KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 10/34
8. Y PHÁP XUẤT SANH PHẦN
Ý PHÁP XUẤT SANH
ÂM:
Y PHÁP XUẤT SANH
– Tu-bồ-đề, ư ý vân hà? Nhược nhân mãn tam
thiên đại thiên thế giới thất bảo, dĩ dụng bố thí, thị nhân sở đắc
phước đức, ninh vi đa phủ?
Tu-bồ-đề ngôn:
– Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thị phước đức
tức phi phước đức tánh, thị cố Như Lai thuyết phước đức đa.
– Nhược phục hữu nhân ư thử kinh trung thọ trì
nãi chí tứ cú kệ đẳng, vị tha nhân thuyết, kỳ phước thắng bỉ. Hà dĩ
cố? Tu-bồ-đề, nhất thiết chư Phật cập chư Phật A-nậu-đa-la tam-miệu
tam-bồ-đề pháp, giai tùng thử kinh xuất. Tu-bồ-đề, sở vị Phật pháp
giả tức phi Phật pháp.
DỊCH:
Y NƠI CHÁNH PHÁP MÀ SANH RA TẤT CẢ QUẢ VỊ
– Này Tu-bồ-đề, ý ông nghĩ sao? Nếu có
người dùng bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới để bố thí,
người ấy được phước đức thật nhiều chăng?
Tu-bồ-đề thưa:
– Bạch Thế Tôn rất nhiều! Vì cớ sao? Vì
phước đức ấy tức chẳng phải là tánh phước đức, thế nên Như Lai nói
phước đức nhiều.
– Nếu lại có người ở trong kinh này, thọ
trì cho đến bốn câu kệ v.v… vì người khác giảng nói thì phước đức
này còn hơn phước đức của người kia. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, tất cả
chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật đều từ
nơi kinh này ra. Này Tu-bồ-đề, nói là Phật pháp đó tức chẳng phải
Phật pháp.
GIẢNG:
Quí vị nghe giải nghĩa đoạn này có dễ hiểu không?
Đức Phật nói rằng: Giả sử có người đem bảy báu (vàng, bạc, lưu-ly,
pha lê, xa-cừ, xích châu, mã não) đầy dẫy cả tam thiên đại thiên thế
giới ra bố thí, tam thiên đại thiên thế giới quá rộng đối với chúng
ta, giả sử đem bảy báu đầy dẫy cả thế giới của chúng ta ra bố thí
thì quí vị nghĩ phước nhiều ít? Thật tình là phước rất nhiều. Cho
nên ngài Tu-bồ-đề thưa: Bạch Thế Tôn phước rất nhiều. Nhưng khi nói
phước rất nhiều ngài Tu-bồ-đề sợ chúng ta hiểu lầm Ngài thấy phước
đức là một việc có thật cho nên Ngài nói:
Phước đức ấy không phải tánh phước đức thế nên nói là
phước đức nhiều. Bởi vì theo tinh thần kinh Kim Cang lúc nào đức
Phật cũng chỉ cho chúng ta thấy rằng tất cả pháp ở thế gian, từ
những hình tướng đến tâm tưởng danh ngôn đều là pháp nhân duyên, mà
đã là nhân duyên hòa hợp thì không có Tự tánh, tức là chúng không có
cái tánh thật. Quí vị nhớ phàm những gì do nhân duyên hòa hợp thì tự
Bản tánh nó không có thật, nếu có thật thì đâu do duyên hòa hợp. Đã
là hòa hợp thì ngay Bản tánh nó không thật, phải do cái này cái kia
hợp lại thành, nếu có cái thật thì không đợi duyên hợp. Thế nên ngài
Tu-bồ-đề sợ chúng ta hiểu lầm là phước đức có Tự tánh thật nên Ngài
nói tiếp: Phước đức ấy tức không phải tánh phước đức nên nói phước
đức nhiều. Nó không có tánh cố định vì vậy mà nói nhiều. Nói nhiều
là một lối nói tùy theo tâm niệm, tùy theo sở chấp của chúng sanh,
chớ không phải nó có tánh thật. Đức Phật đưa thí dụ trước, tiếp theo
Ngài mới so sánh với pháp. Nếu có người đem bảy báu, chúng ta chỉ
nói một thứ báu tầm thường là vàng thôi, giả sử có người đem vàng
đầy chùa này ra bố thí, quí vị nghĩ phước đức nhiều ít? Mấy mươi
kiếp mình làm chưa đủ vàng chứa đầy chùa này, nếu đem bao nhiêu đó
ra bố thí thì phước cũng quá nhiều rồi, huống nữa là đầy dẫy cả quả
địa cầu. Song thử hỏi chừng bao nhiêu kiếp chúng ta làm được số vàng
