KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 28/34
26. PHÁP THÂN PHI TƯỚNG PHẦN
ÂM:
PHÁP THÂN PHI TƯỚNG
Tu-bồ-đề! Ư ý vân hà? Khả dĩ tam thập nhị
tướng quán Như Lai phủ?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Như thị, như thị! Dĩ tam thập nhị tướng quán
Như Lai.
Phật ngôn:
– Tu-bồ-đề! Nhược dĩ tam thập nhị tướng quán
Như Lai giả, Chuyển Luân Thánh vương tắc thị Như Lai.
Tu-bồ-đề bạch Phật ngôn:
– Thế Tôn! Như ngã giải Phật sở thuyết nghĩa,
bất ưng dĩ tam thập nhị tướng quán Như Lai.
Nhĩ thời Thế Tôn nhi thuyết kệ ngôn:
Nhược dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ âm thanh cầu ngã,
Thị nhân hành tà đạo,
Bất năng kiến Như Lai.
DỊCH:
PHÁP THÂN CHẲNG PHẢI LÀ TƯỚNG
Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Có thể do ba
mươi hai tướng mà xem Như Lai chăng?
Tu-bồ-đề thưa rằng:
– Như thế, như thế, do ba mươi hai tướng mà
xem Như Lai.
Phật bảo:
– Tu-bồ-đề, nếu do ba mươi hai tướng mà xem
Như Lai, thì Chuyển Luân Thánh vương tức là Như Lai.
Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật:
– Bạch Thế Tôn, như chỗ hiểu của con qua
nghĩa Phật nói, không nên do ba mươi hai tướng mà xem Như Lai.
Khi ấy Thế Tôn nói bài kệ:
Nếu do sắc thấy ta,
Do âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.
GIẢNG:
Sách Ấn Độ nói: Người có đủ ba mươi hai tướng
tốt, đi tu thì thành Phật, còn ở thế gian thì làm Chuyển Luân Thánh
vương. Như thế những Chuyển Luân Thánh vương là những vị vua hiền có
đủ ba mươi hai tướng tốt. Thế nên nếu do ba mươi hai tướng mà xem
Như Lai thì Chuyển Luân Thánh vương cũng là Như Lai sao?
Trong đoạn này, đức Phật muốn chỉ Như Lai là Pháp
thân bất sanh bất diệt. Pháp thân đó không riêng đức Phật mà tất cả
chúng ta đều có. Nơi đức Phật thì nói ba mươi hai tướng, nơi chúng
ta thì nói chừng mấy tướng? Chẳng do một tướng hoặc hai tướng tốt
hoặc không tướng tốt nào mà thấy phải không? Đức Phật sợ chúng ta
lầm chấp Pháp thân là tướng cho nên Ngài mới hỏi ngài Tu-bồ-đề: Có
thể do ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai chăng? Không biết lúc này
ngài Tu-bồ-đề muốn dùng lối trả lời sai để Phật dạy cho chúng ta,
hay là Ngài nhận không đúng, có lẽ Ngài nhận chưa ra là phải hơn.
Tại sao tôi dám nói như thế? Bởi vì trong kinh thường nói Bồ-tát từ
Sơ địa trở lên, lên mỗi địa là ngộ được một phần Pháp thân, còn
Thanh văn thì chưa thấy được Pháp thân. Đây nói về Pháp thân nên
ngài Tu-bồ-đề nhận lầm, Ngài nói rằng:
Như thế, như thế, do ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai.
Phật liền quở:
Nếu do ba mươi hai tướng thấy Như Lai thì Chuyển Luân Thánh vương có
ba mươi hai tướng là Như Lai
rồi. Câu nói sau đây của ngài Tu-bồ-đề chứng minh được lời
tôi nói ở trên. Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn, như chỗ hiểu
của con qua nghĩa Phật nói. Bởi vì về Pháp thân thì Ngài chưa ngộ,
nên Ngài nói theo
nghĩa Phật nói, chẳng nên do ba mươi hai tướng mà thấy Như Lai.
Chúng ta thấy Ngài nói rất là dè dặt. Bấy giờ đức Phật mới
kết thúc lại bằng một bài kệ:
Nếu do sắc thấy ta,
Do âm thanh cầu ta,
Người ấy hành đạo tà,
Không thể thấy Như Lai.
Do sắc thấy ta tức do ba mươi hai tướng, do âm
thanh cầu ta tức là do những thứ tiếng mà cho là Như Lai. Cả hai sắc
tướng và âm thanh là tướng sanh diệt, nếu dùng cái sanh diệt mà cầu
Phật, đó là đạo tà, không thể thấy được Pháp thân. Bài kệ này cốt
nói về Pháp thân phi tướng.
Hiện nay có nhiều người xuyên tạc: Không do sắc
thấy ta, không do âm thanh cầu ta, ta đây là chỉ cho Phật, như vậy ở
chùa thờ Phật thì có sắc, gióng chuông, đánh mõ tụng kinh ra tiếng
đó là âm thanh, nếu lấy cái đó tu để cầu thành Phật là đạo tà, không
thể nào thấy Phật. Đó là lối xuyên tạc, thật là đại xuyên tạc. Ở đây
Phật bảo: Không do sắc thấy ta, không do âm thanh cầu ta là để nói
đó là hai tướng sanh diệt, dù âm thanh không tướng nhưng cũng là
sanh diệt, đem cái sanh diệt để cầu Như Lai tức Pháp thân bất sanh
bất diệt thì không đúng, nên nói đó là hành đạo tà, không thể thấy
được Pháp thân. Như thế muốn thấy Pháp thân phải làm sao? Như Phật
đã nói: Không do ba mươi hai tướng mà thấy Phật. Phải nhận ngay khi
tất cả tâm vọng tưởng lặng xuống rồi, lúc đó cái chân thật hiển lộ.
