KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 17/34
15. TRÌ KINH CÔNG ĐỨC PHẦN
ÂM:
TRÌ KINH CÔNG ĐỨC
Tu-bồ-đề! Nhược hữu
thiện nam tử thiện nữ nhân, sơ nhật phần, dĩ Hằng hà sa đẳng thân bố
thí, trung nhật phần phục dĩ Hằng hà sa đẳng thân bố thí, hậu nhật
phần diệc dĩ Hằng hà sa đẳng thân bố thí. Như thị vô lượng bách
thiên vạn ức kiếp dĩ thân bố thí. Nhược phục hữu nhân văn thử kinh
điển, tín tâm bất nghịch, kỳ phước thắng bỉ, hà huống thư tả, thọ
trì độc tụng vị nhân giải thuyết.
Tu-bồ-đề! Dĩ yếu ngôn
chi, thị kinh hữu bất khả tư nghị, bất khả xứng lượng, vô biên công
đức, Như Lai vị phát Đại thừa giả thuyết, vị phát Tối thượng thừa
giả thuyết. Nhược hữu nhân năng thọ trì độc tụng, quảng vị nhân
thuyết, Như Lai tất tri thị nhân, tất kiến thị nhân, giai đắc thành
tựu bất khả lượng, bất khả xứng, vô hữu biên, bất khả tư nghị công
đức. Như thị nhân đẳng tắc vi hà đảm Như Lai A-nậu-đa-la tam-miệu
tam-bồ-đề. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề! Nhược nhạo tiểu pháp giả, trước ngã
kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến, tức ư thử kinh bất
năng thính thọ độc tụng, vị nhân giải thuyết.
Tu-bồ-đề! Tại tại xứ
xứ, nhược hữu thử kinh, nhất thiết thế gian thiên, nhân, a-tu-la sở
ưng cúng dường. Đương tri thử xứ tắc vi thị tháp, giai ưng cung kính
tác lễ vi nhiễu, dĩ chư hoa hương nhi tán kỳ xứ.
DỊCH:
CÔNG ĐỨC TRÌ KINH
Tu-bồ-đề! Nếu có người thiện nam thiện nữ,
buổi sáng đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi trưa
lại đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, buổi chiều cũng
đem thân mạng bằng số cát sông Hằng ra bố thí, như thế vô lượng trăm
ngàn muôn ức kiếp đem thân mạng bố thí. Nếu lại có người nghe kinh
điển này, lòng tin không nghịch, phước của người này hơn phước của
người kia, huống là chép viết, thọ trì, đọc tụng, vì người giải nói.
Này Tu-bồ-đề! Tóm tắt mà nói, kinh này có
công đức vô biên không thể nghĩ, không thể lường. Như Lai vì những
người phát tâm Đại thừa mà nói, vì những người phát tâm Tối thượng
thừa mà nói. Nếu có người hay thọ trì đọc tụng, rộng vì người nói,
Như Lai ắt biết người ấy, ắt thấy người ấy đều được thành tựu công
đức không thể lường, không thể tính, không có bờ mé, không thể nghĩ
bàn. Những người như thế tức là gánh vác pháp Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác của Phật. Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! Nếu người thích pháp
nhỏ tức chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả tức là
đối với kinh này không thể lắng nghe, thọ trì, đọc tụng vì người
giải nói.
Này Tu-bồ-đề! Ở nơi nào nếu có kinh này thì
tất cả thế gian trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường, nên biết
chỗ này tức là tháp, đều nên cung kính làm lễ vây quanh, dùng các
thứ hương hoa mà rải cúng nơi ấy.
