KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 16/34

14. LY TƯỚNG TỊCH DIỆT PHẦN

ÂM:

LY TƯỚNG TỊCH DIỆT

Nhĩ thời Tu-bồ-đề văn thuyết thị kinh, thâm

giải nghĩa thú, thế lệ bi khấp, nhi bạch Phật ngôn:

– Hi hữu Thế Tôn! Phật thuyết như thị thậm

thâm kinh điển, ngã tùng tích lai sở đắc tuệ nhãn, vị tằng đắc văn

như thị chi kinh.

Thế Tôn! Nhược phục hữu nhân đắc văn thị kinh,

tín tâm thanh tịnh tắc sanh Thật tướng, đương tri thị nhân thành tựu

đệ nhất hi hữu công đức. Thế Tôn! Thị thật tướng giả tức thị phi

tướng, thị cố Như Lai thuyết danh thật tướng.

Thế Tôn! Ngã kim đắc văn như thị kinh điển,

tín giải thọ trì, bất túc vi nan. Nhược đương lai thế, hậu ngũ bách

tuế, kỳ hữu chúng sanh đắc văn thị kinh, tín giải thọ trì, thị nhân

tắc vi đệ nhất hi hữu. Hà dĩ cố? Thử nhân vô ngã tướng, vô nhân

tướng, vô chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng. Sở dĩ giả hà? Ngã

tướng tức thị phi tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng

tức thị phi tướng. Hà dĩ cố? Ly nhất thiết chư tướng tức danh chư

Phật.

Phật cáo Tu-bồ-đề:

– Như thị, như thị! Nhược phục hữu nhân đắc

văn thị kinh bất kinh, bất bố, bất úy, đương tri thị nhân, thậm vi

hi hữu! Hà dĩ cố?

Tu-bồ-đề! Như Lai thuyết đệ nhất ba-la-mật,

tức phi đệ nhất ba-la-mật, thị danh đệ nhất ba-la-mật. Tu-bồ-đề!

Nhẫn nhục ba-la-mật, Như Lai thuyết phi nhẫn nhục ba-la-mật thị danh

nhẫn nhục ba-la-mật. Hà dĩ cố?

Tu-bồ-đề! Như ngã tích vi Ca-lợi vương cát

tiệt thân thể, ngã ư nhĩ thời vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô chúng

sanh tướng, vô thọ giả tướng. Hà dĩ cố? Ngã ư vãng tích tiết tiết

chi giải thời, nhược hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng,

thọ giả tướng, ưng sanh sân hận.

Tu-bồ-đề! Hựu niệm quá khứ, ư ngũ bách thế tác

nhẫn nhục tiên nhân, ư nhĩ sở thế vô ngã tướng, vô nhân tướng, vô

chúng sanh tướng, vô thọ giả tướng.

Thị cố, Tu-bồ-đề! Bồ-tát ưng ly nhất thiết

tướng phát A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề tâm, bất ưng trụ sắc sanh

tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng sanh vô sở

trụ tâm. Nhược tâm hữu trụ, tắc vi phi trụ. Thị cố Phật thuyết

Bồ-tát tâm bất ưng trụ sắc bố thí. Tu-bồ-đề! Bồ-tát vị lợi ích nhất

thiết chúng sanh, ưng như thị bố thí. Như Lai thuyết nhất thiết chư

tướng tức thị phi tướng hựu thuyết nhất thiết chúng sanh tức phi

chúng sanh.

Tu-bồ-đề! Như Lai thị chân ngữ giả, thật ngữ

giả, như ngữ giả, bất cuống ngữ giả, bất dị ngữ giả. Tu-bồ-đề! Như

Lai sở đắc pháp, thử pháp vô thật vô hư.

Tu-bồ-đề! Nhược Bồ-tát tâm trụ ư pháp nhi hành

bố thí như nhân nhập ám tắc vô sở kiến. Nhược Bồ-tát tâm bất trụ

pháp nhi hành bố thí như nhân hữu mục, nhật quang minh chiếu, kiến

chủng chủng sắc.

