KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 11/34
9. NHẤT TƯỚNG VÔ TƯỚNG PHẦN
ÂM:
NHẤT TƯỚNG VÔ TƯỚNG
Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Tu-đà-hoàn năng tác thị
niệm ngã đắc Tu-đà-hoàn quả phủ?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tu-đà-hoàn danh
vi Nhập lưu nhi vô sở nhập, bất nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp, thị danh Tu-đà-hoàn.
– Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Tư-đà-hàm năng tác thị
niệm ngã đắc Tư-đà-hàm quả phủ?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tư-đà-hàm danh
Nhất vãng lai nhi thật vô vãng lai, thị danh Tư-đà-hàm.
– Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? A-na-hàm năng tác thị
niệm ngã đắc A-na-hàm quả phủ?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? A-na-hàm danh vi
Bất lai, nhi thật vô bất lai, thị cố danh A-na-hàm.
– Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? A-la-hán năng tác thị
niệm ngã đắc A-la-hán đạo phủ?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Phất dã Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp
danh A-la-hán. Thế Tôn! Nhược A-la-hán tác thị niệm: ngã đắc
A-la-hán đạo, tức vi trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Thế Tôn!
Phật thuyết ngã đắc Vô tránh tam-muội, nhân trung tối vi đệ nhất,
thị đệ nhất ly dục A-la-hán. Thế Tôn! Ngã bất tác thị niệm ngã thị
ly dục A-la-hán. Thế Tôn! Ngã nhược tác thị niệm: ngã đắc A-la-hán
đạo, Thế Tôn tắc bất thuyết Tu-bồ-đề thị nhạo A-lan-na hạnh giả. Dĩ
Tu-bồ-đề thật vô sở hành, nhi danh Tu-bồ-đề thị nhạo A-lan-na hạnh.
DỊCH:
MỘT TƯỚNG KHÔNG TƯỚNG
Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Tu-đà-hoàn
hay khởi nghĩ thế này: “ta được quả Tu-đà-hoàn” chăng?
Tu-bồ-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao?
Tu-đà-hoàn gọi là Nhập lưu mà không có chỗ nhập, chẳng nhập sắc,
thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu-đà-hoàn.
– Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Tư-đà-hàm hay
khởi nghĩ thế này: “ta được quả Tư-đà-hàm” chăng?
Tu-bồ-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? Vì
Tư-đà-hàm tên là Nhất vãng lai mà thật không có vãng lai, ấy gọi là
Tư-đà-hàm.
– Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? A-na-hàm hay
khởi nghĩ thế này: “ta được quả A-na-hàm” chăng?
Tu-bồ-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao?
A-na-hàm tên là Bất lai mà thật không có bất lai, thế nên tên
A-na-hàm.
– Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? A-la-hán hay
khởi nghĩ thế này: “ta được đạo A-la-hán” chăng?
Tu-bồ-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn, không vậy! Vì cớ sao? Thật
không có pháp tên là A-la-hán. Bạch Thế Tôn nếu A-la-hán khởi nghĩ
thế này: ta được đạo A-la-hán, tức là còn chấp ngã nhân chúng sanh
thọ giả. Bạch Thế Tôn! Phật nói con được Vô tránh tam-muội là bậc đệ
nhất trong số người đó, là A-la-hán ly dục đệ nhất. Bạch Thế Tôn!
Con không khởi nghĩ con là ly dục A-la-hán. Bạch Thế Tôn! Nếu con
khởi nghĩ: con được đạo A-la-hán, Thế Tôn ắt chẳng nói Tu-bồ-đề là
người ưa hạnh A-lan-na. Do Tu-bồ-đề thật không có sở hành nên gọi là
Tu-bồ-đề ưa hạnh A-lan-na.
GIẢNG:
Trước nói về bốn quả Thanh văn, đó là Tu-đà-hoàn,
Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Người tu Phật, tu theo Thanh văn
thừa, chúng ta thường gọi là Tiểu thừa, thì chứng bốn quả, quả thứ
nhất là Tu-đà-hoàn, quả thứ hai là Tư-đà-hàm, quả thứ ba là
A-na-hàm, quả thứ tư là A-la-hán.
Quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn, Trung Hoa dịch ra hai
nghĩa. Nghĩa thứ nhất là Thất lai. Thất là
bảy, lai là trở lại. Tu-đà-hoàn là những vị có chứng quả nhưng vẫn
còn trở lại trần gian bảy phen nữa mới chứng A-la-hán, mới không còn
sanh tử. Nghĩa thứ hai là Nhập lưu, nhập là vào, lưu là dòng, nghĩa
là vào được dòng Thánh. Người tu chứng quả Tu-đà-hoàn, tuy còn sanh
tử song nhất định không lui sụt, từ đó tiến vào dòng Thánh đến trọn
vẹn thành A-la-hán. Thế nên cố định là bảy phen trở lại rồi chứng
A-la-hán, trong bảy phen đó dầu ai làm gì cũng không lui sụt cho nên
gọi là vào dòng Thánh.
