KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 23/34
21. PHI THUYẾT SỞ THUYẾT PHẦN
ÂM:
PHI THUYẾT SỞ THUYẾT
– Tu-bồ-đề! Nhữ vật vị Như lai tác thị niệm:
ngã đương hữu sở thuyết pháp, mạc tác thị niệm. Hà dĩ cố? Nhược nhân
ngôn Như Lai hữu sở thuyết pháp tức vi báng Phật, bất năng giải ngã
sở thuyết cố. Tu-bồ-đề! Thuyết pháp giả, vô pháp khả thuyết, thị
danh thuyết pháp.
Nhĩ thời Tuệ Mạng Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh ư vị lai thế,
văn thuyết thị pháp, sanh tín tâm phủ?
Phật ngôn:
– Tu-bồ-đề! Bỉ phi chúng sanh, phi bất chúng
sanh. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Chúng sanh, chúng sanh giả, Như Lai thuyết
phi chúng sanh, thị danh chúng sanh.
DỊCH:
KHÔNG NĂNG THUYẾT VÀ SỞ THUYẾT
– Này Tu-bồ-đề, ông chớ bảo Như Lai khởi
nghĩ thế này: ta sẽ có nói pháp, chớ khởi cái nghĩ ấy. Vì cớ sao?
Nếu người nói Như Lai có nói pháp tức là phỉ báng Phật, không thể
hiểu nghĩa ta đã nói. Này Tu-bồ-đề, nói pháp đó không có pháp có thể
nói ấy gọi là nói pháp.
Khi ấy ngài Tuệ Mạng Tu-bồ-đề bạch Phật
rằng:
– Bạch Thế Tôn, vả lại có chúng sanh ở đời
vị lai nghe nói pháp này sanh lòng tin chăng?
Phật bảo:
– Tu-bồ-đề, kia chẳng phải chúng sanh,
chẳng phải chẳng chúng sanh. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, chúng sanh,
chúng sanh ấy Như Lai nói chẳng phải chúng sanh, ấy gọi là chúng
sanh.
GIẢNG:
Đây là lìa năng thuyết và sở thuyết. Năng thuyết
là người hay nói, sở thuyết là pháp bị nói. Người hay nói và pháp bị
nói đều lìa, tại sao? Phật bảo ngài Tu-bồ-đề: Ông chớ nói Như Lai
khởi nghĩ sẽ có nói pháp, chớ nghĩ như vậy. Vì sao?
Vì nếu người nói Như Lai có nói pháp tức là chê bai Phật,
không hiểu nghĩa Phật nói. Như vậy chúng ta có chê bai Phật
không, vì chúng ta luôn luôn nói Phật thuyết pháp. Kinh là Phật nói,
nếu nói Phật nói là chê bai Phật. Quí vị làm sao hiểu được đoạn này?
Đức Phật bảo ngài Tu-bồ-đề:
Nói pháp tức là không pháp có thể nói, ấy gọi là nói pháp.
Đó là chỗ thật là khó hiểu phải không? Tại sao đức Phật nói
pháp bốn mươi chín năm trong lịch sử ghi rõ ràng, nhưng nếu nói Phật
thuyết pháp là phỉ báng Phật? Nếu chúng ta thấy thật có Phật, thân
tứ đại của Ngài là thật và pháp Ngài nói ra là thật, chúng ta không
hiểu nghĩa Ngài nói rồi. Ngài bảo tứ đại là duyên hợp không thật mà
chúng ta nói là thật, tức chúng ta phản bội Phật. Nếu Phật không
thật thì pháp Phật nói có thật không? Vậy nếu cho là có pháp thật
Phật nói thì không phải chê bai Phật là gì? Chúng ta phải hiểu rõ
Phật nói pháp là nói các pháp ở thế gian không có Tự thể, do duyên
hợp giả có nên không có một pháp thật; nay chúng ta chấp Phật nói
pháp thật thì đó là phỉ báng Phật chớ gì. Pháp Phật nói chẳng qua là
tướng tùy duyên, không có Thật thể, cũng như thân Phật cũng là tướng
tùy duyên không có Thật thể, nếu chúng ta thấy là thật là phản bội
lời Phật, vì vậy nói là phỉ báng Phật. Trái lại chúng ta biết Phật
thuyết pháp đó là tướng tùy duyên thì không có lỗi gì cả, hiểu như
thế là chúng ta không phỉ báng Phật.