Tu-bồ-đề! Đương lai chi thế, nhược hữu thiện

nam tử, thiện nữ nhân năng ư thử kinh thọ trì độc tụng tức vi Như

Lai dĩ Phật trí tuệ, tất tri thị nhân, tất kiến thị nhân giai đắc

thành tựu vô lượng vô biên công đức.

DỊCH:

LÌA TƯỚNG TỊCH DIỆT

Khi ấy ngài Tu-bồ-đề nghe Phật nói kinh

này, hiểu sâu được nghĩa thú, rơi lệ dầm dề bạch Phật rằng:

– Đức Thế Tôn! Rất ít có. Phật nói kinh

điển sâu xa như thế, con từ trước đến giờ đã được tuệ nhãn mà chưa

từng được nghe kinh như thế.

Bạch Thế Tôn! Nếu lại có người được nghe

kinh này, lòng tin thanh tịnh ắt sanh Thật tướng, nên biết người ấy

thành tựu được công đức ít có bậc nhất. Bạch Thế Tôn! Thật tướng ấy

tức không phải tướng, thế nên Như Lai nói tên là thật tướng.

Bạch Thế Tôn! Nay con được nghe kinh điển

như thế, tin hiểu thọ trì không đủ làm khó. Nếu đời sau, khoảng năm

trăm năm về sau, lúc đó có những chúng sanh được nghe kinh này, tin

hiểu thọ trì, người ấy ắt là ít có bậc nhất. Vì cớ sao? Vì người này

không tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Vì cớ

sao? Vì tướng ngã tức không phải tướng, tướng nhân, tướng chúng

sanh, tướng thọ giả tức không phải tướng. Vì sao? Vì lìa tất cả

tướng tức gọi là chư Phật.

Phật bảo Tu-bồ-đề:

– Đúng thế, đúng thế! Nếu lại có người được

nghe kinh này, không kinh, không hãi, không sợ, nên biết người ấy

rất là ít có. Vì cớ sao?

Này Tu-bồ-đề! Như Lai nói đệ nhất ba-la-mật

tức không phải đệ nhất ba-la-mật ấy gọi là đệ nhất ba-la-mật.

Tu-bồ-đề! Nhẫn nhục ba-la-mật, Như Lai nói không phải nhẫn nhục

ba-la-mật ấy gọi là nhẫn nhục ba-la-mật. Vì cớ sao?

Này Tu-bồ-đề như thuở xưa ta bị vua Ca-lợi

(Kali) cắt đứt thân thể, ta khi ấy không có tướng ngã, tướng nhân,

tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Vì cớ sao? Ta thuở xưa khi thân thể

bị cắt ra từng phần nếu còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh,

tướng thọ giả, lẽ nên sanh sân hận.

Tu-bồ-đề! Lại nhớ thuở quá khứ năm trăm

đời, ta làm tiên nhân nhẫn nhục, vào thuở ấy không có tướng ngã,

tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

Thế nên, Tu-bồ-đề! Bồ-tát nên lìa tất cả

tướng mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng nên trụ sắc

sanh tâm, chẳng nên trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, nên sanh

tâm không chỗ trụ. Nếu tâm có trụ ắt là không phải trụ. Thế nên Phật

nói tâm Bồ-tát không nên trụ sắc mà bố thí. Tu-bồ-đề! Bồ-tát vì lợi

ích tất cả chúng sanh nên như thế mà bố thí. Như Lai nói tất cả các

tướng tức là không phải tướng, lại nói tất cả chúng sanh tức không

phải chúng sanh.

Này Tu-bồ-đề! Như Lai

nói lời chân, lời thật, lời như, lời không dối, lời chẳng khác. Này

Tu-bồ-đề! Như Lai được pháp, pháp này không thật, không hư.

Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát

tâm trụ nơi pháp mà làm việc bố thí thì như người vào trong tối ắt

không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như

người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình

sắc.

Này Tu-bồ-đề! Ở đời

sau nếu có người thiện nam, thiện nữ hay ở trong kinh này thọ trì

đọc tụng ắt là Như Lai dùng trí tuệ Phật ắt biết người ấy, ắt thấy

người ấy đều được thành tựu vô lượng vô biên công đức.

