KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Đại thừa, chỉ ra con đường đạt đến trí tuệ Bát Nhã tối thượng. Bộ kinh này được Đức Phật thuyết giảng cho Tôn giả Tu Bồ Đề, nhấn mạnh vào tinh thần “vô trụ” – không chấp trước vào bất kỳ hình tướng nào, dù là ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng hay thọ giả tướng.
Thông qua những câu hỏi đáp sâu sắc, Kinh Kim Cang phá vỡ mọi vọng tưởng và khái niệm nhị nguyên, giúp hành giả nhận ra bản thể chân thật của vạn pháp là Không. Câu nói nổi tiếng “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm” chính là cốt tủy của kinh, khuyến tấn người tu hành hãy phát tâm Bồ đề mà không dính mắc vào bất cứ điều gì.
Đọc và thấu hiểu Kinh Kim Cang là chìa khóa để chặt đứt cội rễ vô minh, phát sinh trí tuệ sắc bén như kim cương, từ đó đạt được tự do tự tại thực sự trong sinh tử luân hồi.

—— Trích đoạn KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT

 

Giới thiệu chung

Đây là một trong những bộ kinh nổi bật và có sức ảnh hưởng sâu rộng nhất thuộc hệ thống Bát-nhã, thể hiện đỉnh cao của tư tưởng Không trong Phật giáo Đại thừa. Thông qua cuộc đối thoại giữa Đức Phật và tôn giả Tu-bồ-đề, nội dung bản văn tập trung phá hủy tận gốc mọi bám víu vào các khái niệm như ngã, nhân, chúng sinh và thọ giả, nhằm giải phóng tâm thức khỏi mọi sự trói buộc. Tác phẩm sử dụng phương pháp lập luận độc đáo tức phi để chỉ ra rằng mọi hiện tượng trên thế gian đều mang tính duyên sinh, vô thường và không có một thực thể cố định độc lập nào. Thông điệp cốt lõi hướng đến việc hành giả phải thực hành vô trụ tướng, làm mọi việc thiện mà không trụ vào bất cứ một hình tướng hay ý niệm nào, kể cả ý niệm về sự giác ngộ. Chính sự phá chấp triệt để này giống như một lưỡi gươm kim cương, cắt đứt mọi vô minh và phiền não kiết sử. Nhờ đó, hành giả có thể phát sinh trí tuệ siêu việt, nhận chân được thực tại tối hậu và đạt đến trạng thái niết-bàn tự tại. Tác phẩm này là nền tảng triết lý cốt lõi của Thiền tông, được các bậc tổ sư đặc biệt chú trọng truyền dạy.

Mục lục

Phần mở đầu

KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT

Tôi nghe như vầy, một

thuở Phật ở nước Xá Vệ, nơi tịnh xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc, cùng chúng Đại Tỳ

Kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị. Bấy giờ đến giờ ăn, Thế Tôn đắp mang

y bát, vào đại thành Xá Vệ, theo thứ tự khất thực từng nhà trong thành

xong, trở về chổ ở thọ trai, rồi cất y bát, đại chúng rửa chân, trải tọa

cụ cùng ngồi.

2. THIỆN HIỆN KHỞI THỈNH

(Tu Bồ Đề là tiếng Phạn, nghĩa Hán là Thiện Hiện.)

Khi ấy, trưởng lão Tu Bồ

Đề ở trong đại chúng từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch vai áo tay phải, quỳ

gối chân phải, chắp tay cung kính bạch Phật rằng:

-Hy hữu Thế Tôn! Như Lai

khéo hộ niệm cho các Bồ Tát, khéo phó chúc cho các Bồ Tát. Bạch Thế Tôn!

Những thiện nam tín nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên an

trụ tâm như thế nào? Hàng phục tâm như thế nào?

Phật bảo:

Lành thay! Lành thay! Tu

Bồ Đề! Theo như ngươi nói, Như Lai khéo hộ niệm cho các Bồ Tát, khéo phó

chúc cho các Bồ Tát. Nay ngươi hãy lắng nghe, ta sẽ vì ngươi nói rõ.

