KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 18/34
16. NĂNG TỊNH NGHIỆP CHƯỚNG PHẦN
ÂM:
NĂNG TỊNH NGHIỆP CHƯỚNG
Phục thứ Tu-bồ-đề! Nhược thiện nam tử, thiện
nữ nhân thọ trì, độc tụng thử kinh, nhược vi nhân khinh tiện, thị
nhân tiên thế tội nghiệp, ưng đọa ác đạo, dĩ kim thế nhân khinh tiện
cố, tiên thế tội nghiệp tắc vi tiêu diệt, đương đắc A-nậu-đa-la
tam-miệu tam-bồ-đề.
Tu-bồ-đề! Ngã niệm quá khứ vô lượng a-tăng-kỳ
kiếp, ư Nhiên Đăng Phật tiền đắc trị bát bách tứ thiên vạn ức
na-do-tha chư Phật, tất giai cúng dường thừa sự vô không quá giả.
Nhược phục hữu nhân ư hậu mạt thế năng thọ trì độc tụng thử kinh, sở
đắc công đức, ư ngã sở cúng dường chư Phật công đức, bách phần bất
cập nhất, thiên vạn ức phần, nãi chí toán số thí dụ sở bất năng cập.
Tu-bồ-đề! Nhược thiện nam tử, thiện nữ nhân, ư
hậu mạt thế, hữu thọ trì độc tụng thử kinh, sở đắc công đức, ngã
nhược cụ thuyết giả, hoặc hữu nhân văn tâm tắc cuồng loạn hồ nghi
bất tín. Tu-bồ-đề! Đương tri thị kinh nghĩa bất khả tư nghị, quả báo
diệc bất khả tư nghị.
DỊCH:
HAY LÀM SẠCH CÁC NGHIỆP CHƯỚNG
Lại nữa, này Tu-bồ-đề! Nếu có người thiện
nam, thiện nữ thọ trì đọc tụng kinh này, nếu bị người khinh chê,
người này do tội nghiệp đời trước lẽ ra phải đọa trong đường ác, do
đời này bị người khinh chê nên tội nghiệp đời trước ắt là tiêu diệt,
sẽ được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Này Tu-bồ-đề, ta nhớ thuở quá khứ vô lượng
a-tăng-kỳ kiếp, ở trước đức Phật Nhiên Đăng, ta được gặp tám trăm
bốn ngàn muôn ức na-do-tha các đức Phật, ta đều cúng dường thờ phụng
không sót một vị nào. Nếu lại có người ở đời mạt pháp sau này hay
thọ trì đọc tụng kinh này, được công đức, đối với công đức cúng
dường chư Phật của ta, trăm phần chẳng bằng một, ngàn muôn ức phần
cho đến toán số thí dụ đều không thể bằng.
Này Tu-bồ-đề! Nếu người thiện nam thiện nữ
ở đời mạt pháp sau này, có người thọ trì đọc tụng kinh này, được
công đức, nếu ta nói cho đủ hoặc có người nghe tâm tất cuồng loạn,
hồ nghi, không tin. Này Tu-bồ-đề, nên biết kinh nghĩa này không thể
nghĩ bàn nên quả báo cũng không thể nghĩ bàn.
GIẢNG:
Trước khi giảng qua phần thứ mười sáu, tôi nhắc
lại phần trước một chút khi nói về bố thí thân. Tôi dẫn một ví dụ
nhỏ để quí vị thử xem mình dám bố thí không. Giả như ban đêm chúng
ta ngủ, mộng thấy đi nơi này, nơi kia và cũng có nhà cửa đủ các thứ.
Đến một lát sau giật mình tỉnh cơn mộng, đó là mộng số một, thân
mộng số một. Đến khuya lại mộng lần nữa, cũng thấy cảnh thân v.v… đó
là mộng số hai. Như vậy cọng lại, cả đời mình bao nhiêu lần mộng?
Không biết mấy ngàn cái mộng. Trong mấy ngàn mộng đó, đều có thân có
cảnh. Giả sử có người đem hết các thân cảnh trong mộng đó đổi lấy
thân của một đứa nhỏ chừng năm, ba tuổi, quí vị chịu đổi không? Bao
nhiêu thân và cảnh trong mộng đó, dù là cả trăm ngàn thân và cảnh
mộng, đem đổi một đứa bé thật độ năm, ba tuổi thì ai chịu đổi? Thân
của đứa bé sống dài lắm chỉ là chín mươi năm thôi mà đổi bao nhiêu
thân trong mộng mình còn không chịu đổi thay! Trong mỗi giấc mộng
đều có thân có cảnh nhưng khi hết mộng thì mất, vậy thân cảnh trong
mộng đó thật hay giả? Trong mộng thì ai nói giả được, chỉ khi thức
rồi mới biết nó giả. Hiện tại chúng ta cũng giống như thế, bao nhiêu
thân cảnh chúng ta đang sống – nghĩa là đang mê – thì đều thấy nó
thật cả, nên nếu đổi nó với một thân chân thật thì chúng ta không
đồng ý. Nhưng đến chừng giật mình thức giấc, tức là được tỉnh rồi,
khi đó mới thấy rằng đổi bao nhiêu thân mộng cho một cái thân thật
này cũng không xứng đáng nữa. Song phải đợi tỉnh đã, bây giờ còn mê
thì thấy nó quí vô ngần!
Đến phần mười sáu, trước hết đức Phật bảo rằng
nếu có người thiện nam thiện nữ hay thọ trì đọc tụng kinh này, nếu
người đó bị người ta chê bai thì đó là do tội đời trước, đáng lý họ
phải đọa trong địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh nhưng hiện đời này bị chê
bai cho nên tội nghiệp đời trước liền tiêu diệt, sẽ được Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy Phật nói rất rõ. Ai trì kinh này thì
tội nghiệp đời trước sẽ giảm đi, lý đáng phải bị đọa trong địa ngục,
ngạ quỉ, súc sanh nhưng nhờ trì kinh này nên chỉ bị người chê bai
thôi và tương lai sẽ được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như thế,
nếu có người nói: coi chừng trì kinh này thì đổ nghiệp, quí vị phải
trả lời thế nào? Người đó nói theo Phật hay nói theo ai? Phật bảo
một đàng mà nói một ngả thì đó là ma nói rồi. Nói đổ nghiệp để ngăn
không cho người ta trì kinh, đó là ngăn trở người ta tu hành phải
không? Ở đây Phật khuyên chúng ta trì kinh để giảm nghiệp, đáng lẽ
phải đọa trong ba đường ác mà bây giờ chỉ bị chê bai một chút thôi
thì nhẹ biết chừng nào, vậy là giảm tối thiểu đó. Thế mà có người
nói coi chừng tụng kinh Kim Cang thì đổ nghiệp, quí vị xác định cho
kỹ xem câu nói đó là ai nói? Câu đó là ma nói. Giả sử người cạo tóc
ở chùa mà nói câu đó thì không phải là người tu nữa, vì Phật bảo:
Ngoài kinh mà nói là ma nói. Ở đây kinh chỉ rõ ràng mà họ nói khác
đi, không có chỗ y cứ thì không phải ma là gì? Như vậy quí vị nên dè
dặt đừng nói sai kinh mà mang tội. Thế nên chúng ta phải hiểu rõ lời
Phật dạy. Nếu có ai hỏi: “tôi có thể trì kinh Kim Cang được không và
trì kinh Kim Cang có đổ nghiệp không”, thì quí vị trả lời ra sao?
Chúng ta phải nói: Trì kinh Kim Cang là giảm nghiệp chớ không phải
đổ nghiệp và dẫn câu này làm chứng:
Nếu có người trì kinh này bị người khinh chê, người này do
tội ác đời trước, lẽ ra bị đọa đường ác mà đời này bị người khinh
chê nên nghiệp ác đời trước hết và sau sẽ thành Phật.
Tiếp theo đức Phật so sánh công đức trì kinh,
trong đoạn trước Ngài so sánh với công đức bố thí nội tài và ngoại
tài rồi, đến đây Ngài so sánh với công đức cúng dường Phật. Ngài bảo
rằng: Trước đức Phật Nhiên Đăng (đến Phật Nhiên Đăng, Ngài được thọ
ký thành Phật), Ngài đã gặp tám trăm bốn ngàn muôn ức na-do-tha chư
Phật, Ngài đều cúng dường thờ phụng không sót một vị nào. Nếu trong
đời mạt pháp này có người trì kinh Kim Cang, thì sánh với công đức
Ngài cúng dường bao nhiêu đức Phật đó, công đức của Ngài không bằng
một phần công đức của người trì kinh Kim Cang kia, cho đến toán số
thí dụ cũng không bì kịp. Như vậy quí vị có tin nổi không? Quí vị có
cúng dường được đức Phật nào chưa? Thật ra trong kinh nói: Ra đời mà
gặp Phật là quí vô lượng vô biên, huống nữa là cúng dường bao nhiêu
đức Phật, vậy mà không bằng người trì kinh Kim Cang là tại sao? Cúng
dường đó là chúng ta đem cái gì cúng dường? Của cải bên ngoài và tâm
thành kính bên trong của mình phải không? Nhưng tâm thành kính đó là
sanh diệt hay là bất sanh diệt? Tâm thành kính cúng dường đó là tâm
sanh diệt, của cải cũng là tướng sanh diệt. Trì kinh là không còn
thấy ngã thật, nhân thật mà thấy được ngay nơi mình có trí Kim cang,
nhận ra được Trí chân thật đó tức là trì kinh Kim Cang. Như vậy bao
nhiêu cái sanh diệt kia đâu bì được với cái chân thật. Thế nên Phật
bảo công đức cúng dường không bằng một phần công đức trì kinh. Nhưng
hiện nay nghe nói cúng dường thì thích mà nói trì kinh thì ngán phải
không? Nếu bảo quí vị tổ chức lễ cúng dường Phật, cúng dường chư
Tăng được phước vô lượng thì ai cũng chịu, nếu bảo trì kinh Kim Cang
thì ai cũng ngán. Chao ôi! Kinh gì nói không có ngã, không có nhân,
không có chúng sanh, thọ giả, vậy chớ ai đây? ai kia? Cứ thấy mình
thật, người thật nên không kham trì kinh Kim Cang, chớ nếu hiểu rõ
ngã, nhân và pháp đều là tướng hư giả không thật thì người trì kinh
Kim Cang là công đức vô kể.
