KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 9/34
7. VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT PHẦN
ÂM:
VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT
Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Như Lai đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề da? Như Lai hữu sở thuyết pháp da?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa, vô hữu
định pháp, danh A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, diệc vô hữu định
pháp Như Lai khả thuyết. Hà dĩ cố? Như Lai sở thuyết pháp, giai bất
khả thủ, bất khả thuyết, phi pháp, phi phi pháp. Sở dĩ giả hà? Nhất
thiết Hiền Thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt.
DỊCH:
KHÔNG ĐƯỢC, KHÔNG NÓI
Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Như Lai được
Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác chăng? Như Lai có nói pháp chăng?
Tu-bồ-đề thưa:
– Như con hiểu qua nghĩa Phật nói, không có
pháp nhất định tên là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có
pháp nhất định Như Lai có thể nói. Vì cớ sao? Vì pháp Như Lai nói
đều không thể chấp, không thể nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi
pháp. Vì cớ sao? Vì tất cả bậc Hiền Thánh đều do pháp vô vi mà có
sai biệt.
GIẢNG:
Chắc hẳn quí vị đều thắc mắc tự hỏi tại sao Phật
nói kinh mình học mà nói không nói, còn tu là cốt được đắc quả mà ở
đây Phật nói không đắc là tu làm sao? Trong đoạn trước, quí vị nhớ
đức Phật phá pháp và phi pháp. Phải và quấy đã phá rồi, đến đây cái
chúng ta quí kính nhất là pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, tức
pháp chứng quả thành Phật, pháp đó có thật hay không? Phải và quấy
không thật chúng ta đồng ý rồi, còn pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác mà Phật chứng có thật hay không? Nhiều khi những cái tầm thường
thì thấy giả, nhưng đến cái cao quí hơn thì thấy thật. Thí dụ như
chì, kẽm… chúng ta nói là giả, đến vàng lại thấy là thật. Nhưng nếu
thấy vàng là thật thì cũng còn thấy thật, vì một cái thật thì những
cái khác cũng thật luôn, cho nên pháp và phi pháp là giả rồi nhưng
đến pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác nếu chúng ta thấy thật thì
cũng là bệnh. Vì thế đức Phật mới hỏi: Vậy Như Lai có được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác hay không? Và Như Lai có nói pháp hay không?
Đó là hai câu hỏi Phật đặt ra để ngài Tu-bồ-đề trả lời. Ngài
Tu-bồ-đề thưa: Như chỗ hiểu của con qua nghĩa Phật nói, đây
là ngài Tu-bồ-đề dè dặt, những gì Ngài biết thì nói biết, những gì
học được nơi Phật thì nói con học của Phật. Thế nên Ngài thưa: Con
biết theo nghĩa của Phật nói, chớ không phải con biết theo ý riêng
của con, không có pháp
nhất định tên Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, cũng không có pháp
nhất định Như Lai nói.
Ngài trả lời dứt khoát như vậy. Tiếp theo Ngài mới giải thích
lý do. Vì cớ sao? Như Lai nói pháp đều không thể chấp, không thể
nói, chẳng phải pháp, chẳng phải phi pháp. Vì cớ sao? Câu này thật
là khó! Quí vị thấy khi chúng ta chấp pháp thấp thì đức Phật phá
pháp thấp không thật, đến khi pháp thấp phá rồi, chúng ta lại chấp
pháp cao nên ở đây đức Phật phá luôn cả pháp cao. Thường ai tu cũng
mong chứng quả thành Phật. Thành Phật rồi mới nói pháp, cũng như
Phật chứng quả rồi Ngài nói pháp vậy. Như thế Ngài có chứng đắc và
có nói pháp hay không?
Trong đoạn trước Phật đã dạy: Phàm có tướng đều
là hư vọng, và nếu còn thấy có pháp thật là cũng còn chấp ngã, nhân,
chúng sanh, thọ giả. Vậy pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác tức là
pháp thành Phật có thật không? Nếu thấy pháp đó thật thì cũng còn
tướng ngã, tướng nhân… Tại sao? Vì nói thành Phật thì hỏi ai thành?
Ta thành phải không? Thấy có pháp thành Phật thật thì phải có người
thành Phật, đó là còn ngã, còn ngã thì còn nhân, còn chúng sanh, thọ
giả. Nếu thế Phật là phàm phu mất rồi! Cho là Phật có nói pháp thật
cũng không được, vì phàm những gì nói ra đều là tướng hư giả.
