KINH KIM CANG GIẢNG GIẢI · Chương 5/34

3. ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG PHẦN

ÂM:

ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG

Phật cáo Tu-bồ-đề:

– Chư Bồ-tát

ma-ha-tát ưng như thị hàng phục kỳ tâm. Sở hữu nhất thiết chúng sanh

chi loại, nhược noãn sanh, nhược thai sanh, nhược thấp sanh, nhược

hóa sanh, nhược hữu sắc, nhược vô sắc, nhược hữu tưởng, nhược vô

tưởng, nhược phi hữu tưởng phi vô tưởng, ngã giai linh nhập Vô dư

Niết-bàn nhi diệt độ chi. Như thị diệt độ vô lượng, vô số, vô biên

chúng sanh, thực vô chúng sanh đắc diệt độ giả. Hà dĩ cố? Tu-bồ-đề,

nhược Bồ-tát hữu ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả

tướng tức phi Bồ-tát.

DỊCH:

CHÁNH TÔNG CỦA ĐẠI THỪA

Phật bảo Tu-bồ-đề:

– Các vị Bồ-tát lớn nên như thế mà hàng

phục tâm kia. Có tất cả các loài chúng sanh hoặc loài sanh bằng

trứng, hoặc loài sanh bằng thai, hoặc sanh chỗ ẩm ướt, hoặc hóa

sanh, hoặc có hình sắc, hoặc không hình sắc, hoặc có tưởng, hoặc

không tưởng, hoặc chẳng có tưởng chẳng không tưởng, ta đều khiến vào

Vô dư Niết-bàn mà được diệt độ đó. Diệt độ như thế vô lượng, vô số,

vô biên chúng sanh mà thật không có chúng sanh được diệt độ. Vì cớ

sao? Này Tu-bồ-đề, nếu Bồ-tát còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng

chúng sanh, tướng thọ giả tức chẳng phải là Bồ-tát.

GIẢNG:

“Chín loài chúng sanh” chỉ trùm tất cả chúng

sanh.

Niết-bàn nghĩa là vô sanh. Niết-bàn có Hữu dư y

Niết-bàn và Vô dư y Niết-bàn. Những vị chứng quả A-la-hán, được vô

sanh nhưng còn thân hình tướng thì gọi là Hữu dư Niết-bàn; được

Niết-bàn sau khi xả thân nghĩa là được vô sanh sau khi không còn

thân tướng thì gọi là Vô dư Niết-bàn.

Bốn tướng:

Tướng ngã: thấy có mình thật.

Tướng nhân: thấy có người thật.

Tướng chúng sanh: thấy tất cả loài có thật.

Tướng thọ giả: thấy có mạng sống tiếp nối trong

một thời gian.

Đây là đến phần Phật trả lời hai câu hỏi trước

của ngài Tu-bồ-đề. Câu hỏi đầu là an trụ tâm, câu hỏi thứ hai là

hàng phục tâm, nhưng khi trả lời đức Phật đổi lại trả lời câu hỏi

hàng phục tâm trước và câu hỏi an trụ tâm sau. Trong đoạn này Phật

dạy cách hàng phục tâm tức chỉ phương pháp tu hành. Đức Phật dạy:

Đối với tất cả loài chúng sanh ta đều đưa họ vào chỗ Niết-bàn không

còn hình tướng để họ được diệt độ. Diệt độ như thế không biết bao

nhiêu chúng sanh mà thật không có một chúng sanh nào được diệt độ.

Đó là hàng phục được tâm, quí vị làm được điều đó không? Phật lại

bảo tiếp: Tại sao thế? – Vì nếu Bồ-tát còn một tướng ngã hay tướng

nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả thì không phải là Bồ-tát.

