KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 6/34

4. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ PHẦN

ÂM:

DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

Phục thứ Tu-bồ-đề,

Bồ-tát ư pháp ưng vô sở trụ hành ư bố thí, sở vị bất trụ sắc bố thí,

bất trụ thanh hương vị xúc pháp bố thí. Tu-bồ-đề, Bồ-tát ưng như thị

bố thí, bất trụ ư tướng. Hà dĩ cố? Nhược Bồ-tát bất trụ tướng bố

thí, kỳ phước đức bất khả tư lương.

Tu-bồ-đề, ư ý vân hà?

Đông phương hư không khả tư lương phủ?

– Phất dã Thế Tôn!

– Tu-bồ-đề, Nam Tây

Bắc phương tứ duy thượng hạ hư không, khả tư lương phủ?

– Phất dã Thế Tôn!

– Tu-bồ-đề, Bồ-tát vô

trụ tướng bố thí, phước đức diệc phục như thị bất khả tư lương.

Tu-bồ-đề, Bồ-tát đản ưng như sở giáo trụ.

DỊCH:

DIỆU HẠNH KHÔNG CHỖ TRỤ

Lại nữa Tu-bồ-đề, Bồ-tát đối với pháp nên

không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố

thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. Này Tu-bồ-đề,

Bồ-tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu

Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.

Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Hư không ở phương

Đông có thể nghĩ lường được chăng?

– Bạch Thế Tôn, không vậy.

– Này Tu-bồ-đề, hư không phương Nam, phương

Tây, phương Bắc, bốn phía trên dưới có thể nghĩ lường được chăng?

– Bạch Thế Tôn, không vậy.

– Này Tu-bồ-đề, Bồ-tát không trụ tướng mà

bố thí, phước đức cũng lại như thế, không thể nghĩ lường. Này

Tu-bồ-đề, Bồ-tát chỉ nên như lời dạy mà trụ.

GIẢNG:

Đến phần trả lời câu hỏi thứ hai. Nói đến trụ,

quí vị nghe cũng rối tai không biết làm sao trụ. Tôi nhắc lại cho

quí vị thấy trong đoạn này Phật bảo:

Những vị Bồ-tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm

việc bố thí. Không

chỗ trụ là sao? – Không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà bố

thí. Nếu Bồ-tát bố thí mà không trụ tướng thì phước đức không thể

nào nghĩ lường được. Ngài dùng thí dụ hỏi: Hư không ở phương Đông có

thể nghĩ lường được không? Hư không ở các phương Nam, Tây, Bắc và

trên dưới có thể nghĩ lường được không? – Dĩ nhiên là không. Phật

bảo: Cũng vậy, nếu Bồ-tát bố thí mà không trụ tướng thì phước đức

cũng như hư không, khắp cả mười phương, không thể nghĩ lường được.

Phật lại dạy tiếp: Các Bồ-tát chỉ nên như lời dạy trên mà trụ.

Làm sao an trụ đây? Phật dạy: Bố thí mà không trụ

nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tôi hỏi quí vị bố thí mà không

trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì làm sao bố thí? Giả sử như

thấy có người đói, mình muốn bố thí cho họ hết đói thì phải lấy cái

gì bố thí? – Lấy cơm hoặc là tiền. Cơm, tiền là sắc phải không? Nếu

tay ta bưng cơm hay cầm tiền cho họ, tức là chúng ta có nghĩ về cơm,

về tiền, đó là chúng ta trụ nơi sắc mà bố thí rồi… Hoặc giả chúng ta

dùng lời nói an ủi cho họ bớt đau khổ, đó cũng là thanh, hoặc dùng

những thứ có hương vị ngọt ngào, đó là hương v.v… Như vậy thế nào

cũng phải nghĩ đến một cái gì mới đem bố thí được, nếu không thì làm

sao bố thí? Không trụ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí thì

phải làm sao? Đó là một câu hỏi mà chúng ta không biết làm sao giải

đáp để áp dụng trong việc tu hành. Có người nói: Mình cho mà đừng

chấp, đừng nghĩ gì hết, cứ cho rồi thôi. Thử hỏi thế nào là đừng

chấp? Làm sao thôi được? Thế nên chính đây là chỗ mà đa số người đọc

kinh Kim Cang đều lúng túng không biết làm sao thực hành. Chúng ta

phải hiểu rõ rằng bố thí là ban cho, là buông xả, trụ là dính mắc.