GIẢNG:
Trong đoạn này đức Phật nói về công đức trì kinh
Kim Cang. Quí vị nhớ trong đoạn trước đức Phật đã từng nói, giả sử
như đem bảy báu đầy cả tam thiên đại thiên thế giới bằng số cát sông
Hằng ra bố thí, cũng không bằng công đức trì kinh này. Ở đây Ngài
lại nói nếu có người buổi sáng đem thân của mình nhiều bằng số cát
sông Hằng để bố thí, buổi trưa đem thân nhiều bằng số cát sông Hằng
bố thí, buổi chiều cũng như vậy thì một ngày bố thí chừng bao nhiêu
thân? Chỉ buổi sáng cũng tính không hết! Lại không phải chỉ một ngày
mà trải vô lượng trăm ngàn muôn kiếp thì bố thí chừng bao nhiêu
thân? Đem thân bố thí nhiều như vậy mà nếu có người nghe kinh Kim
Cang, lòng tin không nghịch thì phước của người này còn hơn phước
của người đó, quí vị tin nổi không? Giả sử có ai nói: “người đem
thân bố thí, ai cần mũi thì cho mũi, ai cần tai thì cho tai, cần
phần nào trong thân thể đều cho hết không tiếc”, với “người nghe
kinh này tin nhận, thọ trì” thì phước của người thọ trì kinh hơn
phước của người bố thí, điều đó chúng ta còn chưa tin thay! Cho cái
mũi đâu phải dễ, cho cái tai đâu phải dễ, vậy tại sao cái khó làm có
phước ít hơn cái dễ làm? Phần nhiều nếu so sánh thì cái khó làm phải
có công đức nhiều hơn cái dễ làm. Tại sao ở đây Phật bảo cái dễ công
đức nhiều, cái khó công đức ít? Chỉ bố thí một thân thôi mà còn
không làm nổi, huống nữa là vô lượng thân trong vô lượng kiếp, thế
mà phước lại thua người trì kinh, thật là khó hiểu! Cho nên nói:
Phật nếu nói đủ, người ta sẽ hoang mang, hồ nghi, không tin. Thật ra
nếu chúng ta, ai ai cũng đều thấy thân này là thật thì chắc chắn
không bao giờ tin nổi kinh này. Trái lại nếu chúng ta biết rõ thân
này như hạt sương buổi sáng, như đám mây chiều, không có gì lâu bền
thì người đem những vật tạm bợ bố thí sánh với người biết trở về
Pháp thân bất sanh bất diệt, người nào hơn? Pháp thân bất sanh bất
diệt mới là hơn chứ! Xả một triệu, một muôn, một ức cái thân bèo bọt
này để được cái bất sanh bất diệt mới là quí chứ! Nhưng chắc là
chúng ta không chịu. Vì chúng ta thấy không phải là bèo bọt. Tuy
nghe Phật nói như thế song trên thực tế chúng ta còn thấy thân là
thật, cho nên bảo xả nó chúng ta thấy thật là khó. Bởi thấy nó thật
nên khi nghe Phật bảo xả bao nhiêu thân cũng không sánh được người
trì kinh này, chúng ta không thể tin nổi. Chỉ có hàng Bồ-tát thấy
thân như huyễn như hóa, khi nghe Phật nói, các ngài cười và tin
ngay. Thế nên đức Phật bảo rằng “lòng tin không nghịch thì phước còn
nhiều hơn người kia”, huống nữa là cố gắng biên chép ra, thọ trì,
đọc tụng, vì người giải nói thì phước vô kể. Như vậy trong hai việc
bố thí thân và trì kinh, quí vị chọn việc nào? Tại sao chúng ta chọn
trì kinh? Có phải vì chúng ta biết thân này là giả nên trì kinh để
trở về cái chân thật, hay vì chúng ta sợ đau không dám bố thí thân?
Như vậy để thấy rằng chúng ta trì kinh với cái niệm xem thân là quí,
chớ không phải vì biết thân là giả và việc trì kinh chánh đáng hơn.
Tuy còn cho thân là quí nhưng biết hướng về trì kinh để ứng dụng tu
thì từ từ rồi cũng thấm, thân lần lần cũng hết quí, như vậy cũng có
công đức lớn.
Ở đây chúng ta thuộc về hạng Tối thượng thừa hay
hạng Đại thừa? hay là hạng gì? – Hạng Nhân thừa. Vì còn thấy thân là
quí, muốn bỏ thân này được thân khác tốt hơn đó là thuộc Nhân thừa,
chớ không phải Đại thừa, huống nữa là Tối thượng thừa! Trong kinh
này, Phật vì người Đại thừa, vì người cầu Tối thượng thừa mà nói,
nên nhiều khi chúng ta thấy khó hiểu. Nếu thật chúng ta thuộc hai
hạng trên thì nghe kinh này, trì tụng và ứng dụng tu hành không có
gì khó, vì chuyện đó dễ tin quá. Tất cả chúng ta không biết mê lầm
từ thuở nào mà hiện giờ ai cũng đều thấy thân mình là thật. Nhưng
ngày nay không bảo đảm được ngày mai, lấy gì gọi là thật? Nếu thật
thì có bảo đảm. Trái lại không bảo đảm được một ngày, huống nữa đến
một năm! Pháp thân là cái chưa từng sanh chưa từng diệt, là bảo đảm,
nghĩa là sống được với cái đó rồi thì muôn kiếp ngàn đời không hoại.