Những thiện nam tín nữ phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác nên an

trụ tâm như vầy, hàng phục tâm như vầy.

-Bạch Thế Tôn, con rất

mong được nghe.

3. ĐẠI THỪA CHÁNH TÔNG

Phật bảo Tu Bồ Đề:-Các

Bồ Tát Ma Ha Tát nên hàng phục tâm như vầy: Tất cả các loài chúng sanh,

hoặc noãn sanh, hoặc thai sanh, hoặc thấp sanh, hoặc hóa sanh, hoặc hữu

sắc, hoặc vô sắc, hoặc hữu tướng, hoặc vô tướng, hoặc phi hữu tướng,

hoặc phi vô tướng, ta đều khiến vào Vô Dư Niết Bàn mà diệt độ. Diệt độ

vô lượng vô số chúng sanh như thế, mà thật ra chẳng có chúng sanh nào

được diệt độ cả. Tại sao? Tu Bồ Đề! Nếu Bồ Tát có ngã tướng, nhơn tướng,

chúng sanh tướng, thọ giả tướng ắt chẳng phải Bồ Tát.

Lược Giải

Tứ tướng có hai thứ:

1) Mê Thức Tứ Tướng

của phàm phu: Chấp thật cái thân ngũ uẩn này là ta, gọi là ngã tướng. Bỏ

ngã tướng chấp vào toàn nhân loại gọi là nhơn tướng. Bỏ nhân loại chấp

vào toàn chúng sanh gọi là chúng sanh tướng. Bỏ chúng sanh tướng cho là

chỉ có Chơn Như Phật tánh vĩnh viễn tồn tại trong thời gian gọi là thọ

giả tướng (thọ là thời gian).

2) Mê Trí Tứ Tướng

của bậc thánh: Bậc thánh tâm biết có sở chứng, dù chứng đến thanh tịnh

Niết Bàn đều thuộc về ngã tướng. Nay ngộ thêm một bậc, biết chẳng phải

ta chứng, siêu việt tất cả chứng, nhưng còn cái tâm năng ngộ gọi là nhơn

tướng. Nay tiến thêm một bậc nữa, liễu tri năng chứng năng ngộ là ngã

tướng nhơn tướng, chỗ ngã tướng nhơn tướng chẳng thể đến (năng chứng

năng ngộ chẳng thể đến), chỉ còn tâm liễu tri, gọi là chúng sanh tướng.

Rồi tiến thêm một bậc nữa, chiếu soi tâm liễu tri cũng bất khả đắc, chỉ

một giác thể thanh tịnh, gọi là cứu kính giác, tất cả tịch diệt, cũng

gọi là Niết Bàn. Nếu còn trụ nơi Niết Bàn thì mạng căn chưa dứt, gọi là

thọ giả tướng. (Lược giải hết)

4. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ

-Lại nữa, Tu Bồ Đề! Bồ

Tát ở nơi các pháp, ưng vô sở trụ mà hành việc bố thí, tức là chẳng trụ

sắc bố thí, chẳng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ

Tát bố thí nên chẳng trụ nơi tướng như thế. Tại sao? Nếu Bồ Tát chẳng

trụ nơi tướng bố thí thì phước đức chẳng thể suy lường.

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Hư không bên phương đông có thể suy lường chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

-Tu Bồ Đề! Hư không bên

các phương nam, tây, bắc và trên, dưới có thể suy lường được chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

-Tu Bồ Đề! Bồ Tát bố thí

chẳng trụ nơi tướng, phước đức cũng như vậy, chẳng thể suy lường. Tu Bồ

Đề! Bồ Tát cần an trụ tâm như ta đã bảo.

5. NHƯ LÝ THẬT KIẾN

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Có thể nhờ thân tướng mà thấy Như Lai chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

Chẳng thể nhờ thân tướng thấy được Như Lai. Tại sao? Như Lai nói thân

tướng tức phi thân tướng. Phật bảo Tu Bồ Đề:

-Phàm tất cả tướng đều

là hư vọng. Nếu thấy các tướng phi tướng, tức là thấy Như Lai.