GIẢNG:

Trong phần trước, quí vị thấy đức Phật đã phân

giải rõ ràng. Ngài Tu-bồ-đề nghe Phật nói, hiểu sâu được nghĩa thú

của kinh, Ngài rơi lệ dầm dề. Ngài rơi lệ dầm dề là tại sao? Có phải

vì Ngài tủi thân không? – Đây là Ngài lãnh hội được tức Ngài ngộ

đạo. Thường người nào nghe kinh hay đọc kinh đến chỗ mình hiểu tự

nhiên sung sướng liền cười, hoặc cảm động liền khóc. Khóc và cười

đều nói lên chủng duyên sẵn có với kinh đó, vì mình có duyên với chỗ

mình đã lãnh hội, thành ra khóc và cười là hai trạng thái của sự ngộ

đạo. Khi được ngộ thì hoặc có người cười ha hả, hoặc có người khóc

sướt mướt. Ở đây ngài Tu-bồ-đề nghe Phật nói đến chỗ này, lãnh hội

được nghĩa thú nên Ngài khóc. Cũng như ngài Khuê Phong Tông Mật khi

đọc kinh Viên Giác rồi cũng khóc. Đó là cái khóc lãnh hội chớ không

phải cái khóc buồn tủi chi hết. Hiểu như thế thì khi nào đọc kinh

đến chỗ hiểu rồi, quí vị có những trạng thái như vậy thì biết mình

lãnh hội được phần nào trong chỗ đó.

Sau khi lãnh hội được nghĩa thú sâu xa, ngài

Tu-bồ-đề bạch Phật: Thế Tôn! Thật là ít có. Phật nói kinh điển sâu

xa như vậy, con từ trước đến giờ đã được tuệ nhãn, tức là chứng

A-la-hán, mà chưa từng được nghe kinh như thế. Qua lời của ngài

Tu-bồ-đề quí vị thấy chúng ta còn nhục nhãn mà được nghe thì thật là

phước vô lượng vô biên. Ngài đã được tuệ nhãn mà chưa từng được

nghe, đến bấy giờ mới được nghe, còn chúng ta còn nhục nhãn, còn

phàm phu mà được nghe thì thật là quí vô cùng.

Ngài Tu-bồ-đề nói tiếp:

Bạch Thế Tôn, nếu có người được nghe kinh này, lòng tin

thanh tịnh, ắt sanh Thật tướng.

Người nghe kinh này mà tin một cách đúng đắn trong sạch,

người đó sanh Thật tướng. Thật tướng là gì? Thật tướng tức là phi

tướng. Có chỗ khác nói Thật tướng tức là vô tướng. Tướng không là

đối với tướng có, có đối với không, thành ra cái có là giả thì cái

không là đối đãi, nên cũng không thật. Danh từ có không là đối đãi

không thật, còn Thật tướng không thuộc tướng không và tướng có nên

nói là vô tướng. Nó không nằm trong tướng có tướng không, nó là Tánh

giác không có tướng mạo, thế nên nói Thật tướng không phải tướng.

Người nào tin được kinh này một cách trong sạch thì người đó sanh

Thật tướng. Tại sao? Vì chúng ta tin được kinh này một cách đúng đắn

thì chúng ta không còn chấp ngã là thật, không chấp nhân là thật,

không chấp cảnh là thật… Tất cả đều không thật. Chúng ta dùng trí

tuệ đó nhìn tất cả pháp nên không bị các pháp lôi, không bị các pháp

làm mình loạn, do đó Tướng chân thật tức cái Tâm thể chân thật hiển

lộ nên gọi là sanh Thật tướng. Người được như thế thì thành tựu được

công đức mà trần gian này rất ít có. Tuy nhiên khi nói Thật tướng,

Ngài sợ chúng ta chấp danh từ Thật tướng là thật, nên Ngài thưa:

Bạch Thế Tôn thật tướng đó tức không phải tướng, thế nên

Như Lai nói tên là thật tướng.