đầy dẫy cả quả địa cầu? Một đời mình, nếu may mắn làm đâu được đó
thì cũng chỉ có thể làm được chừng vài trăm lượng, tức khoảng chừng
một giỏ xách. Làm đâu được đó trong một đời mà chỉ được chừng một
giỏ xách thì bao nhiêu đời mới được một làng, rồi bao nhiêu đời mới
đầy cả một nước, bao nhiêu đời mới đầy được cả thế giới? Nếu tính số
vàng đầy cả tam thiên đại thiên thế giới thì ít ra phải cả triệu
triệu kiếp mới có thể có được. Cả triệu triệu kiếp khổ công nhọc
nhằn mà gom lại đem bố thí hết thì chúng ta tưởng tượng phước đức
nhiều ít? Không thể tính nổi. Bấy giờ đức Phật mới so sánh: Nếu có
người ở trong kinh này thọ trì cho đến bốn câu kệ v.v…, vì người
khác nói thì phước của người thọ trì bốn câu kệ này còn hơn phước
của người bố thí bảy báu kia. Quí vị tin nổi không? Đó là điều thật
hi hữu, thật khó tin mà tin được là chuyện phi thường. Vậy mà tôi
tin, chuyện khó tin mà tin được mới là lạ. Như tôi thường ví dụ mỗi
sáng chúng ta thấy những hạt sương đọng ở đuôi những lá cây, khi mặt
trời lên những hạt sương đó lóng lánh giống như những hạt kim cương,
những hạt kim cương đem ra ngoài ánh nắng cũng lóng lánh như thế.
Nhưng có người được hạt kim cương chừng bằng ngón tay cái, có người
nói: À hạt kim cương của chị lóng lánh như những hạt sương trên lá
cây, chúng tôi xin đổi hạt kim cương này bằng một triệu hạt sương
lóng lánh đó. Thử hỏi quí vị chịu không? – Không chịu. Mười triệu
hạt sương, một tỷ triệu hạt sương được không? Vẫn không đồng ý. Khắp
cả thế giới có bao nhiêu hạt sương tôi hốt hết đem đổi hạt kim
cương, quí vị đồng ý không? – Dĩ nhiên là không. Tại sao? – Bởi kim
cương là thật, hạt sương là giả, bởi giả cho nên bao nhiêu cũng
không đổi được cái thật.
Trên nhân gian này, khi người ta quan niệm vàng
là quí thì vàng là quí, nếu người ta cho rằng vàng không quí thì
vàng hết quí. Như vậy cái quí đó chỉ là do quan niệm của con người,
chớ không phải nó thật quí. Nó là cái giả tạm do con người đặt ra.
Trì đây đừng hiểu là đọc. Thí dụ như cứ đọc
“phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư
tướng phi tướng tức kiến Như Lai”,
đọc mãi như vậy có phải là trì chưa? Đừng hiểu chữ trì
theo nghĩa quá tầm thường đó. Trì là thọ trì, thọ là nhận, trì là
giữ. Chúng ta nhận hiểu được kinh Kim Cang và sống được với nó gọi
là trì; thọ trì là sống được với Trí tuệ Bát-nhã, mà Trí tuệ Bát-nhã
là cái chân thật muôn đời muôn kiếp không bao giờ hoại. Song đối với
đức Phật, Ngài thấy nó thật, còn đối với chúng ta, vì chưa thấy nên
khó hiểu, khó tin. Như vậy Trí tuệ Bát-nhã là cái thật, tất cả vàng
bạc của báu thế gian là cái giả, vậy phải đem bao nhiêu cái giả để
chúng ta đồng ý đổi một cái thật? Cũng như phải đem bao nhiêu hạt
sương lóng lánh để chúng ta nhận đổi một hạt kim cương? Chắc chắn
không bao giờ chúng ta đồng ý. Cái giả dù nhiều thế mấy cũng không
bì được một cái thật. Cho nên khi nào chúng ta ngộ được thể Kim cang
Bát-nhã, chúng ta mới thấy rằng tất cả thế gian không cái gì bì được
với nó cả. Vì thế đức Phật bảo: Dù đem bao nhiêu của báu thế gian bố
thí, công đức cũng không bằng trì bốn câu Kim Cang. Thọ trì nghĩa là
sống được với cái chân thật đó thì muôn triệu cái giả cũng không bì
kịp. Lại vì người khác nói, chỉ cho người biết và sống được thì đó
là phước đức không có gì bì kịp.