Chúng ta phải buông xả đừng có dính với sắc, thanh, hương, vị, xúc,

pháp đó là bố thí. Không trụ như vậy tâm mới trụ. Sở dĩ tâm chúng ta

động, loạn là vì nó chạy theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bởi

dính với sáu trần nên tâm mới loạn, nó kẹt nơi sắc, kẹt nơi thanh,

nơi hương, vị, xúc, pháp. Do kẹt trong sáu trần nên tâm chúng ta cứ

loạn mãi, bây giờ chúng ta bố thí tức là buông xả không dính với sáu

trần nữa thì tự nhiên tâm an trụ. Như vậy khi chúng ta an trụ là lúc

chúng ta không dính với sáu trần, nếu còn dính với sáu trần là chưa

trụ. Thí dụ trên bàn có sáu, bảy món nào ly, nào bao kiếng, nào

khăn, đồng hồ v.v… trong sáu thứ đó, nếu tay tôi nắm một thứ là tôi

dính một cái, phải không? Dính một cái thì khi ấy tâm tôi an trụ hay

bất an? Dính một cái tức là tôi đang cầm, đang chấp. Cầm chấp tức là

động chớ đâu có an được. Còn cả sáu cái, tay tôi đều không dính thì

sao? Tức là tay tôi để một chỗ, nó không động. Nếu dính một cái là

động rồi. Thế nên nói không trụ mà chính là trụ. Không trụ nghĩa là

không dính tất cả sáu trần, đó mới thật an trụ.

Trong đoạn trước, hàng phục tâm là vọng vừa khởi liền biết và đưa nó

vào chỗ lặng lẽ vô sanh. Trong đoạn này tế nhị hơn, đức Phật dạy

chúng ta: Đối với sáu trần đừng để tâm dính mắc, đó là an trụ tâm.

Thế nên các Thiền sư, nhất là ngài Bá Trượng, khi nói đến chỗ giải

thoát, Ngài chỉ bảo rằng: “Tâm cảnh không đến nhau là giải thoát.”

Cảnh là sáu trần, tâm không đến với cảnh, không dính với cảnh đó là

giải thoát, đó là an trụ. Thế nên chúng ta phải thấy rõ phương pháp

tu hành, tu là buông xả đừng dính với sáu trần, đó là trụ tâm. Khi

hàng phục được tâm, an trụ tâm là đi đến Vô thượng Chánh đẳng Chánh

giác, đi đến Phật quả. Vì vậy trong đoạn này Phật bảo: Nếu người nào

bố thí thì công đức của người đó không thể tính kể, ví dụ như hư

không. Hư không không dính với bất cứ vật gì nên nó thênh thang vô

cùng. Chúng ta cũng vậy, nếu tâm chúng ta không dính với sáu trần

thì nó cũng thênh thang như hư không, do đó Phật mới bảo: Công đức

không thể nghĩ lường. Nhiều khi chúng ta không hiểu cứ nghĩ bố thí

mà không chấp tướng thì công đức lớn. “Không chấp tướng” nghĩa như

thế nào? Nghĩa là bố thí rồi thì thôi, đừng nhớ nghĩ gì nữa. Đó là

chúng ta chỉ hiểu phần thô thiển bên ngoài. Đúng ra chữ bố thí phải

hiểu là buông xả hết vọng niệm, tâm không dính với sáu trần, lúc đó

tâm mới an trụ và tâm an trụ như vậy thì công đức đồng với hư không,

không thể nghĩ lường. Tại sao? – Bởi vì khi tâm không còn trụ nơi

sáu trần thì nó trở về với Tâm thể vô sanh, mà chỗ vô sanh thì không

biết làm sao lường được. Thế nên nói công đức không thể nghĩ lường,

không thể tính kể.

Trong phần cuối, Phật bảo: Bồ-tát chỉ nên như lời

dạy mà trụ. Như vậy, muốn trụ tâm quí vị phải làm sao? – Phải buông

xả đừng dính với sáu trần. Muốn hàng phục tâm phải làm sao? – Phải

đưa vọng niệm vào chỗ vô sanh. Thật là rõ ràng không có gì nghi ngờ

nữa. Trái lại, nếu chúng ta hiểu theo chữ nghĩa hình tướng bên ngoài

thì chúng ta không thể nào giải thích nổi và cũng không thể nào thực

hành được. Bố thí mà không kẹt trong sáu thứ đó thì làm sao bố thí?

Sở dĩ có bố thí được là do sáu thứ hoặc sắc, hoặc thanh, hoặc hương,

vị… mà không được dính vào thứ nào hết thì phải làm sao? Thế nên

hiểu rồi mới thấy chủ ý Phật dạy chúng ta an trụ tâm, hàng phục tâm

ở trong, chớ không phải dạy chúng ta làm việc bên ngoài. Vì không

hiểu, chúng ta nghĩ độ chúng sanh là độ chúng sanh bên ngoài, và bố

thí cũng là bố thí cho người bên ngoài; nếu thế thì không liên quan

gì đến việc an trụ và hàng phục tâm của chính mình.

Hai đoạn này đã trả lời đầy đủ cho ngài

Tu-bồ-đề rồi. Đọc kinh Kim Cang nếu người lợi căn thì tới đây

đã đủ. Hai câu hỏi này là hai câu hỏi quan trọng nhất của quyển kinh

mà trả lời thỏa mãn được hai câu này thì coi như đủ rồi. Nếu người

căn cơ chậm lụt thì phải đọc hết bộ!

Mở trong trình đọc kinh