Còn sống với thân này thì không bảo đảm ngày mai. Như vậy đem cái
không bảo đảm đổi cái bảo đảm mà tiếc không muốn đổi. Bố thí gồm có
tài thí và pháp thí. Trong tài thí có chia hai phần: ngoại tài và
nội tài. Ngoại tài là của cải, nội tài là thân mạng. Trong đoạn
trước Phật nói về bố thí ngoại tài, đoạn này đức Phật nói đến bố thí
nội tài. Đem thân này bố thí thì ngã không còn, ngã không còn thì
niềm tin đối với pháp này không lui sụt. Thế nên đức Phật bảo rằng:
Nếu người nào hay thọ trì, đọc tụng kinh này, rộng vì
người nói thì Như Lai ắt biết người ấy, ắt thấy người ấy đều được
thành tựu công đức không thể nghĩ, không thể lường, không thể suy
tính được, người ấy ắt là hay gánh vác pháp Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác của Như Lai.
Người nào hiểu đúng kinh này, ứng dụng để sống, lại vì người
giảng nói thì Phật biết chắc người đó là người gánh vác pháp Vô
thượng Chánh đẳng Chánh giác tức pháp thành Phật, người đó xứng đáng
kế thừa Phật.
Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, nếu người ưa pháp nhỏ
là chấp ngã, chấp nhân, chấp chúng sanh, chấp thọ giả.
Ưa pháp nhỏ là pháp gì? Tỉ dụ chúng ta đem
bố thí chừng năm, mười đồng bạc thì chúng ta nghĩ với số tiền bố thí
này đời sau mình sẽ được giàu có. Như vậy chúng ta chỉ thích được
giàu sang, sung sướng ở đời sau, mà sự giàu sang đó nhiều lắm chỉ là
năm, sáu chục năm thôi, đó là tướng sanh diệt, mà mình thích cái
sanh diệt thì không phải ưa pháp nhỏ là gì? Người ưa pháp nhỏ là còn
nghĩ đời sau mình hưởng đó là ngã kiến, người giúp cho mình được
hưởng đó là nhân kiến, chúng sanh kiến, thọ giả kiến đầy đủ. Vì thế
đối với kinh này, người đó khó mà nghe, thọ trì, đọc tụng, vì người
giải nói. Người chấp ngã đối với kinh Kim Cang thì khó nghe, khó
nhận, khó thọ trì đọc tụng tại vì không tin. Kinh Kim Cang chỉ thẳng
ngã là tướng hư dối, các pháp hiện tại là tướng hư dối, chỉ sống trở
về với Trí tuệ Bát-nhã, sống trở lại với Pháp thân, cái đó mới chân
thật. Vậy người biết rõ thân và cảnh giả dối, đó là hiểu kinh Kim
Cang (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng) và biết ngay nơi mình có
cái Trí tuệ Bát-nhã bất sanh bất diệt, đó là trì kinh Kim Cang. Biết
rõ cảnh không thật, thân không thật mới nhận ra mình có cái chân
thật, trong người giả có lồng cái chân thật, nhận được như thế mới
tin kinh Kim Cang. Như vậy được bao nhiêu người tin? Lời Phật dạy,
ai cũng tin cả. Nói thì nói thế, nhưng tin được lẽ đó là lẽ thật thì
hơi khó, vì thấy mình thật mà Phật nói giả, thấy cảnh thật mà Phật
nói giả thì làm sao mình chịu, còn cái Phật nói là thật thì mình lại
không thấy, thế nên nói kinh này rất khó tin. Nhưng nếu tin được thì
người đó không còn bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, còn
người chưa tin là còn nguyên bốn tướng. Người ấy không làm sao tu
pháp cao siêu giải thoát được, họ chỉ thích những pháp nhỏ, nghĩa là
đời này tu đời sau hưởng, hoặc bây giờ làm mai mốt hưởng.
Kết luận Phật nói rằng kinh này ở nơi nào thì tất
cả thế gian trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường như là cúng
dường tháp, đi nhiễu chung quanh, đem hương hoa dâng cúng. Đây là
đức Phật chỉ pháp này cao siêu tối thượng vượt hơn tất cả pháp thế
gian, ai hiểu được pháp đó đều nên cung kính cúng dường.