Tỉ dụ từ trước đến giờ quí vị đã nghe tôi nói,
bao nhiêu ngôn từ, quí vị tìm lại xem có không? Lời lẽ phát ra là
tướng duyên hợp, do nó hợp với nhĩ căn của quí vị, nên có chủng tử
gieo vào tàng thức cũng là tướng duyên hợp. Từ duyên này phát ra rồi
duyên kia thâu vào, đó đều là tướng duyên hợp, không có một pháp
thật. Nếu có pháp thật thì những lời tôi nói ra sẽ thành khối chớ
không mất, nhưng khi tôi nói ra rồi quí vị thử tìm xem nó còn không?
Nhưng duyên đó lại gắn vào trong tàng thức của quí vị, quí vị có thể
ôn lại những ngôn từ đó được, đó là tướng của duyên chớ đâu có một
pháp thật. Hiểu như thế, người nghe pháp cũng như người nói pháp đều
là tướng duyên hợp chớ không phải thật. Thế nên đức Phật bảo: Nói
pháp là không pháp có thể nói, tức là không có pháp thật nào để nói
cả, chỉ tùy duyên để đánh thức chúng ta biết các pháp là hư giả,
không thật thể. Như thế khi biết các pháp hư giả không thật thể thì
nói pháp là phương tiện nói, cho nên
không pháp có thể nói ấy gọi là nói pháp. Nếu nói rằng
tôi nói cái này một là một, hai là hai, cố định như vậy đời đời kiếp
kiếp, đó mới là pháp thật để nói phải không? Như vậy chúng ta phải
hiểu rằng tất cả ngôn từ Phật nói ra cũng chỉ là giả danh, tùy
duyên. Bởi giả danh nên nó không có Thật thể, do đó không có pháp có
thể nói mà tùy duyên phát ra nên gọi là nói pháp. Đó là Ngài chỉ
thẳng không có pháp để nói.
Đến đây nói về người.
Khi ấy ngài Tuệ Mạng Tu-bồ-đề bạch rằng: Vả lại có chúng
sanh ở đời vị lai nghe nói pháp này, họ sanh lòng tin chăng?
Tại sao đoạn trước nói Tôn giả Tu-bồ-đề hay ngài Tu-bồ-đề mà
đoạn này lại thêm chữ Tuệ Mạng? Chữ Tuệ Mạng là chỉ cho hàng Thanh
văn đã ngộ đạo, các ngài thấy mạng sống của các ngài là trí tuệ chớ
không phải là tứ đại, các ngài lấy trí tuệ làm mạng sống nên gọi là
Tuệ Mạng. Lẽ ra đức Phật trả lời hoặc họ tin hoặc không tin, tại sao
đức Phật bảo: Này
Tu-bồ-đề, kia chẳng phải chúng sanh, chẳng phải chẳng chúng sanh. Vì
cớ sao? Này Tu-bồ-đề, chúng sanh, chúng sanh ấy Như Lai nói chẳng
phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh.
Như thế Phật có trả lời ngài Tu-bồ-đề không? Quí vị nghe thật
lạ phải không? Tại sao chẳng phải chúng sanh? – Vì không có Tự thể.
Chúng sanh ấy chẳng qua là tướng duyên hợp không có Tự thể, nên nói
chẳng phải chúng sanh, nhưng trên tướng duyên hợp thì có, nên nói
“chẳng phải chẳng chúng sanh” tức là chúng sanh. Như vậy câu đầu
chẳng phải chúng sanh là để chỉ rõ nó không có Tự thể, câu thứ hai
chẳng phải chẳng chúng sanh chỉ rằng ấy là tướng duyên hợp giả có.
Trên tướng duyên hợp thì giả có chúng sanh, trên Tự thể thật của nó
thì không có. Kế đến Ngài kết thúc:
Vì cớ sao? Tu-bồ-đề, chúng sanh, chúng sanh đó Như Lai nói
chẳng phải chúng sanh, ấy gọi là chúng sanh.
Vì chúng sanh chỉ là tướng duyên hợp cho nên Như Lai nói
chẳng phải chúng sanh, do duyên hợp giả danh gọi là chúng sanh nên
nói ấy gọi là chúng sanh. Quí vị thấy cái nhìn của đức Phật với cái
nhìn của chúng ta khác nhau chỗ nào? Chúng ta thấy chúng sanh là
chúng sanh; đức Phật thấy chúng sanh không phải chúng sanh, ấy mới
gọi là chúng sanh.
Nếu chúng ta bắt chước nhìn đúng như đức Phật thì
chúng ta cũng giống Phật. Trái lại nếu chúng ta cứ nhìn như từ trước
đến nay thì chúng ta không giống Phật chút nào cả. Tôi nhắc lại đức
Phật thấy chúng sanh là tướng duyên hợp không có Tự thể cho nên
không phải chúng sanh, nhưng do duyên hợp nên tạm gọi là chúng sanh.