Quả thứ hai là Tư-đà-hàm, Trung Hoa dịch là Nhất
lai. Nhất là một, lai là lại. Những vị này chỉ còn một phen trở lại
nhân gian rồi chứng quả A-la-hán nên gọi là Nhất lai.
Quả thứ ba là A-na-hàm, Trung Hoa dịch là Bất
lai. Bất là chẳng, lai là lại. Những vị chứng A-na-hàm chỉ còn một
phen sanh lên cõi Ngũ A-na-hàm Thiên, lên cõi trời đó rồi chứng
A-la-hán, nhập Niết-bàn chớ không trở lại trần gian nữa nên gọi là
Bất lai.
Đến quả thứ tư là A-la-hán. A-la-hán dịch nghĩa
là Vô sanh. Vị này không còn sanh tử nữa, đó là viên mãn trong bốn
quả Thanh văn.
Đây là kinh Đại thừa, vậy tại sao đức Phật lại
lấy bốn quả Thanh văn để đối chiếu? Đó là ý nói rằng dù cho trong
bốn quả Thanh văn nhưng tinh thần Đại thừa vẫn hợp, vẫn không khác.
Tu-đà-hoàn không khởi nghĩ: ta được quả Tu-đà-hoàn, nếu khởi nghĩ có
quả Tu-đà-hoàn thì không gọi là Tu-đà-hoàn nữa. Tại sao Tu-đà-hoàn
gọi là Nhập lưu mà thật không có sở nhập, tức là không có chỗ nhập?
Không chỗ nhập nghĩa là sao? – Tức là không kẹt vào sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp. Như Lục Tổ không dính vào sáu trần nên Ngài
thấy được chỗ ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.
Ngài ngộ đạo tức là Ngài nhập lưu rồi, vì vậy nên Ngài thốt
lên: À, mình có một cái mà từ trước đến nay chưa từng thấy, đầy đủ,
thanh tịnh, chưa từng sanh diệt v.v… Đó là Nhập lưu mà thật không có
chỗ nào để nhập, thấy rõ không dính với sáu trần mà hiện có cái chân
thật, đó gọi là Tu-đà-hoàn, là bước vào dòng Thánh.
Đến quả Tư-đà-hàm, cũng gọi là Nhất lai. Nhất lai
mà thật không có vãng lai. Đến quả này là còn một phen qua lại,
nghĩa là còn sanh ra trên thế gian một lần nữa, như vậy tức có đến,
có đi, nhưng sự thật ở đây không có đến có đi mới gọi là Tư-đà-hàm.
Tại sao? Vì trên chỗ chân thật bất sanh bất diệt không có đến có đi,
còn thấy có đến có đi là chưa nhập được trong đó. Thế nên nói rằng
nếu còn thấy có đến có đi thì chưa phải là Tư-đà-hàm. Thật không có
đến, đi tức là an trụ, không còn qua lại nữa, đó mới là Tư-đà-hàm.
A-na-hàm tức là Bất lai, những vị này cũng không
khởi nghĩ ta được quả A-na-hàm. Tại sao? A-na-hàm là chẳng lại, song
thật không có cái chẳng lại. Có đi mới nói có lại, mà Như Lai là
vô sở tùng lai diệc vô sở khứ cố danh Như Lai,
nghĩa là Như Lai không từ đâu đến cũng không đi đâu nên gọi
là Như Lai. Ở đây tuy nói bốn quả Thanh văn nhưng sự thật đều nhằm
chỉ cái Thể chân thật Như Lai. Trên cái Thể chân thật Như Lai đó,
người nào còn khởi niệm chấp thì không thể đạt được. Thế nên
Tu-đà-hoàn do buông xả sáu trần mới nhập được thể Như Lai đó, đến
Tư-đà-hàm do an trụ được trong đó, không vãng lai, đến đây đã an trụ
rồi thì đâu còn qua lại, nếu còn qua lại thì chưa phải an trụ; đến
quả A-na-hàm nói là Bất lai mà sự thật không phải Bất lai, ấy mới
gọi là A-na-hàm.
Đến quả cuối cùng là A-la-hán. A-la-hán có khởi
nghĩ mình chứng A-la-hán không? Ngài Tu-bồ-đề nói không. Vì cớ sao?
Vì thật không có pháp tên A-la-hán… Tại sao? Trong kinh thường nói
đến A-la-hán mà ở đây nói không có pháp tên A-la-hán? Chúng ta mượn
việc thế gian để hiểu qua nghĩa Phật pháp. Như hiện giờ quí vị mỗi
người được mang một cái tên, song người biết tên quí vị là thật biết
quí vị chưa? Như có người tên là Bạch Mai nghĩa là mai trắng, khi
người khác nghe tên Bạch Mai thì có ấn tượng cô ấy chắc trắng lắm,
không ngờ người tên Bạch Mai lại đen. Vậy quí vị nghĩ thế nào? Tên
chưa hẳn thật là người phải không? Chẳng qua là giả danh do cha mẹ
hoặc Thầy Tổ đặt cho, thế nên nghe tên, biết tên chưa phải là biết
người; gặp người, thấy được người mới gọi là biết người. Tên chỉ là
giả danh bên ngoài, đâu phải là bản chất của người đó. Trong Phật
pháp cũng vậy, A-la-hán là chỉ cho cái bất sanh bất diệt, ngộ được
cái bất sanh bất diệt gọi là A-la-hán, hay sống được với cái bất
sanh bất diệt đó là A-la-hán. Như vậy, A-la-hán là một cái tên chỉ
người sống được với cái đó, tên chưa phải là bản chất bất sanh bất
diệt, vì vậy nói thật không có pháp tên A-la-hán. Tên A-la-hán chỉ
là giả danh còn cái bất sanh bất diệt đó không có tên. Vì thế ngài
Tu-bồ-đề mới nói: Bạch
Thế Tôn, nếu A-la-hán khởi nghĩ “ta được đạo A-la-hán” tức là chấp
ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.
