KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 8/34
6. CHÁNH TÍN HY HỮU PHẦN
CHÁNH TÍN HI HŨU
ÂM:
CHÁNH TÍN HI HỮU
Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh, đắc văn như thị
ngôn thuyết, chương cú, sanh thật tín phủ?
Phật cáo Tu-bồ-đề:
– Mạc tác thị thuyết. Như Lai diệt hậu, hậu
ngũ bách tuế, hữu trì giới tu phước giả, ư thử chương cú năng sanh
tín tâm, dĩ thử vi thật, đương tri thị nhân bất ư nhất Phật, nhị
Phật, tam tứ ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn
Phật sở, chủng chư thiện căn. Văn thị chương cú, nãi chí nhất niệm
sanh tịnh tín giả, Tu-bồ-đề, Như Lai tất tri, tất kiến thị chư chúng
sanh đắc như thị vô lượng phước đức.
Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh vô phục ngã
tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, vô pháp tướng
diệc vô phi pháp tướng.
Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, nhược tâm thủ
tướng tắc vi trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ pháp
tướng tức trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược thủ
phi pháp tướng tức trước ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Thị cố bất
ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp.
Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết: Nhữ
đẳng Tỳ-kheo tri ngã thuyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng
xả, hà huống phi pháp.
DỊCH:
CHÁNH TÍN ÍT CÓ
(Người tin đúng rất ít có.)
Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật rằng:
– Bạch Thế Tôn, vả lại có chúng sanh được
nghe những lời nói và chương cú như thế, sanh lòng tin chân thật
chăng?
Phật bảo Tu-bồ-đề:
– Chớ nói như thế. Sau khi Như Lai diệt độ,
sau khoảng năm trăm năm, có người giữ giới, tu phước, đối với những
chương cú này hay sanh lòng tin cho đây là thật, nên biết người ấy
không phải ở nơi một đức Phật, hai đức Phật, ba, bốn, năm đức Phật
gieo trồng căn lành mà đã ở chỗ vô lượng ngàn muôn đức Phật gieo
trồng căn lành. Người nghe chương cú này cho đến một niệm sanh lòng
tin thanh tịnh, này Tu-bồ-đề, Như Lai ắt biết, ắt thấy các chúng
sanh ấy được vô lượng phước đức như thế.
Vì cớ sao? Vì các chúng sanh ấy không còn
có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, không có
tướng pháp cũng không tướng phi pháp.
Vì cớ sao? Vì nếu các chúng sanh ấy, tâm
còn chấp tướng là còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu còn
chấp tướng pháp tức còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vì cớ
sao? Nếu còn chấp tướng phi pháp tức còn chấp ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả. Thế nên không nên chấp pháp, không nên chấp phi pháp.
Bởi do nghĩa ấy, Như Lai thường nói:
Tỳ-kheo các ông nên biết, ta nói pháp ví dụ như chiếc bè, pháp còn
nên bỏ, huống là phi pháp.
GIẢNG:
Trong đoạn này đức Phật dạy thêm: Người nào nghe
kinh này sanh niềm tin thì người đó đã có những duyên lành như thế
nào. Trước tiên do ngài Tu-bồ-đề gợi ý, Ngài hỏi Phật rằng: Có những
chúng sanh nào được nghe chương cú này sanh lòng tin chân thật
chăng? Những chúng sanh nghe Phật nói những lời như thế, họ có tin
chăng? Đức Phật xác nhận: Sau khi Phật nhập Niết-bàn khoảng năm trăm
năm có những người biết giữ giới, biết tu phước, ngay nơi kinh Kim
Cang, họ sanh niềm tin cho là thật, là đúng thì nên biết người đó
không phải chỉ gieo trồng căn lành ở một, hai, ba, bốn, năm đức Phật
mà đã gieo trồng căn lành ở chỗ ngàn muôn đức Phật rồi. Qua lời xác
định của đức Phật, quí vị kiểm lại xem mình đã gieo trồng căn lành
bao lâu? Nơi bao nhiêu đức Phật?