Lược Giải

Ý Phật ở đây là phá

chấp tướng. Nếu thấy các pháp có tướng là chấp vào tướng có. Nếu thấy

các pháp không tướng là chấp vào tướng không. Nên ở đây Kinh nói “các

tướng phi tướng”, mà nếu chấp vào phi tướng cho là chẳng phải tướng, cho

là không tướng thì vẫn còn chấp tướng. (Lược giải hết)

6. CHÁNH TÍN HY HỮU

Tu Bồ Đề Thưa rằng:

-Bạch Thế Tôn! Nếu có

chúng sanh được nghe những lời nói, văn tự kể trên có thể sanh lòng tin

chơn thật chăng?

Phật bảo:

-Tu Bồ Đề, đừng nói vậy!

Sau khi Như Lai diệt độ năm trăm năm về sau, từ tượng pháp cho đến mạt

pháp, nếu có người tu phước trì giới đối với lời nói, văn tự kể trên

được sanh lòng tin, cho đó là thật. Phải biết người ấy đã nghe lời nói

văn tự này, cho đến được một niệm sanh khởi lòng tin trong sạch, là vì

đã từng gieo trồng thiện căn nơi muôn ngàn vô lượng Phật, chứ chẳng phải

gieo trồng thiện căn nơi một Phật, hoặc ba, bốn, năm Phật. Tu Bồ Đề! Như

Lai biết rõ, thấy rõ những chúng sanh ấy được vô lượng phước đức như

thế. Tại sao? Vì những chúng sanh ấy chẳng còn có ngã tướng, nhơn tướng,

chúng sanh tướng, thọ giả tướng, chẳng chấp pháp tướng, cũng chẳng chấp

phi pháp tướng. Tại sao? Vì những chúng sanh ấy nếu khởi tâm chấp tướng

(tiền trần) tức là dính mắc bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả.

Nếu chấp pháp tướng (pháp trần) cũng là dính mắc bốn tướng ngã, nhơn,

chúng sanh, thọ giả. Nếu chấp phi pháp tướng (là bóng phân biệt của pháp

trần), cũng là dính mắc bốn tướng ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Vì thế

chẳng nên chấp pháp, chẳng nên chấp phi pháp. Do nghĩa này Như Lai

thường nói: Các Tỳ Kheo phải biết lời thuyết pháp của ta ví như chiếc bè

qua sông, đến bờ thì phải bỏ bè; vậy pháp còn phải bỏ, huống là phi

pháp!

7. VÔ ĐẮC VÔ THUYẾT

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Như Lai có chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Lai

có thuyết pháp chăng?

Tu Bồ Đề đáp:

-Như con hiểu nghĩa của

Phật nói thì chẳng có pháp nhất định gọi là pháp Vô Thượng Chánh Đẳng

Chánh Giác, cũng chẳng có pháp nhất định cho Như Lai thuyết. Tại sao? Vì

pháp của Như Lai thuyết đều chẳng thể chấp thật, chẳng thể nói là pháp,

là phi pháp hay phi phi pháp. Tại sao? Vì tất cả hiền thánh đều dựa theo

pháp vô vi mà nói có sai biệt.

Lược Giải

Tất cả hiền thánh đều

dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệt: Pháp vô vi tức là pháp vô sanh,

chẳng thể tu chứng, chẳng thể suy lường, chẳng thể diễn tả. Nay dựa theo

đường đi vô vi, vì chưa đến chỗ vô vi nên mới có đủ thứ sai biệt như

thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, cho đến thập địa, đẳng

giác, nếu đã đến diệu giác tức là chỗ vô vi thì chẳng còn sai biệt.

(Lược giải hết)

8. Y PHÁP XUẤT SANH

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Như có người đem thất bửu đầy khắp cõi tam thiên đại thiên thế giới

dùng để bố thí, người ấy được phước đức nhiều chăng?

Tu Bồ Đề đáp:

-Bạch Thế Tôn, rất

nhiều. Tại sao? Phước đức ấy tức phi phước đức tánh, nên Như Lai nói là

phước đức nhiều.