Như vậy Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác hay nói
gọn là Phật, là đối với chúng sanh. Chúng sanh là mê nên Phật là
giác, giác đối với mê, hết mê rồi còn nói giác làm gì. Giác là đối
đãi với mê, mê không thật thì giác cũng không thật; và nếu mê giác
đều không thật thì có thành Phật hay không? Nếu không còn thấy có mê
thật, giác thật thì tâm không còn chấp hai bên, mà tâm không chấp
hai bên đó là như như, đó là Phật pháp thân hiện, không thấy được
thành Phật mà đã thành Phật. Hiện giờ chúng ta mơ ước thành Phật mà
không thành Phật được, vì mơ ước là vọng tưởng, mà vọng tưởng còn
thì Phật pháp thân đâu có hiện, thế nên cầu mà không được. Trái lại,
không thấy có pháp để cầu thành Phật, nên Tâm thể lặng lẽ không còn
hai bên mê giác đối đãi, do đó tâm hoàn toàn thanh tịnh, Tâm thể
thanh tịnh tức là Pháp thân Phật, là Như Lai. Không được mà được, đó
là điều không thể nói cho thế gian hiểu, vì thế gian nói hoặc là
được, hoặc là không, chớ không bao giờ nói không được mà được. Nhưng
ở đây không đắc mà đắc, không chứng mà chứng, đó mới là khó khăn,
bởi vì nếu thấy chứng đắc là còn có ngã tức là có pháp. Nếu phá được
ngã pháp rồi thì đâu còn nói chứng nói đắc, mà không chứng đắc thì
đó là Phật. Nhưng hễ nói Phật tức là có chứng có đắc rồi. Vì vậy
Phật pháp vượt ngôn ngữ của thế gian. Ngôn ngữ thế gian luôn rơi vào
hai bên hoặc được, hoặc mất, hoặc có, hoặc không. Ở đây phá hết
những chấp ngã và pháp, khi ngã và pháp hết rồi thì đó là Phật. Nếu
còn thấy có pháp để đắc là còn pháp, còn thấy mình chứng là còn ngã
thì đâu phải là Phật, ngã pháp còn làm sao gọi là Phật được. Dẹp hết
ngã pháp đó là Phật mà không có chứng, có đắc, đó mới thật là lạ.
Cho nên không chứng mà chứng, không đắc mà đắc, chớ không phải một
bề nói không đắc là không đắc. Như trong kinh Bát-nhã quí vị đọc “vô
đắc v.v…” đừng nói như vậy là không ngơ; có nhiều người nói Bát-nhã
nói cái gì cũng không, tất cả đều không. Không phải thế, khi không
còn những chấp ngã pháp thì Pháp thân mới hiện tiền. Cũng như tôi đã
nói không dính vào tất cả thì tâm mới an trụ, an trụ đó mới là an
trụ thật. Ở đây cũng vậy, nếu tâm niệm còn dính còn chấp thì tâm
niệm đó là tâm niệm cuồng loạn, là tướng sanh diệt. Không còn dính
chấp vào cái hư giả đó mới là vô sanh, mới là chân thật, cho nên
thật tướng là vô tướng, cái chỗ không tướng là tướng chân thật. Thật
rất lạ, vì vậy người học Phật nếu không tu thì không bao giờ hiểu
nổi, mình có tu rồi khi hết vọng tưởng thì thấy cái chân thật hiện
tiền, còn nếu không tu thì nghe rất lạ, ngôn từ quá khó hiểu. Thế
nên ngài Tu-bồ-đề mới nói rằng: Không có pháp cố định tên
A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cũng không có pháp cố định để Phật
nói. Vì cớ sao? Vì Như Lai nói pháp đều không nên chấp, cả pháp và
phi pháp cũng đều không chấp, vì không chấp nên nói tất cả Hiền
Thánh đều do pháp vô vi mà có sai biệt.
Thế nào là Hiền Thánh? Thí dụ như trong Tứ quả
Thanh văn: Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán thì ba quả vị
đầu còn ở bậc Hiền. Tại sao? Vì ba quả vị này còn ở trong vòng sanh.
