một hợp tướng không thể nói là có, không

thể nói là không. Quí vị phải hiểu tinh thần Đại thừa cốt chỉ thẳng

lý duyên hợp, cho nên không quyết định nơi hai cái có và không. Ai

thấy các pháp thế gian thật có, thật không là bệnh. Thế mà lâu nay

đại đa số người học kinh Bát-nhã đều nói học Bát-nhã là chấp không.

Chấp không là bệnh tối kỵ với tinh thần Bát-nhã. Thấy có, thấy không

là thấy hai bên, trái với lý Bát-nhã. Bát-nhã nói các pháp duyên hợp

nên không thật, vì duyên hợp nên không phải có, vì duyên hợp nên

không phải không. Nói duyên hợp là giả tướng nên không phải có mà

cũng không phải không. Thế gian chỉ một mặt nói có hoặc nói không,

nhưng ta thấy rõ các tướng duyên hợp không phải có, không phải không

nên không thể nói được, không thể nói cho họ hiểu được. Vì thế mà

đức Phật bảo một hợp tướng ắt không thể nói, chỉ vì người phàm phu

tham trước việc ấy.

Quí vị đã thấy rõ ý nghĩa sâu xa của kinh Đại

thừa là không cho chúng ta kẹt một bên nào, hoặc có, hoặc không. Kim

Cang và Bát-nhã nói các pháp do duyên hợp không có tánh thật, chớ

không phải không ngơ. Như cái bàn, đối với con mắt Trí tuệ Bát-nhã

nó có hay không? Con mắt Trí tuệ Bát-nhã thấy cái bàn không có Tự

thể, do duyên hợp nên chỉ có giả danh. Giả danh là tên tạm, tạm gọi

là bàn, không phải không ngơ, nhưng tìm Thật thể thì không có, chớ

nói cái bàn không như hư không này thì đó là dốt. Nhiều người không

hiểu nghe câu “thị

chư pháp không tướng bất sanh bất diệt v.v…”

liền cho rằng Bát-nhã nói cái gì cũng không. Không đây là

không có tướng thật, vì nó là duyên hợp. Cũng như tôi nói không có

một nắm tay thật mà do năm ngón co lại, nhưng khi co lại thì có nắm

tay không? Nói đúng theo Trí tuệ Bát-nhã là nắm tay không có Thật

thể, chỉ giả danh tạm gọi là nắm tay, đủ duyên hợp lại tạm gọi là

nắm tay. Như thế khi duyên hợp không thể nói không, khi duyên tan

đâu thể nói có. Chính người không hiểu Bát-nhã mới chấp không, nói

cái này có là chấp thật có, nói cái kia không là chấp thật không.

Trí tuệ Bát-nhã nhìn tường tận các pháp nên không cố định một pháp

nào là Thật thể, vì đó là tướng duyên hợp, đã là duyên hợp thì không

phải là không hẳn. Thế nên mới dùng những chữ “như huyễn, như hóa”

nghĩa là duyên hợp thì có, duyên ly tán thì không, chớ không phải

không ngơ. Hiểu như thế mới không lầm ý nghĩa của lời Phật dạy trong

kinh Kim Cang và Bát-nhã.

Mở trong trình đọc kinh