Phật bảo:

-Nếu có người thọ trì

(tín thọ mà thực hành) Kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ rồi

giảng cho người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia. Tại

sao? Tu Bồ Đề! Tất cả chư Phật và pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác

của chư Phật đều từ Kinh này ra. Tu Bồ Đề, gọi là Phật pháp, tức phi

Phật pháp.

Ghi

Chú

Tứ Cú Kệ:

Có là cú thứ nhất,

Không là cú thứ

nhì,

Cũng có cũng

không là cú thứ ba,

Chẳng có chẳng

không là cú thứ tư.

Chẳng lọt vào tứ

cú là thực hành theo tứ cú kệ. (Ghi chú hết)

9. NHẤT TƯỚNG VÔ TƯỚNG

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Tu Đà Hoàn có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả Tu Đà Hoàn” chăng?

Tu Bồ Đề đáp:

-Bạch Thế Tôn, không ạ.

Tại sao? Tu Đà Hoàn gọi là Nhập Lưu mà vô sở nhập; chẳng nhập sắc,

thanh, hương, vị, xúc, pháp, ấy gọi là Tu Đà Hoàn.

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Tư Đà Hàm có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả Tư Đà Hàm” chăng?

-Bạch Thế Tôn, không ạ.

Tại sao? Tư Đà Hàm gọi là Nhất Vãng Lai mà thật chẳng vãng lai, ấy gọi

là Tư Đà Hàm.

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? A Na Hàm có thể nghĩ rằng “Ta đắc quả A Na Hàm” chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

Tại sao? A Na Hàm gọi là Bất Lai mà thật chẳng phải bất lai, ấy gọi là A

Na Hàm.

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? A La Hán có thể nghĩ rằng “Ta đắc đạo A La Hán” chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

Tại sao? Thật chẳng có pháp gọi là A La Hán. Thế Tôn! Nếu A La Hán nghĩ

rằng “Ta đắc đạo A La Hán”, tức là dính mắc bốn tướng ngã, nhơn, chúng

sanh, thọ giả. Thế Tôn! Phật nói con đắc Vô Tranh Tam Muội, là hạng nhất

trong loài người, là hạng nhất trong bậc ly dục A La Hán. Thế Tôn! Nhưng

con nghĩ rằng con là ly dục A La Hán. Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con đắc

đạo A La Hán, thì Thế Tôn chẳng nói Tu Bồ Đề là một hành giả thanh tịnh

hạnh. Vì Tu Bồ Đề vốn là vô sở hành, nên mới gọi Tu Bồ Đề là hành giả

thanh tịnh hạnh.

10. TRANG NGHIÊM TỊNH ĐỘ

Phật bảo:

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Xưa kia Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng có đắc pháp gì chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

Như Lai ở nơi Phật Nhiên Đăng thật vô sở đắc. -Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Bồ Tát có trang nghiêm Phật độ chăng? -Bạch Thế Tôn, không. Tại

sao? Nói trang nghiêm Phật độ, tức phi trang nghiêm, thị danh trang

nghiêm (nghĩa ba câu).

-Cho nên Tu Bồ Đề! Chư

Bồ Tát Ma Ha Tát nên sanh tâm trong sạch như thế, là chẳng nên khởi tâm

trụ sắc, chẳng nên khởi tâm trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp, ưng vô sở

trụ mà sanh kỳ tâm.

-Tu Bồ Đề! Ví như có

người thân như núi chúa Tu Di, ý ngươi thế nào? Thân ấy có đại chăng?

-Bạch Thế Tôn, rất đại.

Tại sao? Phật nói phi thân thị danh đại thân (Chữ đại ở đây là siêu việt

số lượng).