Đến đây thương cho người sau, Ngài thưa: Nay con

được nghe kinh điển này rồi tin hiểu thọ trì không đủ làm khó. Tại

sao? Vì Ngài đã có tuệ nhãn nên nghe cao hơn một chút nữa cũng nhận

hiểu, ngộ và ứng dụng tu. Còn sau khi Phật nhập Niết-bàn khoảng năm

trăm năm, khi đó có những chúng sanh được nghe kinh này, tin hiểu

thọ trì, người ấy ắt là ít có bậc nhất. Nếu sau Phật niết-bàn năm

trăm năm, còn trong thời tượng pháp, người nghe kinh này, tin hiểu,

thọ trì thì gọi là đệ nhất ít có. Hiện nay chúng ta sau đến hơn hai

ngàn năm, vào đời mạt pháp, nghe kinh tin hiểu thì gọi là ít có thứ

mấy? Tức là không biết dùng thứ mấy để tính nữa! Điều này cho thấy

rằng tất cả chúng ta ở vào thời sau Phật thật xa mà được nghe kinh

rồi hiểu, ứng dụng tu thì thật quí vô kể, không còn dùng ngôn từ nào

nói cho xứng. Vậy còn ai tủi thân là hiện nay mình mới tu thì đã trễ

rồi không? Chúng ta được nghe, được thọ trì, như vậy là đại phước

rồi, quí vô cùng rồi, chỉ có điều nghe mà không chịu hiểu, không thọ

trì, đó mới đáng buồn thôi. Nếu nghe, tin hiểu thọ trì thì không có

gì đáng buồn cả.

Ngài Tu-bồ-đề liền đặt câu hỏi tiếp:

Vì cớ sao? Vì người này không còn tướng ngã, tướng nhân,

tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Tại sao? – Vì khi nhận được

kinh này tức là sống với Trí tuệ Bát-nhã; đã sống với Trí tuệ

Bát-nhã thì đâu còn thấy có mình thật, người thật… Nếu nghe, hiểu mà

còn thấy mình thật, người thật, đó là hiểu ngoài da, đó là chưa thật

hiểu. Bởi vì kinh này nói ngã tướng không thật, nhân tướng không

thật…, tất cả tướng đều không thật, nếu thấy có mình thật thì đâu

hiểu kinh. Thế nên người tin hiểu thọ trì kinh này thì bốn tướng

không còn, bốn tướng không còn tức là bậc Thánh rồi. Người đó công

đức rất là hi hữu. Vì

cớ sao? Vì tướng ngã tức không phải tướng, tướng nhân, tướng chúng

sanh, tướng thọ giả tức không phải tướng,

những tướng đó đều hư giả không thật. Vì cớ sao? Vì lìa

tất cả tướng, ấy gọi là chư Phật.

Câu này xác định một điều hết sức quan trọng. Ngài giải

thích: Tướng ngã không phải tướng, tướng nhân, tướng chúng sanh,

tướng thọ giả, tất cả tướng này đều không phải tướng, mà không phải

tướng thì chúng ta đừng dính mắc, đừng chấp, do đó chúng ta lìa được

tất cả tướng, ấy gọi là chư Phật. Lìa tất cả tướng, đó là Phật. Dễ

hay khó? Chịu khó lìa các tướng thì được. Nếu còn thấy có mình thật

thì chưa lìa. Vì chưa lìa nên không phải là Phật. Tất cả tướng,

tướng mình, tướng người v.v… đều là hư giả, đã là giả thì có cái nào

nên chấp đâu. Không chấp đó là sanh tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh

giác, tức là Phật. Trái lại, nếu còn chấp, đó là chúng sanh, thế nên

nói lìa tất cả tướng tức gọi là chư Phật. Vì tất cả tướng là giả

dối, chấp cái giả đó là mê, biết giả dối không chấp, đó là giác,

giác tức là Phật. Thật là đơn giản, nhưng vì tập quán lâu đời nên

thành khó. Ngồi suy nghĩ ai không biết mình là giả. Thân là một túi

đồ dơ bên trong chứa máu v.v… bên ngoài là da thịt, da thì kỳ cọ ra

đất bợn, máu chảy ra thì có mùi tanh, trong thân chỗ nào hư đem cắt

bỏ ra thì hôi thúi… Vậy mà cứ nói nó thật là mình, không phải mê

muội là gì? Vì cứ mê lầm chấp thật nên làm chúng sanh kiếp kiếp. Bây

giờ biết nó là giả, biết mình giả, thì biết người cũng giả, do đó

các tướng chúng sanh, thọ giả… cũng đều giả, tất cả sự vật có tướng

cũng là giả thì không còn bám vào các tướng. Không bám tức là ly, ly

tức là giác. Thật là đơn giản! Chấp thì mê, lìa thì giác, thế nên

nói lìa các tướng đó là Phật. Thật là gần! Đang nắm là chúng sanh,

buông ra là Phật. Tại sao không biết buông bỏ? Không biết ma lực nào

cứ bắt chúng ta nắm mà không chịu buông. Biết buông bỏ là Phật, đâu

có gì khó, vậy mà cứ nắm giữ để làm chúng sanh rồi chịu luân hồi

sanh tử. Thật là mê muội làm sao!

Ngài Tu-bồ-đề nói xong, đức Phật khen ngợi: Đúng

thế, đúng thế, đúng như lời ông nói, lìa tất cả tướng là chư Phật.

Nếu lại có người được nghe kinh này không kinh, không hãi,

không sợ nên biết người ấy rất là ít có.

Trong đoạn trước ngài Tu-bồ-đề nói: Nghe kinh này, thọ trì

đọc tụng là ít có. Đến đây Phật hạ thấp xuống một tầng nữa: Nghe

kinh này không kinh, không hãi, không sợ cũng rất là ít có. Vì như

trong đoạn trước có ví dụ đem của báu đầy dẫy thế giới bố thí cũng

không bằng trì kinh này, đem thân mạng bằng số cát sông Hằng bố thí

cũng không bằng trì kinh này, nghe vậy ai mà không kinh không sợ?

Chúng ta nghe, hiểu, không kinh, không sợ cũng là việc ít có.

Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, Như Lai nói đệ nhất

ba-la-mật tức không phải đệ nhất ba-la-mật ấy gọi là đệ nhất

ba-la-mật.

Ba-la-mật nghĩa là đến bờ kia hay nghĩa là

cứu kính. Cái cứu kính bậc nhất không phải là cứu kính bậc nhất, bởi

vì lập ra cái cứu kính đó cũng là ngôn thuyết. Cứu kính tức là tuyệt

đối, nhưng lập cái tuyệt đối cũng là đối với cái tương đối mà lập,

nên cũng là hư giả không thật, chỉ tùy theo thế gian mà lập thôi, ấy

gọi là cứu kính bậc nhất.

Tu-bồ-đề, nhẫn nhục ba-la-mật, Như Lai nói

không phải nhẫn nhục ba-la-mật ấy gọi là nhẫn nhục ba-la-mật.

Trong Lục độ, bố thí, trì giới,

nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ, đức Phật nói đến nhẫn nhục

ba-la-mật tức là nhẫn nhục cứu kính. Nhẫn nhục cứu kính không phải

nhẫn nhục cứu kính, vì trong sự nhẫn nhục còn sức chịu đựng của thân

và tâm, mà thân tâm là tướng giả cho nên sức chịu đựng đó cũng là

cái tướng của duyên hợp chớ không thật; dù sự chịu đựng đó đến tột

đỉnh cũng vẫn là tướng duyên hợp hư giả, chỉ theo thế gian tạm gọi

là nhẫn nhục cứu kính.

Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề, như ta thuở xưa bị

vua Ca-lợi cắt đứt thân thể, ta khi ấy không có tướng ngã, tướng

nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Vì cớ sao? Thuở trước khi

thân bị cắt đứt từng phần nếu ta còn tướng ngã, tướng nhân, tướng

chúng sanh, tướng thọ giả thì nên sanh sân hận!

Đức Phật dẫn rằng: Thuở xưa, có

một lần đức Phật tu hạnh nhẫn nhục, khi vua Ca-lợi đến hỏi “Ngài

thật tu hạnh nhẫn nhục không”, Ngài đáp “tôi thật tu hạnh nhẫn

nhục”. Nhà vua liền lấy gươm cắt từng mảnh thịt của Ngài rồi hỏi:

Ngài có giận tôi không? Ngài nói: Ta không giận. Phật bảo nếu Ngài

còn thấy tướng ngã, tướng nhân thì khi thân bị cắt đứt từng phần,

làm sao không giận được! Như chúng ta hiện nay, đừng nói là cắt

thịt, giả sử có ai nhổ sợi tóc, sợi râu chúng ta có giận không? Hẳn

là giận. Tại sao? – Vì tướng ngã lớn quá nên động tới là giận, còn

Ngài vì không còn tướng ngã nên cắt thịt cũng không giận. Thế nên

người hay sân là ngã to lắm, động tới thân mình cũng sân, động tới

tên, tới danh dự mình cũng nổi sân.