Kế đến, đức Phật bảo: Này
Tu-bồ-đề, tất cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác
của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Câu này quí vị làm sao hiểu?
Như vậy sẽ có người hỏi: Phật nói kinh Kim Cang mà
tại sao kinh Kim Cang lại nói rằng chư Phật đều từ kinh này ra? Vậy
kinh này sanh ra Phật hay Phật sanh ra kinh này? Do đó có một nghi
vấn là: Kinh có trước hay Phật có trước? Nếu kinh này sanh ra chư
Phật thì kinh có trước. Nhưng mà ai nói kinh? Phật nói kinh là Phật
có trước. Tại sao nói chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh
giác của chư Phật đều từ kinh này ra? Như thế tức là kinh này có
trước. Nếu chúng ta hiểu kinh này theo nghĩa văn tự thì không bao
giờ hiểu nổi. Có một vị hỏi một Thiền sư: Pháp có trước hay Phật có
trước? Thiền sư trả lời: Nói thì Phật trước pháp sau, nghe thì pháp
trước Phật sau. Câu trả lời đó quí vị hiểu không? Nói thì Phật trước
pháp sau, tại sao? Bởi vì nói thì đức Phật ngộ đạo rồi Ngài mới nói
được kinh, tức là Phật trước pháp sau. Còn nghe thì pháp trước Phật
sau, quí vị là người chưa ngộ cho nên nghe kinh rồi mới ngộ, sau mới
thành Phật, vậy là pháp trước Phật sau.
Ở đây nói kinh này là mẹ tất cả chư Phật và cả
pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Trí tuệ Kim cang Bát-nhã là
trí tuệ bất sanh bất diệt. Trí tuệ đó ai cũng sẵn có, nếu quên nó là
chúng sanh, ngộ được nó thì thành Phật. Nhân ngộ trí tuệ đó mà thành
Phật thì chính trí tuệ đó sanh ra Phật, nhân trí tuệ đó diễn đạt cho
người ta hiểu, là pháp. Như vậy là từ trí tuệ đó sanh ra pháp Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác. Thế nên nói “Kinh này” không có nghĩa
đơn giản là bao nhiêu chữ, bao nhiêu tờ mà là chỉ thẳng Trí tuệ
Bát-nhã chân thật. Vì kinh này nói về Trí tuệ Bát-nhã chân thật nên
trí tuệ đó tức là kinh này. Hiểu như thế mới gọi là hiểu. Trì bốn
câu kệ của kinh này là trì ngay tinh thần của kinh chớ không phải
trì văn tự của kinh. Có nhiều người nói kinh này phước lớn quá, nên
ngày nào cũng đọc bốn câu kệ rồi tự hào rằng tôi có phước đức vô
lượng vô biên, như vậy đúng chưa? Đó là chúng ta chấp tướng chớ chưa
đúng được tinh thần công đức. Thế nên ở đây nói kinh này để chỉ cho
Trí tuệ Bát-nhã bất sanh bất diệt, là mẹ của chư Phật, là mẹ của tất
cả kinh.
Đức Phật lại bảo ngài Tu-bồ-đề: Nói Phật pháp tức
không phải Phật pháp. Vì chúng ta nghe nói Phật pháp rồi chấp thật
Phật pháp, nên Phật liền bác không phải Phật pháp. Tại sao? Vừa có
ngôn từ Phật pháp thì ngôn từ đó cũng là tướng duyên hợp. Thể của
danh từ Phật pháp là không thật, nhưng tùy theo chúng sanh mê, gọi
đó là Phật pháp để cảnh tỉnh họ. Bản chất của Phật pháp không thật
nên nói không phải Phật pháp, vì tùy chúng sanh nên gọi là Phật
pháp.