Phật trả lời khó hiểu quá, thấy như lạc đề. Đây

là chỗ chánh yếu nhưng vừa mở đầu chúng ta thấy ngỡ ngàng, chúng ta

mong Phật trả lời làm sao hàng phục tâm mà đức Phật trả lời như thế

này thì làm sao hàng phục tâm được! Tôi không nói loài sanh bằng

trứng, những loài sanh chỗ ẩm ướt, những loài sanh do biến hóa,

những loài có sắc, không sắc v.v… mà chỉ nói những loài thai sanh và

trong loài sanh bằng thai, tôi hạn chế trong loài người thôi. Chừng

nào chúng ta độ tất cả loài người vào Vô dư Niết-bàn mà không thấy

họ được diệt độ, chừng đó chúng ta mới hàng phục được tâm. Vậy chừng

nào chúng ta làm được việc đó? Nếu như không làm được việc đó thì

hàng phục tâm không được. Tại sao hỏi hàng phục tâm mà Phật dạy độ

chúng sanh ở ngoài? Đó là điều khó, từ xưa đến giờ chính khi chúng

tôi học, đến chỗ này chúng tôi cũng lắc đầu, điều Phật dạy rất khó

áp dụng trong việc tu hành. Nếu chúng ta hiểu theo lời theo chữ thì

sẽ có hai điểm không thể thực hiện được. Điểm thứ nhất là chúng ta

thấy Phật chưa thành Phật. Tại sao? Vì khi đức Phật thành Phật, thử

hỏi tất cả người – chỉ nói là người thôi – ở Ấn Độ, Phật đã độ được

vào Vô dư Niết-bàn hết chưa? Chúng ta thấy rõ rằng lúc đó còn ngoại

đạo rất nhiều, Ngài chỉ độ một số mấy ngàn vị thôi chớ đâu phải tất

cả, vậy tại sao Ngài được thành Phật? Nếu hàng phục tâm chưa được

thì làm sao thành Phật? Điểm thứ hai là Phật dạy chúng ta làm một

việc mà không bao giờ chúng ta làm nổi. Thử hỏi tất cả quí vị cũng

như chúng tôi, ai đã được Vô dư Niết-bàn? Thế mà chúng ta phải đưa

tất cả chúng sanh vào Vô dư Niết-bàn, chừng đó mình mới hàng phục

được tâm. Vậy đến bao giờ chúng ta mới làm được việc đó? Chỗ mình

chưa đạt tới mà Phật bảo mình độ người đạt được chỗ đó, làm sao

chúng ta làm được? Cũng như chúng ta còn dốt mà bảo dạy tất cả người

đậu tiến sĩ hết, chừng đó mới được làm quan thì thật là vô lý. Thế

nên nếu học kinh Phật, nhất là kinh Đại thừa, mà hiểu theo chữ, theo

lời thì không làm sao giải thích được.

Điểm thứ nhất ta thấy mâu thuẫn với Phật, điểm

thứ hai mâu thuẫn với chúng ta, như thế làm sao có thể áp dụng trong

việc tu hành? Nhưng đến sau này khi tu thiền và đọc sách thiền rồi,

chúng tôi mới giật mình, không ngờ mình không hiểu lời Phật nói.

Kinh nói trong chúng ta có đủ cả Thập pháp giới, đó là Tứ thánh và

Lục phàm. Quí vị thấy có khi chúng ta phát lòng từ bi giống như

Phật, như Bồ-tát, có khi chúng ta xấu xa như con heo, con bò, có khi

chúng ta hung dữ như con cọp, con sói. Trong chúng ta có đủ trăm thứ

nghĩ, tốt xấu lẫn lộn. Thế nên mỗi một dấy niệm về người thì đó là

một chúng sanh thai sanh, một dấy niệm về chim chóc thì đó là chúng

sanh noãn sanh, một dấy niệm về con bướm, con ong thì đó là hóa

sanh, một dấy niệm về con đom đóm đó là thấp sanh, nghĩ đến hư không

đó là chúng sanh vô sắc, dấy niệm về con người có tưởng, đó là chúng

sanh có tưởng, dấy niệm buông hết vọng tưởng, buông hết cả những tâm

tưởng đó là chúng sanh vô tưởng… dấy niệm là sanh. Tại sao? Bởi vì

khi lặng thì không có niệm, mà niệm dấy lên là do duyên với cảnh

hoặc người, hoặc vật. Vọng thức bên trong duyên theo bóng dáng của

vọng trần, cả hai phối hợp nhau mà sanh nên gọi là chúng sanh. Mỗi

một niệm dấy lên như vậy là một chúng sanh. Những chúng sanh do niệm

vừa dấy lên đó chúng ta liền độ vào Vô dư Niết-bàn. Làm sao độ?

