KINH KIM CANG BÁT NHÃ BA LA MẬT · Chương 14/32

14. LY TƯỚNG TỊCH DIỆT

Bấy giờ Tu Bồ Đề nghe

Phật thuyết Kinh này, hiểu thấu nghĩa thâm sâu, xúc động chảy nước mắt

mà bạch Phật rằng:

-Hy hữu Thế Tôn! Phật

thuyết kinh điển thâm sâu như thế, con từ khi được huệ nhãn đến nay,

chưa từng được nghe kinh như vậy. Bạch Thế Tôn! Lại nếu có người nghe

được Kinh này lòng tin trong sạch, liền sanh thật tướng, phải biết ngươì

ấy thành tựu được công đức hy hữu hạng nhất.

Bạch Thế Tôn! Đây nói

thật tướng tức là phi tướng, cho nên Như Lai nói giả danh thật tướng

(nghĩa ba câu).

Bạch Thế Tôn! Nay con

được nghe Kinh này tín, giải, thọ trì chẳng cho là khó. Nếu năm trăm năm

về sau, đời vị lai có chúng sanh nghe được Kinh này, tín, giải, thọ trì

thì người ấy là hy hữu hạng nhất. Tại sao? Vì người ấy vô ngã tướng,

nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại sao? Vì ngã tướng tức

là phi tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng cũng là phi

tướng. Tại sao? Lìa tất cả chư tướng, tức gọi là chư Phật.

Phật bảo Tu Bồ Đề:

-Đúng thế! Đúng thế! Lại

nếu có người được nghe Kinh này mà chẳng kinh ngạc, chẳng khiếp sợ, phải

biết người ấy rất là hy hữu. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như Lai nói đệ nhất Ba

La Mật, tức phi đệ nhất Ba La Mật, thị danh đệ nhất Ba La Mật (nghĩa ba

câu).

Tu Bồ Đề! Như Lai nói

nhẫn nhục Ba La Mật, tức phi nhẫn nhục Ba La Mật, thị danh nhẫn nhục Ba

La Mật. Tại sao? Tu Bồ Đề! Như ta xưa kia bị vua Ca Lợi xẻ nát thân thể,

lúc đó ta vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tại

sao? Vì xưa kia khi ta bị phanh xé thân thể từng miếng, nếu có ngã

tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng thì phải sanh tâm sân

hận.

Tu Bồ Đề! Nhớ lại kiếp

quá khứ, ta làm tiên nhẫn nhục trãi qua năm trăm đời, những đời ấy đều

vô ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng. Tu Bồ Đề! Vì

thế Bồ Tát phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác phải lìa tất cả

tướng. Chẳng nên sanh tâm trụ nơi sắc, và cũng chẳng nên sanh tâm trụ

nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên sanh tâm vô sở trụ; nếu tâm có trụ

tức là phi trụ, thị danh tâm trụ (nghĩa ba câu).

Cho nên Phật nói tâm của

Bồ Tát chẳng nên trụ nơi sắc bố thí, chẳng nên trụ nơi thanh, hương, vị,

xúc, pháp bố thí. Tu Bồ Đề! Bồ Tát vì lợi ích tất cả chúng sanh, cần

phải bố thí như thế. Như Lai nói Tất cả các tướng tức là phi tướng, lại

nói Tất cả chúng sanh tức phi chúng sanh.

Tu Bồ Đề! Như Lai là

người chơn ngữ, thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ. Tu Bồ Đề!

Pháp của Như Lai chứng đắc, ấy là pháp vô thật vô hư.

Tu Bồ Đề! Nếu tâm của Bồ

Tát trụ nơi pháp mà hành việc bố thí, thì cũng như người vào chỗ tối

chẳng thấy gì cả. Nếu tâm của Bồ Tát chẳng trụ nơi pháp mà hành việc bố

thí, thì cũng như người có mắt dưới ánh sáng mặt trời, tất cả thấy rõ đủ

thứ sắc tướng.

Tu Bồ Đề! Về đời sau

này, nếu có thiện nam tín nữ thọ trì, đọc tụng Kinh này, thì trí huệ của

Như Lai biết rõ người ấy, thấy rõ người ấy, đều được thành tựu công đức

vô lượng vô biên.

Lược Giải

Ngũ ngữ: Chơn ngữ,

thật ngữ, như ngữ, bất cuống ngữ, bất dị ngữ.

Phật thuyết chơn

ngữ là nghĩa chung với nhị thừa (có sanh Tụ để diệt, có Niết Bàn để

chứng), thật ngữ là nghĩa chung với Bồ Tát (nghĩa đại thừa, sanh tử Niết

Bàn đều như hoa đốm trên không), như ngữ là nghĩa chung với tam thừa

(trí huệ chẳng thể suy lường, lời nói chẳng thể diễn tả), bất cuống ngữ:

chẳng dối tức là vô hư; bất dị ngữ: thấy trước việc chưa đến gọi là bất

dị, tức là vô thật, nên Phật nói pháp ấy là vô thật vô hư. (Lược giải

hết)

Mở trong trình đọc kinh