Cái chân thật đó không phải là cái sanh diệt nên không phải là sắc
tướng, là âm thanh. Nếu chạy theo sắc tướng, âm thanh là lầm. Vậy ở
chùa thờ Phật, tụng kinh gõ mõ đánh chuông có tiếng, như thế có phải
đạo tà không? Dùng sắc, dùng thanh để dừng cái điên đảo vọng tưởng,
để lặng những tâm niệm đang chạy theo sáu trần, như thế mượn âm
thanh sắc tướng để lặng vọng tưởng rồi sẽ thấy Như Lai thì có lỗi
gì? Đâu phải tà. Còn những người không theo sắc tướng, nhưng không
biết làm gì để Như Lai hiện thì có tà không? Hoặc là không theo sắc
tướng, nhưng ngồi tưởng xuất hồn lên trời v.v… thì có tà không? Như
thế là hiểu lầm, hiểu sai.
Trong nhà Phật có nhiều lối tu, tôi nói để quí vị
rõ. Sự truyền bá đạo Phật đã hơn hai ngàn năm, qua nhiều thời, nhiều
vị đệ tử Phật có đủ khả năng, đủ sáng kiến, nên các ngài khéo linh
động lập ra nhiều pháp tu, tuy cùng một gốc. Theo danh từ nhà Phật
gọi là từ thể bất biến nhưng khéo tùy duyên, tuy tùy duyên mà thể
vẫn bất biến. Nghĩa là từ chỗ chân thật Phật dạy, các ngài khéo tùy
duyên, tùy thời, tùy căn cơ mà linh động, khi dùng pháp này, khi
dùng pháp kia… Như người mới vào chùa không hiểu cách tu hành làm
sao nhiếp tâm, cứ buông lung cho nó chạy ngược, chạy xuôi, bảo ngồi
thiền thì họ chưa thông, hoặc bảo họ chăn trâu, họ không biết làm
sao chăn, thì bảo: Thôi, cứ lên chùa tụng kinh, đánh chuông gõ mõ,
nhìn Phật, cốt chú ý vào kinh đừng nghĩ bậy có tội! Khi lên gõ mõ
tụng kinh mà không nghĩ bậy, thì đó là một giờ hoặc nửa giờ yên được
một phần vọng tưởng thì đâu phải là tà. Đó là phương tiện của kẻ sơ
cơ, là phương tiện trong giai đoạn động. Những người không hiểu cứ
chấp phải ngồi khơi khơi để nó không ngơ như bầu trời không mới
đúng, thì đó là bệnh. Thế nên người tu phải khéo có phương tiện, với
người thế nào nên dùng hình sắc độ họ, với người thế nào nên dùng âm
thanh độ họ v.v… tùy phương tiện để giúp họ dừng tâm điên đảo vọng
tưởng, đó là tài của người giáo hóa chớ đừng cố chấp. Nhưng đa số
người học hay cố chấp, nghe cái nào là chấp cái ấy, như nghe nói
dùng sắc tướng âm thanh cầu ta là hành đạo tà,
khi thấy cái gì có sắc tướng liền bảo đó là tà, cái gì có âm
thanh liền bảo đó là tà… Đó là tự mình tà chớ không phải đạo tà. Tự
mình tà nghĩa là mình chưa biết tới chỗ cứu kính.
Tóm lại trong đoạn này đức Phật cốt chỉ cho chúng
ta thấy Pháp thân không phải là sắc tướng, không phải là âm thanh.
Âm thanh và sắc tướng là sanh diệt mà Pháp thân là bất sanh bất
diệt, nếu kẹt vào tướng và âm thanh, cho đó là thật, đó là đạo tà.
Nếu biết sắc tướng âm thanh là giả thì không phải tà. Thế nên tôi
thường dặn quí vị mỗi khi lễ Phật phải nhớ mãi câu chúng ta đọc:
“Năng lễ sở lễ tánh không tịch.” Chúng ta là người hay lạy, đức Phật
là vị để mình lạy, cả hai đều Tự tánh là không, là lặng lẽ, nhưng
duyên hợp thì giả có. Chúng ta thấy rõ như vậy, chớ không phải thấy
Phật ngồi trên bàn là thật và mình đây là thật. Hiểu như vậy làm sao
gọi là tà được! Chỉ tại những người không hiểu, đọc là cứ đọc thôi
cho nên thành tà! Như thế nếu trì bốn câu kệ này, chúng ta có thể
được công đức như Phật nói ở đoạn trước không? Nghĩa là nếu cứ thọ
trì mãi bốn câu này, thì chúng ta có thể tỉnh giác không? Đừng nghĩ
Như Lai là Phật Thích-ca. Phải nhớ Như Lai là Pháp thân thường hằng
của chúng ta. Pháp thân đó không thuộc sắc tướng thì đâu có chấp
ngã, nó cũng không thuộc âm thanh thì đâu có chấp âm thanh. Tất cả
âm thanh sắc tướng sanh diệt đều không chấp tức là không hành đạo
tà, như thế mới thấy được Pháp thân. Nếu nhớ và sống như thế thì
chúng ta giác ngộ rồi. Thế nên bài kệ này rất quan trọng.