Chúng sanh đó dấy lên, ta biết chúng sanh này giả tức nhiên nó lặng

xuống chỗ không sanh và khi nó lặng xuống không còn thấy tăm dạng

nên gọi là Vô dư Niết-bàn. Như thế chúng ta thấy đức Phật độ hết

chúng sanh, Ngài hàng phục được tâm, Ngài thành Phật. Như thế mới có

lý, mới đúng sự thật.

Cũng thế nếu những vọng tưởng của chúng ta đang

điên cuồng chạy ngược, chạy xuôi theo có sắc, không sắc, có tưởng,

không tưởng… theo tất cả hình tướng bên ngoài, bây giờ chúng ta đưa

nó vào Vô dư Niết-bàn, vào chỗ lặng lẽ không sanh diệt, tâm chúng ta

không còn loạn nữa, đó là chúng ta hàng phục được tâm. Hiểu như vậy

chúng ta mới tu được. Như thế chúng ta mới thấy rõ đức Phật thành

Phật trong khi tất cả chúng sanh vẫn còn. Ngài hàng phục được tâm

của Ngài nên mới được đến chỗ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như

bây giờ chúng ta vừa phát tâm tu thì chúng ta cũng hàng phục như

vậy, lần lần tâm an định chúng ta mới tiến bộ được. Nếu cứ lo độ

chúng sanh ở ngoài trong khi chính mình chưa độ được mình thì độ

được ai?

Hiểu như vậy rồi chúng ta thấy kinh Phật rất cao

siêu, lời lẽ diễn tả những hình ảnh mà chúng ta không hiểu là những

hình ảnh đó qui về mình rồi chúng ta cứ tưởng là việc bên ngoài. Khi

chúng ta tưởng như thế chúng ta sẽ thối chí không biết làm sao thực

hành. Thế nên ngày xưa chính tôi đã từng nói rằng: Kinh Đại thừa

chắc chỉ để trên gác thờ, không thể áp dụng trong việc tu hành,

nhưng nay chúng ta hiểu rõ rồi, mới thấy chính đoạn này trả lời rất

sát câu hỏi của ngài Tu-bồ-đề. Ngài Tu-bồ-đề hỏi làm sao hàng phục

được tâm, Phật dạy: Một niệm dấy lên là một chúng sanh, đưa những

niệm đó vào chỗ vô sanh là hàng phục tâm. Đây là Tự tánh chúng sanh

thệ nguyện độ. Rõ ràng là Phật trả lời việc hàng phục tâm. Nếu nói

độ tất cả chúng sanh thì ta thấy như là người hỏi việc bên trong mà

Phật trả lời việc bên ngoài, không dính dáng gì với nhau. Nhưng ở

đây, chúng ta đã thấy rõ ý nghĩa độ tất cả chúng sanh, đó là đưa tất

cả niệm vào chỗ không còn sanh diệt. Khi nào thực hành quí vị mới

thấy rõ. Một niệm dấy lên nghĩ về người, chúng ta liền nói niệm đó

giả dối không thật, không theo. Khi biết nó giả, ta không theo thì

nó lặng xuống, lặng xuống chỗ không còn thấy tướng mạo, đó là Vô dư

Niết-bàn. Không sanh là Niết-bàn, không còn tướng mạo là vô dư. Bao

nhiêu niệm đều đưa vào đó nên nói độ tất cả chúng sanh mà không thấy

có chúng sanh nào được diệt độ, nghĩa là đưa tất cả vào đó hết mà

không còn thấy có một người nào hay một niệm nào thật. Quí vị thấy

thật là khó, khó ngay ở buổi đầu.

Thế nên Phật nói tiếp:

Vì cớ sao? Này Tu-bồ-đề! Nếu Bồ-tát còn tướng ngã, tướng

nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả, thì không phải là Bồ-tát.

Tại sao vậy? – Bởi vì một niệm dấy lên tức là có chấp ngã trong đó.