Quí vị thấy câu này làm sáng nghĩa trên vô cùng, bởi vì
A-la-hán nếu khởi nghĩ “ta được đạo A-la-hán” là còn có ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả. Tại sao? Ta được đạo thì đạo A-la-hán là cái bị
được và ta là người hay được, như vậy tức nhiên là có ngã, mà có ngã
thì có nhân, có chúng sanh, có thọ giả không nghi ngờ gì nữa. Thế
nên đến chỗ đó Phật không thấy mình là người hay được, không thấy
mình là người hay được mới là cái được chân thật. Đến chỗ đó, nhập
vào đó mà không có niệm, không niệm thì nói gì mình được.
Quí vị thử ngồi thiền, bao giờ được yên tịnh
chừng năm phút thôi, trong năm phút yên tịnh đó quí vị thấy có cái
ngã nào dấy lên không? Có nghĩ được không? Vừa dấy niệm được là đã
mất cái an tịnh vô sanh rồi. Vừa dấy niệm được là mất liền, đó là
chỗ không dấy niệm, nếu nói mình được là đã dấy niệm tức mất quả
A-la-hán. Chỗ đó thật là tế nhị. Vì vậy đến đây ngài Tu-bồ-đề nói
thêm: Bạch Thế Tôn, Phật nói con được Vô tránh tam-muội, trong số
người đó con là bậc nhất. Vô tránh tam-muội là cái chánh định không
còn tranh luận. Chúng ta hiện nay, ngồi lại thì luôn luôn tranh
luận, tranh luận với người này, người kia… Thí dụ như buổi tối quí
vị ngồi niệm Phật, hoặc tọa thiền, lúc đó quí vị có nói chuyện với
ai không? Ngồi xuống là chúng ta bắt đầu lý luận với người này,
tranh luận với người kia, sắp đặt việc nọ… Khi ngồi đó coi như là
ngồi thiền, thiền là định mà sự thật cứ tranh luận mãi. Khi nào ngồi
mà không còn tranh luận nữa gọi là “Vô tránh tam-muội”, nghĩa là
được cái chánh định không còn tranh luận. Không còn tranh luận tức
là thanh tịnh lặng lẽ.
Ngài Tu-bồ-đề muốn chỉ rằng A-la-hán không khởi
nghĩ mình được đạo A-la-hán. Ngài lấy mình làm bằng chứng. Ngài nói:
Thế Tôn khen con ở trong số người tu về chánh định không còn dấy
động đó, con là bậc nhất. Nếu con khởi nghĩ con là người lìa dục
được A-la-hán, ắt Thế Tôn không nói con là người ưa hạnh A-lan-na.
A-lan-na cũng gọi là A-lan-nhã, tức là hạnh tịch tĩnh. Tịch là yên,
tĩnh là lặng, chỗ rất là yên lặng tức là chỗ không còn dấy động,
không còn sanh diệt. Tại sao? Vì vừa khởi nghĩ là đã động rồi, đã
động thì đâu còn ưa hạnh tịch tĩnh nữa. Ngài Tu-bồ-đề nói tiếp: Do
Tu-bồ-đề thật không có sở hành nên gọi là Tu-bồ-đề ưa hạnh A-lan-na.
Không có sở hành tức là không có chỗ dấy động, nên mới thật là người
ưa hạnh tịch tĩnh.
Như vậy rõ ràng trong đoạn này đức Phật chỉ
một tướng là không tướng.
Một tướng tức là một Tướng chân thật vô sanh, nó không có
tướng mạo. Vừa có tướng mạo hoặc là thấy mình Nhập lưu cũng chưa
phải là Tu-đà-hoàn, thấy mình Vãng lai cũng chưa phải là Tư-đà-hàm,
còn thấy mình Bất lai cũng chưa phải là A-na-hàm, còn thấy mình được
đạo A-la-hán cũng chưa phải là A-la-hán. Như vậy chỗ chân thật đó
không có tướng mạo, vừa dấy bất cứ một niệm nào về tướng mạo đều là
sai, chưa vào được chỗ đó, dù cho A-la-hán là quả cứu kính của Thanh
văn nhưng thật ra cũng phải đến chỗ đó mới gọi là A-la-hán.