Lại nữa, Tu-bồ-đề, ta nhớ thuở quá khứ năm

trăm đời làm vị tiên nhân nhẫn nhục, khi ấy không có tướng ngã,

tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

Thế nên Tu-bồ-đề, Bồ-tát nên lìa tất cả tướng

mà phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, chẳng nên trụ sắc sanh

tâm, chẳng nên trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, nên sanh tâm

không chỗ trụ. Nếu tâm có trụ ắt là không phải trụ. Thế nên Phật nói

tâm Bồ-tát không nên trụ sắc mà bố thí.

Đến đây đức Phật chỉ cho chúng ta thấy rõ nếu còn

trụ nơi ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả thì còn sân hận, sự nhẫn nhục

không đến chỗ cứu kính. Ngài nói rằng: Chẳng những trong một đời

Ngài đã từng nhẫn nhục, mà cả năm trăm đời Ngài nhẫn nhục đến chỗ

cứu kính là do Ngài không có bốn tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ

giả. Vì thế Ngài khuyên tất cả các vị Bồ-tát nên lìa tất cả tướng mà

phát tâm cầu thành Phật. Kể cả chúng ta bây giờ khi tu cũng nên tập

lìa tất cả tướng. Phát tâm cầu thành Phật thì phải lìa tất cả tướng.

Muốn lìa tất cả tướng thì phải làm sao? – Không nên trụ tức không

nên kẹt nơi sắc sanh tâm Bồ-đề, không kẹt nơi thanh hương vị xúc

pháp sanh tâm Bồ-đề, nên sanh tâm không chỗ trụ, vì còn có chỗ trụ

tức là còn kẹt. Tôi thường thí dụ như trên bàn có bao kiếng, có ly,

đồng hồ v.v… năm, bảy vật, nếu tay tôi nắm vật này thì tôi mắc kẹt

vật này. Khi tay tôi nắm vật là tôi động hay là tôi trụ? Chấp là một

hình tướng bám chặt, bám chặt tức là động chớ đâu phải an trụ. Thế

nên trong năm, bảy vật ở trên bàn, tôi không nắm một vật nào thì đó

mới là an. An trụ như thế mới gọi là tâm Bồ-đề. Trái lại, nếu còn

bám vào một vật thì tâm còn đang động, động tức là sanh diệt, đâu

phải Bồ-đề. Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác là tâm Bồ-đề viên mãn,

mà tâm Bồ-đề viên mãn là không dính bất cứ một cái nào. Thế nên đối

với các tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả hay đối với tất cả pháp

sắc thanh hương vị xúc pháp, chúng ta không dính một cái nào thì tâm

không dính mắc, đó là tâm Bồ-đề. Muốn cầu Bồ-đề thì phải phát tâm

đó, còn nếu tâm duyên theo bất cứ một cái nào cũng không phải là

Bồ-đề. Như thế quí vị thấy khó hay dễ? Nó có sẵn nơi chúng ta, chỉ

không dính tức là không duyên theo cái nào, không kẹt với cái nào

thì đó là tâm Bồ-đề, không có gì xa lạ cả. Vì thế mà đức Phật khuyên

các vị Bồ-tát, tâm không nên trụ sắc bố thí v.v… tức là không nên

bám vào sắc mà phải buông xả.

Bồ-tát vì lợi ích tất cả chúng sanh nên như

thế mà bố thí.

Vì làm lợi ích cho tất cả chúng sanh nên

không bám vào một hình tướng nào, hoặc đừng bám vào ngã, nhân, chúng

sanh, thọ giả hoặc đừng bám vào sắc thanh hương vị xúc pháp, đó mới

là người chân thật lợi ích cho chúng sanh.

Như Lai nói tất cả tướng tức không phải tướng.