Quí vị nhớ từ cái chấp ngã của Đại thừa đi lần đến chấp ngã sâu kín

vi tế của Thiền tông. Hai cái tương ưng nhau. Chấp ngã của Đại thừa

là chấp thân làm ngã và chấp tâm làm ngã. Từ cái chấp thân, tâm làm

ngã đến niệm dấy lên chấp niệm đó là mình, đó cũng là chấp ngã. Niệm

dấy lên cho là mình nghĩ, đó là chấp ngã. Tại sao? Dấy niệm là suy

nghĩ về người, suy nghĩ về cảnh, thử hỏi ai nghĩ, ai nghĩ về người,

ai nghĩ về cảnh? Thô thì chấp thân này, tế thì chấp một niệm, vì vậy

còn thấy một niệm thật là còn có tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng

sanh, tướng thọ giả; nếu đưa hết những niệm vào Vô dư Niết-bàn rồi

thì đâu còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

Người làm được như vậy, đức Phật nói: Đó là Bồ-tát độ chúng sanh.

Quí vị thấy mỗi ngày

chúng ta ngồi ở tảng đá chơi, hoặc ngồi ở trước hành lang nhà, hoặc

ngồi trong vườn, nếu chúng ta cứ lo độ chúng sanh như vậy, nghĩa là

mỗi chúng sanh dấy lên chúng ta đưa vào Vô dư Niết-bàn, đó cũng là

Bồ-tát độ chúng sanh rồi. Tại sao gọi là Bồ-tát? Vì Bồ-tát là một

chúng Hữu tình giác ngộ và đem sở giác của mình giáo hóa kẻ khác,

tức là tự giác và giác tha. Niệm dấy lên chúng ta biết nó là hư giả,

đó là giác; giác rồi đưa nó vào chỗ vô sanh, đó là độ chúng sanh.

Như vậy quí vị thấy giờ nào mà không độ chúng sanh? Chúng ta độ

chúng sanh đó thì sẽ đi đến chỗ an trụ Niết-bàn. Tóm lại đức Phật

chủ yếu dạy chúng ta đối với tất cả niệm khởi về người về vật v.v…

muôn ngàn hình tướng đều cho lặng xuống hết, lặng vào chỗ không còn

sanh diệt, khi đó là hàng phục tâm. Tâm chúng ta không còn loạn động

nữa, mà hết loạn động tức là chúng ta hàng phục được tâm thuần thục.

Như thế câu trả lời rất là xác đáng. Và như vậy mới hết tướng ngã,

tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả. Hiện giờ có nhiều người

không hiểu, cho thân này là ngã nên bảo: “thôi tôi xả thân, tôi

không nghĩ gì đến tôi hết, tôi bố thí tất cả thức ăn, thức mặc, cái

gì tôi cũng không kể”, nhưng niệm của họ vẫn còn khởi thì cái xả đó

vẫn chưa sạch. Tỉ dụ cứ nghĩ ta là người bố thí, ta là người nhẫn

nhục tức là còn ngã chớ gì? Cho nên còn một niệm là còn ngã, cái ngã

tế nhị như vậy. Thành ra có nhiều người làm việc coi như xả ngã mà

chính là nuôi cái ngã thêm to, đó là cái ngã vọng tưởng ở tâm. Thế

nên khi hiểu rồi quí vị mới thấy ở đây đức Phật bảo: Độ tất cả chúng

sanh mà không thấy có một chúng sanh nào được diệt độ. Tại sao? – Vì

nếu Bồ-tát còn bốn tướng đó không phải là Bồ-tát. Còn bốn tướng là

còn dấy niệm thấy có mình tức có ngã, mà có ngã tức là có nhân, có

chúng sanh, có thọ giả… Có dấy niệm mới chấp, mới nghĩ ta phải người

quấy, mới thấy ta hay người dở v.v… nếu không dấy niệm thì chấp cái

gì? Đó là chỗ cứu kính trong việc tu hành. Hiểu được rồi chúng ta

thấy rõ ràng vừa bước vào đoạn thứ nhất là đã biết được phương pháp

tu hành.

Mở trong trình đọc kinh