Tu-đà-hoàn còn bảy phen sanh, Tư-đà-hàm còn một phen sanh, A-na-hàm
thì sanh trong cõi trời. Đến A-la-hán mới hoàn toàn vô sanh, mới là
vô lậu hoàn toàn nên gọi là Thánh. Đối với hàng Bồ-tát thì từ Thập
tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là bậc Hiền, từ Sơ địa trở
lên đến Thập địa mới gọi là Thánh. Như vậy các bậc Hiền Thánh sai
biệt nhau tại điểm nào? – Chính tại pháp vô vi, tức là do cái Pháp
thân bất sanh bất diệt đó. Người sống được với nó viên mãn là Thánh,
người sống được một phần nhỏ là Hiền bậc thấp, người sống được một
phần lớn hơn, là bậc Hiền cao hơn. Như thế chúng ta thấy do pháp vô
vi, bất sanh bất diệt mà có chư Hiền Thánh sai biệt, chớ không phải
căn cứ trên quyền lực gì ở bên ngoài. Cũng như hiện giờ quí vị tu,
có người mới tu ngồi trong một giờ đồng hồ, có thể có một trăm lần
vọng tưởng, có người tu khá hơn, ngồi trong một giờ chỉ còn tám mươi
lần vọng tưởng, đối với phàm phu người đó khá hơn, nếu người nào
ngồi trong một giờ mà chỉ có hai mươi lần vọng tưởng thì đó là khá
lắm. Đến khi trong một giờ mà không có một vọng tưởng nào, đó là đã
bước vào địa vị Hiền rồi. Song suốt một ngày một đêm đến hai mươi
bốn giờ mà chỉ được một giờ không vọng tưởng, đó mới được một phần
nhỏ xíu trong thời gian một ngày một đêm; nếu chúng ta thêm hai giờ
rồi đến bốn giờ không vọng tưởng… thì chỗ không vọng tưởng đó là
pháp vô vi bất sanh bất diệt. Nếu chúng ta được một ngày không vọng
tưởng, sánh với người được mười ngày không vọng tưởng thì người được
mười ngày đó tiến bộ hơn mình, mình được một năm không vọng tưởng mà
người được mười năm không vọng tưởng thì người đó cao hơn mình. Vì
vậy khi nói cao thấp là căn cứ trên pháp vô vi mình sống được trọn
vẹn hay được từng phần.
Thập tín là mới tin được mình có cái bất sanh bất
diệt thôi, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng là mới được lóe thấy,
đến Thập địa mới được từng phần rõ ràng. Thế nên nói sai biệt nhau
là căn cứ trên pháp vô vi, chớ không phải căn cứ trên cái gì bên
ngoài, không phải vị thầy thọ ký cho người này chứng cái gì, người
kia chứng cái gì v.v… mà chính trên pháp vô vi bất sanh bất diệt, ai
sống được với cái đó nhiều là cao, ai sống được với cái đó ít là
thấp, còn chưa sống được với cái đó là phàm phu. Hiểu như vậy, chúng
ta thấy người tu sở dĩ khác hơn người thế gian là ở chỗ đó. Quí vị
thử kiểm lại nếu mình biết tu chút ít thì có khác hơn người thế gian
không? Người thế gian cứ tha hồ nghĩ, cả đến khi ngủ, nằm xuống cũng
chưa chịu ngủ, vẫn nghĩ hết chuyện này đến việc kia, chừng nào ngủ
quên mới thôi. Còn chúng ta vừa khởi nghĩ là đã rầy nó rồi. Đấy là
chỗ khác nhau. Mình rầy lần lần nó cũng giảm bớt, đến bao giờ mình
vừa nhìn nó liền mất như trâu thuần thục, rồi từ từ cho đến hết
nghĩ, lúc đó mình mới sống với cái chân thật. Sự thật cái nghĩ không
phải là mình. Khi không nghĩ mình vẫn hiện tiền chớ không có mất,
nếu cái nghĩ là mình thì hết nghĩ mình mất phải không? – Không phải,
hết nghĩ mình vẫn hiện tiền, mình vẫn sờ sờ, tai vẫn nghe, mắt vẫn
thấy. Thế nên khi nào hết nghĩ thì lúc đó pháp vô vi hiện tiền. Pháp
vô vi còn gọi là Pháp thân hay là Chân tâm. Sở dĩ chúng ta sai biệt
nhau trên phương diện tu hành là sai biệt ở điểm đó, chớ đừng tính
năm tu, như tôi tu mười năm, người kia tu bảy năm, vậy người đó thua
tôi ba năm hay là người khác mới tu hai năm, thua tôi đến tám năm
v.v… Ngay nơi pháp vô vi đó, chúng ta được sâu hoặc được cạn mới là
khác nhau.