Nếu chúng ta thấy mình và người đều là tướng duyên hợp không có Tự
thể, không Tự thể thì không có ngã. Không có ngã nhưng do duyên hợp
nên tạm gọi là ta, là người. Như thế ta và người chỉ là tạm theo
duyên mà nói. Nếu nhìn rõ ràng thấu đáo như vậy thì chúng ta đã có
trí tuệ gần với đức Phật. Chúng ta muốn làm Phật thì phải chịu khó
nhìn như Phật, tại sao mình không chịu nhìn như Phật mà cứ nhìn theo
mình mãi? Nếu chúng ta nhìn đúng Trí tuệ Phật dạy thì tự nhiên mọi
cố chấp đều tan, như thế việc tu hành rất dễ. Trái lại nếu chúng ta
cứ nhìn theo cái mê lầm của mình thì tu nhiều công mà kết quả ít. Tỉ
dụ như chúng ta thấy mình là thật, người là thật, nghe tiếng nói
cũng là thật… bất chợt có ai nói một câu nghe hơi nặng tai một chút
thì chúng ta dễ dằn lòng hay khó? Nếu thấy mình là giả, người giả,
ngôn từ cũng giả thì dù họ có nói câu hơi nặng tai, chúng ta cũng bỏ
qua vì đó là giả, tức nhiên mình không đè nén gì hết, mà tâm mình tự
an, sự tu hành cũng nhẹ nhàng thảnh thơi. Do trí tuệ đi đầu nên
chúng ta nhìn đúng với chiều đức Phật nhìn, tức là mình đã tỉnh giác
và đã khác hơn phàm phu. Phàm phu nghe câu nói nặng nhịn không nổi,
chúng ta nghe mà nhịn nổi vì chúng ta xem nó là hư giả. Đó là thấy
đúng lẽ thật, đó là sống bằng trí tuệ, chúng ta buông xả các chấp,
đó là tu bằng cách buông nhẹ nhẹ. Còn thấy không đúng lẽ thật thì cố
gắng nhẫn nhịn, rốt cuộc càng khổ tâm vì chỉ đè nén đến một mức nào
thôi…
Thế nên ở đây đức Phật muốn chỉ cho chúng ta thấy
rõ không có người năng thuyết thật, và không có pháp sở thuyết thật,
hay nói một cách khác là không có thật người và cũng không có thật
pháp. Pháp và người chẳng qua là tướng duyên hợp thôi, đã là tướng
duyên hợp thì có gì mà chấp? Chấp người là chấp ngã, nói ra là chấp
pháp mà chấp ngã chấp pháp là phải trầm luân ngàn đời. Nay chúng ta
thấy rõ chúng sanh không phải là chúng sanh, duyên hợp tạm gọi là
chúng sanh, nhớ rõ như vậy thì khi nào ai xúc chạm đến ta, chúng ta
cứ nhớ câu trên, tự nhiên mình sẽ nhẹ nhàng. Tất cả pháp còn không
thật huống là những lời nói sai quấy. Khi con người sân hận, họ hay
thốt ra những lời sai quấy, những lời đó đâu có thật mà chấp.
Pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp! Pháp của Phật
là pháp cao siêu mà còn phải xả huống là những lời nói phi pháp thì
chấp làm gì. Hiểu như thế chúng ta thấy việc tu hành dễ hay khó?
Hiện nay chúng ta tu không nổi vì chúng ta chấp những cái phi pháp
hoài, nên buồn người này, giận người kia v.v… lỡ ai có một lời nói
không tế nhị thì mình tức giận, mất ăn mất ngủ, đó là cái khổ do
mình chấp ngôn ngữ, chấp những cái phi pháp. Vậy chúng ta học một
đoạn kinh Phật là chúng ta có một kinh nghiệm để tu chớ không phải
học suông.
Tóm lại qua lời Phật dạy, chúng ta thấy rõ người
hay nói và pháp bị nói đều không thật, khi chúng ta không chấp là
thật thì chúng ta phá được chấp ngã và chấp pháp. Ngã và pháp đều
phá thì đó là vào hàng Sơ địa Bồ-tát. Thanh văn chỉ phá được chấp
ngã chớ chưa phá được chấp pháp. Như hàng Thanh văn thì nói ngã là
không, nhưng Niết-bàn là có, tức là còn kẹt vào pháp, nói Bồ-đề là
có tức là còn kẹt vào pháp. Chỉ phá được chấp ngã đã gọi là chứng Tứ
quả Thanh văn, nếu phá luôn được chấp pháp thì đó là Đăng địa
Bồ-tát. Vậy nếu chúng ta chịu khó thực hành thì chắc được phải
không? Tôi thấy nếu mình cố gắng thì nhất định phải được, không được
là vì mình không cố gắng.