Phật xác định rằng tất cả tướng

đều là duyên hợp hư giả, nên đều không phải tướng. Lại nói

tất cả chúng sanh tức không phải chúng sanh,

vì chúng sanh cũng là hư giả. Các tướng chỉ cho sắc thanh

hương vị xúc pháp, chúng sanh chỉ cho ngã, nhân, chúng sanh, thọ

giả. Như vậy cả hai đều hư giả. Hiện nay chúng ta đang kẹt ở chỗ

nào? Trong thì ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, ngoài thì sắc thanh

hương vị xúc pháp, chỉ hai cái đó thôi, mà cả hai Phật đều xác nhận

là giả. Cả hai đều giả mà chúng ta cứ dính mắc hoài nên làm chúng

sanh đời đời. Thử hỏi chừng nào thành Phật, quí vị trả lời xem?

Chừng nào lìa hết các tướng thì thành Phật, còn khi chưa lìa thì

chưa thành Phật. Như vậy ai trả lời câu “chừng nào thành Phật” cho

quí vị? Mỗi người phải tự trả lời. Nếu buông được phân nửa thì được

phân nửa thành Phật, nếu buông được trọn vẹn thì tin chắc phải thành

Phật trọn vẹn.

Này Tu-bồ-đề, Như Lai nói lời chân, lời thật,

lời như, lời chẳng dối, lời chẳng khác.

Phật xác định rằng lời Ngài nói

là chân thật, là như như, là không dối, không khác để cho chúng ta

đủ niềm tin, chớ nhiều khi nghe Phật nói chúng ta còn ngờ vực. Phật

xác nhận lời Ngài là chân thật v.v… như vậy chúng ta chịu tin chưa?

Lòng từ bi của Phật thật là vô cùng, nói đúng lẽ thật rồi mà còn sợ

chúng ta không chịu tin nên phải xác nhận lời Ngài là chân thật v.v…

Ngài bảo tiếp:

Này Tu-bồ-đề, Như Lai được pháp, pháp này không thật, không

hư. Vì pháp

Phật được không kẹt ở hai bên. Nói hư, nói thật là nói hai bên, mà

pháp Phật được là thoát tất cả đối đãi cho nên nói không thật, không

hư.

Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát tâm trụ nơi pháp mà

làm việc bố thí thì như người vào trong tối ắt không thể thấy, nếu

Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí như người có mắt lại thêm

ánh sáng mặt trời chiếu soi thấy được các thứ hình sắc.

Trong đoạn này đức Phật nói về hiệu dụng của

người làm lợi ích chúng sanh. Nếu chúng ta làm lợi ích chúng sanh mà

còn kẹt trong cái chấp tướng ngã và pháp thì, tuy làm việc phước mà

như người có mắt vào nhà tối, tuy có mắt nhưng nào có thấy gì! Còn

người làm lợi ích chúng sanh mà không chấp tướng thì như người có

mắt sáng lại được ánh sáng mặt trời chiếu soi, người đó thấy tất cả

không có nghi ngờ, làm đến đâu thì sáng đến đấy.

Này Tu-bồ-đề, ở đời sau nếu có người thiện

nam, thiện nữ hay ở trong kinh này thọ trì đọc tụng, ắt là Như Lai

dùng trí tuệ Phật ắt biết người ấy, ắt thấy người ấy đều được thành

tựu vô lượng vô biên công đức.

Đức Phật xác nhận một lần nữa: Về sau nếu người

nào hoặc là nam, hoặc là nữ, đối với kinh Kim Cang mà thọ trì, đọc

tụng thì Phật dùng trí tuệ Phật thấy rõ người này và biết rõ người

này sẽ thành tựu công đức vô lượng vô biên không một chút nghi ngờ.

Quí vị muốn được công đức vô lượng vô biên hay không? Nếu muốn được

công đức vô lượng vô biên thì y theo lời Phật dạy mà ứng dụng tu, mà

thọ trì, nhất định công đức không thể kể hết. Như vậy quí vị thấy

công đức nào là tối thượng? Công đức của những việc làm bằng hình

thức ở bên ngoài với công đức thọ trì kinh Kim Cang, công đức nào

tối thượng? Nên ráng chọn cái tối thượng mà làm cho xứng công của

mình.

Mở trong trình đọc kinh