Thế nên đức Phật mới bảo rằng:
Này Tu-bồ-đề, nếu có người thiện nam thiện nữ nào ở trong
đời mạt pháp thọ trì kinh Kim Cang, thì công đức của người đó nếu ta
nói cho đủ hoặc có người nghe thì tâm họ sanh cuồng loạn hồ nghi.
Vì quá sức tưởng tượng của con người nên họ hoảng hốt, họ hồ
nghi, không tin. Ngài bảo thêm:
Nên biết nghĩa của kinh này không thể nghĩ bàn cho nên quả
báo cũng không thể nghĩ bàn.
Tại sao nghĩa không thể nghĩ bàn? Vì Kim cang Bát-nhã là Trí
chân thật bất sanh bất diệt của chúng ta, là Chân tâm bất sanh bất
diệt hay Pháp thân bất sanh bất diệt của mình, cái đó không bị giới
hạn trong thời gian và không gian. Bởi không giới hạn trong thời
gian, không gian nên thường nói là tuyệt đối, vượt ngoài đối đãi.
Còn tất cả pháp thế gian đều nằm trong tương đối, vì tương đối nên
là tướng sanh diệt. Quí vị kiểm lại xem trong cuộc sống này có cái
gì không phải là tương đối? Như tối và sáng là tương đối, cho nên
hiện giờ sáng, một lát nữa tối, rồi đến sáng, sáng tối đuổi nhau
sanh diệt. Như vậy sáng tối là tương đối nên là tướng sanh diệt. Nam
nữ cũng là tương đối cho nên nam nữ hợp là có sanh, sanh thì có tử,
đó là tướng sanh diệt. Trên thế gian này tất cả đều là tương đối, đó
là pháp sanh diệt. Pháp sanh diệt bì sao được với pháp không sanh
diệt. Thế nên nghĩa của pháp không sanh diệt cao siêu vô tận và quả
báo cũng vô tận. Còn nghĩa của pháp sanh diệt là hữu tận thì quả báo
cũng hữu tận. Đem cái hữu tận so với cái vô tận thì không bao giờ
sánh kịp.
Quí vị hiểu như thế nào? Hiểu qua lời giải chớ
chưa hiểu thật sự. Người nào thấy rõ thân này là ảo mộng là huyễn
hóa như bọt như bóng, thấy cảnh cũng vậy thì người đó mới thật hiểu,
người đó là người trì kinh Kim Cang. Còn nếu hiểu mơ hồ, vẫn thấy
mình là thật thì chưa trì nổi kinh Kim Cang. Nếu có, đó là trì bằng
chữ, bằng ngôn ngữ chớ chưa phải trì bằng tâm trí quán chiếu. Trái
lại nếu thấy rõ hoặc xét rõ thân cảnh là tướng duyên hợp hư giả, đó
là trì bằng trí tuệ quán chiếu. Trì bằng chữ nghĩa gọi là Văn tự
Bát-nhã, còn dùng trí soi xét quán chiếu đó là Quán chiếu Bát-nhã.
Sống được với Trí tuệ bất sanh bất diệt, đó là Thật tướng Bát-nhã,
đó mới là bất sanh bất diệt. Quí vị nhớ nên ứng dụng cái thứ hai hơn
là cái thứ nhất, vì văn tự chữ nghĩa đọc qua rồi mất, còn quán chiếu
mới thấm sâu vào trong, đó là cái để đi đến Thật tướng.