Lược Giải

Nói trang nghiêm Phật

độ, tức phi trang nghiêm, thị danh trang nghiêm. Đây là nghĩa ba câu

trong Kinh này: Câu thứ nhất cho trang nghiêm Phật độ là thật; câu thứ

nhì dùng chữ phi để phá cái chấp thật của câu thứ nhất; câu thứ ba cho

tất cả tên gọi đều là giả danh. Câu thứ nhất trang nghiêm Phật độ là giả

danh, câu thứ nhì phi trang nghiêm cũng là giả danh, câu thứ ba thị danh

trang nghiêm cũng là giả danh. Vậy giả danh thì chẳng có nghĩa thật, cho

nên Phật nói: “Phàm là lời nói đều chẳng phải nghĩa thật.” (Lược giải

hết)

11. VÔ VI PHƯỚC THẮNG

-Tu Bồ Đề! Như có nhiều

sông Hằng bằng số cát trong một sông Hằng. Ý ngươi thế nào? Số cát ở

trong những sông Hằng ấy có phải nhiều chăng? Tu Bồ Đề đáp:

-Bạch Thế Tôn, rất

nhiều. Chỉ những sông Hằng ấy cũng nhiều vô số rồi, huống chi là cát.

-Tu Bồ Đề! Nay ta nói

thật cho nghe, như có thiện nam tín nữ, đem thất bửu chứa đầy các đại

thiên thế giới bằng số cát kể trên dùng để bố thí, được phước nhiều

chăng?

-Bạch Thế Tôn, rất

nhiều.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

-Nếu có thiện nam tín nữ

thọ trì Kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ, rồi giảng cho

người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia.

12. TÔN TRỌNG CHÁNH GIÁO

-Lại nữa, Tu Bồ Đề! Bất

cứ nơi nào có thuyết Kinh này, cho đến chỉ thuyết tứ cú kệ, phải biết

nơi đó tất cả thế gian, trời, người, A Tu La đều nên cúng dường như tháp

miếu của Phật, huống chi có người được thọ trì đọc tụng cả Kinh này. Tu

Bồ Đề! Nên biết người ấy thành tựu pháp hy hữu tối thượng hạng nhất. Vậy

phàm nơi nào có kinh điển này tức là có Phật, được Phật tử tôn trọng.

13. NHƯ PHÁP THỌ TRÌ

Khi ấy Tu Bồ Đề thưa

rằng:

-Bạch Thế Tôn! Kinh này

nên đặt tên gì? Chúng con phải thọ trì như thế nào? Phật bảo Tu Bồ Đề:

-Kinh này tên là Kim

Cang Bát Nhã Ba La Mật, ngươi cứ theo tên gọi thọ trì. Tại sao? Tu Bồ

Đề, Phật nói Bát Nhã Ba La Mật, tức phi Bát Nhã Ba La Mật, thị danh Bát

Nhã Ba La Mật (đây cũng là nghĩa ba câu đã được giải ở trên).

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Như Lai có thuyết pháp chăng?

-Bạch Thế Tôn, Như Lai

vô sở thuyết.

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế

nào? Tất cả vi trần trong tam thiên đại thiên thế giới có nhiều chăng?

Tu Bồ Đề thưa:

-Bạch Thế Tôn, rất

nhiều.

-Tu Bồ Đề! Như Lai nói

những vi trần ấy tức phi vi trần, thị danh vi trần. Như Lai nói thế giới

tức phi thế giới, thị danh thế giới (nghĩa ba câu). Tu Bồ Đề! Ý ngươi

thế nào? Có thể nhờ ba mươi hai tướng thấy

Như Lai chăng?

-Bạch Thế Tôn, không.

Chẳng thể nhờ ba mươi hai tướng thấy được Như Lai. Tại sao? Như Lai nói

ba mươi hai tướng tức là phi tướng, thị danh ba mươi hai tướng (nghĩa ba

câu).

-Tu Bồ Đề! Như có thiện

nam tín nữ đem thân mạng nhiều bằng số cát sông Hằng dùng để bố thí; với

người thọ trì kinh này, cho đến chỉ thực hành theo tứ cú kệ và giảng cho

người khác nghe, thì được phước hơn người kia rất nhiều.

14. LY TƯỚNG TỊCH DIỆT

Bấy giờ Tu Bồ Đề nghe

Phật thuyết Kinh này, hiểu thấu nghĩa thâm sâu, xúc động chảy nước mắt

mà bạch Phật rằng:

-Hy hữu Thế Tôn! Phật

thuyết kinh điển thâm sâu như thế, con từ khi được huệ nhãn đến nay,

chưa từng được nghe kinh như vậy. Bạch Thế Tôn! Lại nếu có người nghe

được Kinh này lòng tin trong sạch, liền sanh thật tướng, phải biết ngươì

ấy thành tựu được công đức hy hữu hạng nhất.