Đức Phật xác nhận là nếu ngay những lời Phật dạy
mà người nào tin quả quyết đó là thật thì người đó đã gieo trồng căn
lành ở chỗ vô lượng ngàn muôn đức Phật rồi! Như vậy chúng ta có tủi
thân là mình mới phát tâm tu hay không? Hay là chúng ta đã gieo
trồng căn lành nơi nhiều chư Phật, nhưng tại chúng ta tu hành lôi
thôi nên bây giờ còn sót lại đây? Hiện nay nếu chúng ta cố gắng tu
nữa, dần dần sẽ có ngày mình đến, chớ không có căn lành thì nghe
kinh này không tin nổi. Ngày nay chúng ta nghe mà tin được và quả
quyết là Phật nói đúng chân lý, đủ niềm tin là đã có căn lành từ lâu
rồi. Song đã gieo trồng căn lành ở nhiều đời chư Phật mà còn lang
thang ở đây, thật đáng tủi hổ quá phải không? Tuy nhiên chúng ta
cũng có chút hãnh diện là đã có căn lành chớ không phải mình là con
số không, mà đã có căn lành rồi nếu quyết chí tu, chúng ta có thể
tiến được chớ không đến nỗi phải lui sụt. Do tin như thế, chúng ta
có thể cố gắng tiến tới.
Tiếp theo đức Phật hạ thấp xuống một tầng nữa.
Ngài bảo: Giả sử như có những người nghe lời dạy đây, chỉ sanh một
niệm, một niệm thôi, một niệm tin trong sạch thì người đó sẽ được
Phật thấy biết chắc chắn người đó được công đức vô lượng. Đó là cái
thấy biết của Phật như thế chớ không phải Ngài nói suông. Quí vị có
được một niệm tin trong sạch chưa? Nghe lời dạy như vậy mà được một
niệm tin trong sạch đã là công đức vô lượng rồi. Vì cớ sao? – Vì
những chúng sanh đó không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng
sanh, tướng thọ giả. Tại sao? – Vì một niệm tin trong sạch là tin
rằng nếu chúng ta còn một niệm tức là còn một chúng sanh chưa độ
được. Vậy là còn ngã, còn nhân, còn chúng sanh, còn thọ giả. Trái
lại nếu tất cả chúng sanh được độ vào Vô dư Niết-bàn rồi thì tướng
ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả đâu còn, nên nói
không còn những tướng đó.
Đức Phật lại bảo thêm: Không còn tướng pháp và
cũng không còn tướng phi pháp nữa. Thường trong nhà Phật nói pháp là
đúng pháp, phi pháp là không đúng pháp, cũng như chúng ta nói pháp
là phải, phi pháp là quấy, việc phi pháp là việc tà, việc sai quấy.
Pháp và phi pháp, hai tướng đó không còn nữa. Vì cớ sao?
Nếu tâm còn chấp tướng thì còn chấp ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả. Nếu còn chấp tướng pháp thì cũng còn chấp tướng ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả.
Pháp là phải, nếu còn chấp phải thì cũng còn ngã, nhân, chúng sanh,
thọ giả. Thí dụ việc đó là việc phải, tôi làm việc phải hay ai làm
việc phải? Hoặc tôi làm hoặc người làm? Nếu có người làm việc phải
thì người đối với mình tức có nhân là có ngã, trái lại có ngã là có
nhân. Thế nên chấp cái phải là thật thì cũng có ngã, nhân, chúng
sanh, thọ giả; chấp cái quấy là thật thì cũng có ngã, nhân, chúng
sanh, thọ giả. Vậy chẳng những chúng ta không chấp vào cái tướng của
tâm niệm mình mà cũng không nên chấp pháp phải và quấy. Có nhiều khi
mình không chấp các tướng mà chấp điều phải điều quấy là thật. Các
tướng là không thật còn điều phải quấy có thật hay không? Phải quấy
cũng là cái giả định của một thời thôi. Tùy theo mỗi thời đặt việc
này là phải thì chúng ta thấy nó phải, đặt việc kia là quấy thì
chúng ta thấy nó quấy, chớ đâu có gì là cố định. Nếu chúng ta chấp
có một cái cố định, đó cũng là chấp pháp, mà chấp pháp là cũng còn
chấp ngã. Ngã và pháp không tách rời nhau được. Chấp pháp và phi
pháp là chấp pháp; chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả là chấp ngã.
Hai cái chấp này dứt sạch thì mới an lành giải thoát. Thế nên trong
đoạn sau, đức Phật bảo: Như ta thường nói
Tỳ-kheo các ông nên biết, ta nói pháp ví dụ như chiếc bè,
pháp còn nên bỏ huống là phi pháp.
Thí dụ như chúng ta cho những câu chuyện tầm phào
ở thế gian là những lời nói bậy, là phi pháp, còn những lời dạy
trong kinh sách là lời vàng ngọc đúng pháp. Nhưng chấp phi pháp là
thật cũng bệnh, chấp pháp là thật cũng bệnh! Do đó đức Phật dạy
rằng: Lời Phật nói dụ như chiếc bè giúp người qua sông. Khi chưa qua
khỏi bờ mê thì chiếc bè rất quí, khi nương chiếc bè qua đến bờ giác
rồi, chiếc bè có còn giá trị gì nữa không? Trong kinh A-hàm đức Phật
ví dụ ở bên này bờ sông có giặc cướp đuổi hại người, có người chạy
tránh giặc cướp, muốn qua bờ sông bên kia là chỗ an lành, không tai
họa. Bấy giờ họ mới chặt tám cây kết thành bè (tám cây ví dụ cho Bát
chánh đạo) rồi nương chiếc bè qua được bên kia bờ sông. Khi qua đến
nơi, người đó bước lên bờ, dĩ nhiên chiếc bè phải bỏ lại. Như vậy
Bát chánh đạo là pháp của Phật nói mà khi đến bờ giác còn phải bỏ
huống nữa là việc phi pháp, điều sai quấy bậy bạ. Song hiện giờ, phi
pháp quí vị bỏ được chưa? Như vậy nếu nói với quí vị thì phải nói
thế nào? Phi pháp còn chẳng bỏ huống là pháp! Phật thì bảo: Pháp còn
phải bỏ huống là phi pháp. Quí vị thì trái lại phi pháp, tức là
những chuyện nói xằng nói bậy không có nghĩa gì, còn bỏ không được
huống là pháp, là cái hay, làm sao bỏ nổi! Như vậy chúng ta ngược
lại với Phật!
Tóm lại qua đoạn này, trước hết đức Phật nêu lên
người tu hành mà tin được các lời Phật nói trong kinh Kim Cang là đã
gieo trồng căn lành sâu dày rồi. Đoạn thứ hai đức Phật bảo rằng đúng
ra người tin được kinh này thì phải thấy rõ tất cả tướng ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả đều không thật. Chẳng những bốn tướng không thật
mà phải thấy tất cả tướng thế gian đều không thật và tất cả pháp
phải và không phải cũng đều không thật. Thấy được như vậy người đó
mới đúng là tin kinh này một cách chân chánh. Đây là phá chấp ngã và
chấp pháp vì ngã là giả dối thì pháp cũng là giả dối. Nếu chúng ta
biết ngã giả dối nhưng còn cho pháp là thật, đó cũng là bệnh. Lời
Phật nói chỉ có giá trị khi chúng ta còn mê và khi chúng ta nhờ lời
nói đó thoát khỏi mê lầm rồi thì phải bỏ lời đó đi. Quí vị thấy chỉ
có Phật mới dám nói như vậy, chớ ở thế gian chưa có ai dám nói như
thế. Chúng ta thấy rõ giá trị Phật pháp là ở chỗ không để chúng ta
kẹt trong một cái chấp nào. Lời Phật dạy là phương thuốc trị bệnh,
bệnh lành thì bỏ thuốc. Nghe ngôn ngữ phải biết ứng dụng để tu, chớ
không nên bám vào ngôn ngữ cho đó là cứu kính, kiếp kiếp đời đời giữ
hoài không bỏ thì vô tình chúng ta bị kẹt.
Đến bờ thì phải bỏ bè, nhưng nếu chưa đến bờ mà
vội bỏ bè thì đó là điều hiểm nguy. Thế nên việc quan trọng là chúng
ta phải nhận đúng lẽ thật, phải biết mình đang ở vị trí nào, mình là
người đến bờ hay là người mới sửa soạn bước xuống bè. Nếu vừa sửa
soạn bước xuống bè thì ráng kiếm dây ràng bè cho chắc để nhờ nó đưa
mình qua sông, còn nếu mình đã đến bờ rồi thì chiếc bè trở thành vô
nghĩa, bỏ nó không chút tiếc nuối. Người học đạo phải sáng suốt như
thế, chớ đừng lầm lẫn hai vị trí đó, chưa tới bờ mà đã vội bỏ bè,
hay đến bờ rồi mà còn giữ chiếc bè; cả hai đều là bệnh, đều lầm lẫn,
hiểu vậy là chúng ta hiểu đạo.