Bạch Thế Tôn! Đây nói

thật tướng tức là phi tướng, cho nên Như Lai nói giả danh thật tướng

(nghĩa ba câu).

Bạch Thế Tôn! Nay con

được nghe Kinh này tín, giải, thọ trì chẳng cho là khó. Nếu năm trăm năm

về sau, đời vị lai có chúng sanh nghe được Kinh này, tín, giải, thọ trì

thì người ấy là hy hữu hạng nhất. Tại sao? Vì người ấy vô ngã tướng,

nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại sao? Vì ngã tướng tức

là phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng cũng là phi

tướng. Tại sao? Lìa tất cả chư tướng, tức gọi là chư Phật.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

-Đúng thế! Đúng thế! Lại

nếu có người được nghe Kinh này mà chẳng kinh ngạc, chẳng khiếp sợ, phải

biết người ấy rất là hy hữu. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất Ba

La Mật, tức phi đệ nhất Ba La Mật, thị danh đệ nhất Ba La Mật (nghĩa ba

câu).

Tu Bồ Đề! Như Lai nói

nhẫn nhục Ba La Mật, tức phi nhẫn nhục Ba La Mật, thị danh nhẫn nhục Ba

La Mật. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như ta xưa kia bị vua Ca Lợi xẻ nát thân thể,

lúc đó ta vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại

sao? Vì xưa kia khi ta bị phanh xé thân thể từng miếng, nếu có ngã

tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thì phải sanh tâm sân

hận.

Tu Bồ Đề! Nhớ lại kiếp

quá khứ, ta làm tiên nhẫn nhục trãi qua năm trăm đời, những đời ấy đều

vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tu Bồ Đề! Vì

thế Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải lìa tất cả

tướng. Chẳng nên sanh tâm trụ nơi sắc, và cũng chẳng nên sanh tâm trụ

nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên sanh tâm vô sở trụ; nếu tâm có trụ

tức là phi trụ, thị danh tâm trụ (nghĩa ba câu).

Cho nên Phật nói tâm của

Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc bố thí, chẳng nên trụ nơi thanh, hương, vị,

xúc, pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh, cần

phải bố thí như thế. Như Lai nói Tất cả các tướng tức là phi tướng, lại

nói Tất cả chúng sanh tức phi chúng sanh.

Tu Bồ Đề! Như Lai là

người chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ. Tu Bồ Đề!

Pháp của Như Lai chứng đắc, ấy là pháp vô thật vô hư.

Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ

Tát trụ nơi pháp mà hành việc bố thí, thì cũng như người vào chỗ tối

chẳng thấy gì cả. Nếu tâm của Bồ Tát chẳng trụ nơi pháp mà hành việc bố

thí, thì cũng như người có mắt dưới ánh sáng mặt trời, tất cả thấy rõ đủ

thứ sắc tướng.

Tu Bồ Đề! Về đời sau

này, nếu có thiện nam tín nữ thọ trì, đọc tụng Kinh này, thì trí huệ của

Như Lai biết rõ người ấy, thấy rõ người ấy, đều được thành tựu công đức

vô lượng vô biên.

Lược Giải

Ngũ ngữ: Chơn ngữ,

thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ.

Phật thuyết chơn

ngữ là nghĩa chung với nhị thừa (có sanh Tụ để diệt, có Niết Bàn để

chứng), thật ngữ là nghĩa chung với Bồ Tát (nghĩa đại thừa, sanh tử Niết

Bàn đều như hoa đốm trên không), như ngữ là nghĩa chung với tam thừa

(trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả), bất cuống ngữ:

chẳng dối tức là vô hư; bất dị ngữ: thấy trước việc chưa đến gọi là bất

dị, tức là vô thật, nên Phật nói pháp ấy là vô thật vô hư. (Lược giải

hết)

Đọc tiếp: 14. LY TƯỚNG TỊCH DIỆT →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *