THƯ VIỆN KINH PHẬT

Tuyển tập Kinh Phật dành cho Phật tử học đạo

Chào mừng bạn đến với chuyên mục Kinh Điển — nơi lưu giữ những bản kinh quý báu, nguồn cội của mọi giáo pháp. Hãy để tâm mình tĩnh lặng khi lật mở từng dòng chữ của bậc Giác Ngộ. Mong rằng những lời dạy này sẽ là đóa hoa tâm an lạc, giúp bạn soi sáng nội tâm và vững vàng hơn trên lộ trình tu tập giải thoát.

KINH KIM CANG

-Tu Bồ Đề! Ý ngươi thế nào? Như Lai có chứng đắc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác chăng? Như Lai có thuyết pháp chăng?
Tu Bồ Đề đáp:

-Như con hiểu nghĩa của Phật nói thì chẳng có pháp nhất định gọi là pháp Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, cũng chẳng có pháp nhất định cho Như Lai thuyết. Tại sao? Vì pháp của Như Lai thuyết đều chẳng thể chấp thật, chẳng thể nói là pháp, là phi pháp hay phi phi pháp. Tại sao? Vì tất cả hiền thánh đều dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệt.

Lược Giải 

Tất cả hiền thánh đều dựa theo pháp vô vi mà nói có sai biệtPháp vô vi tức là pháp vô sanh, chẳng thể tu chứng, chẳng thể suy lường, chẳng thể diễn tả. Nay dựa theo đường đi vô vi, vì chưa đến chỗ vô vi nên mới có đủ thứ sai biệt như thập tínthập trụthập hạnhthập hồi hướngcho đến thập địađẳng giác, nếu đã đến diệu giác tức là chỗ vô vi thì chẳng còn sai biệt. (Lược giải hết) 

—– Trích đoạn Kinh Kim Cang

View Book

KINH TRƯỜNG A HÀM

Phật bảo các Tỳ-kheo:

“Hãy lắng nghe, hãy suy gẫm kỹ. Ta sẽ phân biệt giải thuyết cho các ngươi nghe”.”

Lúc bấy giờ, các Tỳ-kheo vâng lời, lắng nghe.

Phật nói:

“Này các Tỳ-kheo! Quá khứ cách đây chín mươi mốt kiếp có Đức Phật hiệu là Tỳ-bà-thi , Như Lai, Chí Chân, xuất hiện ở thế gian.

“Lại nữa, Tỳ-kheo, trong quá khứ cách đây ba mươi mốt kiếp có Đức Phật hiệu là Thi-khí, Như Lai, Chí Chân, xuất hiện ở thế gian.

“Lại nữa, Tỳ-kheo, cũng trong ba mươi mốt kiếp đó có Đức Phật hiệu là Tỳ-xá-bà Như Lai, Chí Chân, xuất hiện ở thế gian.

“Lại nữa, Tỳ-kheo, trong hiền kiếp này có Phật hiệu là Câu-lưu-tôn, Câu-na-hàm, Ca-diếp. Ta nay cũng ở trong hiền kiếp này mà thành Tối chánh giác.”

—– Trích đoạn Kinh Trường A Hàm

View Book

KINH HOA NGHIÊM – PHẦN 1

(1) Như vậy tôi nghe, một lúc Phật ở nước Ma-Kiệt-Đề, trong đạo-tràng bồ-đề, ban đầu thành Vô-thượng Chánh-giác.  Nơi đó đất cứng chắc, bằng Kim-Cang. Có các luân-báu, hoa báu, châu ma-ni thanh-tịnh, dùng trang nghiêm. Các châu ma-ni sắc-tướng hải làm tràng, thường phóng quang minh, luôn vang ra tiếng vi diệu. Các mành lưới-báu, chuỗi-hoa hương thơm, bủa giăng rủ bốn phía. Châu ma-ni bảo-vương biến-hiện tự-tại, mưa vô-tận châu-bảo và những hoa đẹp rải khắp mặt đất. Cây báu giăng hàng, nhánh lá sum-sê sáng-rỡ.

Do thần lực của Phật làm cho đạo-tràng này ảnh-hiện tất cả sự trang-nghiêm.

—– Trích đoạn Kinh Hoa Nghiêm

View Book

KINH TĂNG CHI BỘ – PHẦN 1

1.- Như vầy tôi nghe. 

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: – Này các Tỷ-kheo. – Bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế TônThế tôn nói như sau: 

– Có hai loại tội này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại, và tội có kết quả trong đời sau. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa bắt được người ăn trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi. Họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đầu hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt La-hầu khẩu hình … hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) … đốt tay … khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) … bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) … linh dương hình (hình phạt con dê núi) … câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) … tiền hình (cắt thịt thành đồng tiền) … khối chắp hình … chuyển hình … cao đạp đài … Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu.

—– Trích đoạn Kinh Tăng Chi Bộ 

View Book

KINH A DI ĐÀ

Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Đức Phật ở nơi vườn Kỳ Thọcấp Cô Độc nước Xá-Vệ, cùng với một nghìn hai trăm năm mươi vị đại Tỳ kheo câu hội: đều là bậc A La Hán mọi người đều quen biết, như là: Trưởng lão Xá-Lợi-Phất, Đại Mục-Kiền-Liên, Đại Ca-Diếp, Ma-Ha Ca-Chiên-Diên, Ma-Ha Câu-Hy-La, Ly-Bà-Đa, Châu-Lợi-Bàn-Đà-Già, Nan-Đà, A-Nan-Đà, La-Hầu-La, Kiều-Phạm-Ba-Đề, Tân Đầu-Lư-Phả-La-Đọa, Ca-Lưu-Đà-Di, Ma-Ha Kiếp Tân Na, Bạc-Câu-La, A-Nâu-Lầu-Đà, những vị đại đệ tử như thế. Và hàng Đại Bồ Tát, Văn-Thù-Sư-Lợi: Pháp-Vương-Tử, A-Dật-Đa Bồ Tát, Càn-Đà-Ha-Đề Bồ Tát, Thường-Tinh-Tấn Bồ tát… cùng với các vị Đại Bồ tát như thế và với vô lượng chư Thiên như ông Thích-Đề-Hoàn-Nhơn..v..v.. đại chúng cùng đến dự hội.

—– Trích đoạn Kinh A Di Đà

View Book

KINH ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Khi ấy, đức Như-Lai từ Trùng-Các giảng-đường đến Đại-Tập-đường, Ngài trải tòa ngồi và bảo các vị Tỳ-Khưu: “Xưa kia Tôi vì các vị nói ra mọi pháp, các vị luôn luôn suy-nghĩ và tu-tập những pháp ấy đừng lãng quên! Các vị tu phạm-hạnh cho thanh-tịnh, gìn-giữ giới cấm, làm phúc-lợi cho chư Thiên, nhân-dân thế-gian. Các vị Tỳ-Khưu! Xưa kia Tôi vì các vị nói những pháp gì, các vị nên suy-nghĩ những pháp ấy, chớ sinh biếng-nhác. Tôi nói ba mươi bảy đạo-phẩm pháp nhưbốn niệm xứ, bốn chính cần, bốn như-ý-túc, năm căn, năm lực, bảy giác-chi và tám thánh-đạo-phận[17], các vị nên tu-tập, suy-nghĩ tinh-cần những pháp ấy có thể làm cho các vị đến nơi giải-thoát!

—– Trích đoạn Kinh Đại Bát Niết Bàn

View Book

KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ

Tìm đến nơi thanh vắng, dưới gốc cây hay ngôi nhà trống, hành giả ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ lưng thẳng đứng và thiết lập chánh niệm ngay trước mặt. Với sự tỉnh thức trọn vẹn, vị ấy thở vô và thở ra, nhận biết rõ ràng hơi thở mình đang dài hay ngắn, đồng thời mở rộng ý thức để cảm nhận sự hiện diện của toàn thân và nhẹ nhàng làm lắng dịu mọi thân hành trong từng nhịp thở. Từ nền tảng an tịnh đó, hành giả tiếp tục nương theo hơi thở để nuôi dưỡng niềm hỷ lạc, nhận diện và làm êm dịu các cảm thọ, khiến cho tâm ý trở nên định tĩnh, vui vẻ và cởi bỏ những vướng mắc. Cuối cùng, duy trì hơi thở chánh niệm kiên định, vị ấy quán chiếu sâu sắc về tính vô thường, sự ly tham và đoạn diệt của vạn pháp, để rồi đạt đến sự từ bỏ hoàn toàn mọi dính mắc, thành tựu giải thoát.”

—– Trích đoạn Kinh Quán Niệm Hơi Thở

View Book

KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI

Với tôn chỉ ‘Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành’, Kinh Phạm Võng khẳng định rằng giới luật chính là sự khơi bày bản tính sáng suốt sẵn có trong mỗi chúng sinh. Thay vì những cấm đoán khắt khe, giới phẩm Bồ-tát lấy lòng hiếu thuận và từ bi làm gốc rễ, nhắc nhở ta nhìn nhận mọi loài như cha mẹ nhiều đời để sống yêu thương và trách nhiệm. Khi một người phát tâm thọ trì giới pháp bằng tinh thần bình đẳng ấy, họ không còn là kẻ phàm phu mà đã thực sự bước vào hàng ngũ của chư Phật, mang trong mình ánh sáng của bậc Đại Giác để soi rọi thế gian.

—– Trích đoạn Kinh Phạm Võng Bồ Tát Giới

View Book

KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

(1) Như vậy tôi nghe, một thời Thế Tôn ở tại vườn Lộc Uyển, gần thành Ba-la-nại. Bấy giờ, Ngài bảo năm anh em Kiều-trần-như rằng: “Này các Tỷ-kheo, có hai cực đoan này mà người xuất gia không nên thực hành: Một là đắm say trong các dục lạc, thấp hèn và vô ích; hai là khổ hạnh ép xác, đau khổ và vô ích. Từ bỏ cả hai cực đoan ấy, Như Lai đã chứng ngộ con đường Trung đạo, con đường đem lại tầm nhìn và tri kiến, dẫn đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ và Niết-bàn.”

— Trích đoạn Kinh Chuyển Pháp Luân

View Book

KINH DIỆU PHÁP LIÊN HOA

Trong phẩm Phương Tiện của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã giải thích cho ngài Xá-lợi-phất biết lý do cốt lõi mà chư Phật xuất hiện ở thế gian là vì một đại sự nhân duyên duy nhất, đó là giúp chúng sinh khai mở và chứng đắc trí tuệ giác ngộ; cụ thể Ngài dạy rằng chư Phật vì muốn cho chúng sinh KHAI tri kiến Phật để được thanh tịnh, vì muốn THỊ tri kiến Phật cho chúng sinh thấy, vì muốn cho chúng sinh NGỘ tri kiến Phật, và vì muốn cho chúng sinh NHẬP đạo tri kiến Phật mà hiện ra nơi đời, qua đó khẳng định tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật nếu biết quay về đánh thức kho tàng tuệ giác bên trong chính mình.

—– Trích đoạn Kinh Diệu Pháp Liên hoa

View Book

KINH KALAMA

“Trong bản kinh Kalama, Đức Phật đã gửi gắm một thông điệp vượt thời gian về tư duy độc lập khi khuyên nhủ chúng ta chớ vội tin vào bất cứ điều gì chỉ vì nghe tin đồn, truyền thuyết, tập tục lâu đời, vì được ghi trong kinh điển, vì thuận theo lý luận siêu hình, hay thậm chí vì uy quyền của người thầy dạy mình; thay vào đó, thước đo duy nhất của chân lý phải là sự thực chứng của chính bản thân. Ngài dạy rằng chỉ khi nào tự mình suy xét và biết rõ các pháp này là bất thiện, gây khổ đau và bị người trí chỉ trích thì hãy dứt khoát từ bỏ, còn khi nào tự mình kiểm nghiệm thấy các pháp là thiện, mang lại an lạc, lợi ích và được người trí tán thán thì hãy hết lòng thực hành; đó mới chính là con đường của tuệ giác chứ không phải sự vâng phục mù quáng.

—– Trích đoạn Kinh Kalama

View Book

KINH HIỀN NHÂN

Như vậy tôi nghe, một lúc Phật ở tại nước Xá-Vệ, trong vườn của ông Cấp-Cô-Độc, rặng cây Thái-tử Kỳ-Đà. Bấy giờ, Đức Thế Tôn vì các hàng Bồ-tát, Tỳ-kheo và quyến thuộc mà diễn thuyết về đạo lý làm người, phân định rõ bậc Hiền nhân và kẻ ngu muội. Nơi đây, ánh từ quang rạng rỡ bao trùm, tâm người thanh tịnh như nước hồ thu, sẵn sàng đón nhận những lời vàng ngọc để tu thân lập hạnh.

View Book

KINH A NẬU LA ĐỘ

“Này các vị, một bậc tu hành chân chính không để tâm mình bị dẫn dắt bởi những ham muốn nhất thời. Khi tâm đã định, trí tuệ sẽ sáng suốt như ngọn đèn pha lê, soi thấu mọi vô minh. Hãy như ngài A Nậu La Độ, giữ gìn sự tỉnh giác trong từng hơi thở, dù trong đêm tối hay ánh sáng, để tâm không còn dao động trước những biến chuyển của thế gian.”

View Book

KINH BAHIYA

“Này Bahiya, hãy tu tập như sau:

Trong cái thấy, sẽ chỉ là cái thấy. Trong cái nghe, sẽ chỉ là cái nghe. Trong cái thọ cảm (ngửi, nếm, xúc chạm), sẽ chỉ là cái thọ cảm. Trong cái nhận thức, sẽ chỉ là cái nhận thức.

Khi nào trong cái thấy chỉ là cái thấy… thì khi ấy ông không là gì trong đó. Khi ông không là gì trong đó, ông sẽ không ở nơi đó. Khi ông không ở nơi đó, ông sẽ không có ở đời này, không có ở đời sau, cũng không có ở giữa hai đời. Đây chính là sự đoạn tận của khổ đau.”

View Book

KINH ASSALÀYANA

“Này Assalàyana, ông nghĩ sao? Chỉ có những người Bà-la-môn mới có khả năng gột rửa sạch những bụi bẩn bằng nước thơm, còn các giai cấp khác thì không thể sao?

Hay ông nghĩ rằng, chỉ có ngọn lửa do người Bà-la-môn thắp lên mới rực sáng và có hơi ấm, còn ngọn lửa do người thuộc giai cấp thấp hèn thắp lên thì sẽ không có ánh sáng và hơi nóng?

Cũng vậy, này Assalàyana, một người dù xuất thân từ bất cứ giai cấp nào, nếu họ từ bỏ sát sinh, từ bỏ lấy của không cho, sống đời sống phạm hạnh và thanh tịnh, thì họ đều có khả năng đạt đến sự giải thoát và an lạc như nhau. Nước của dòng sông nào cũng đều có thể rửa sạch bụi trần, và ánh sáng của chân lý không phân biệt kẻ sang người hèn.”

View Book

KINH KIẾN CHÁNH

“Thế gian vốn dĩ là một dòng chảy không ngừng, nhưng chúng ta lại thường cố xây đập để ngăn dòng nước ấy lại bằng những định kiến của chính mình. Kiến Chánh không phải là nhìn thấy những gì ta muốn thấy, mà là dũng cảm nhìn thấu mọi sự đúng như bản chất nguyên sơ của chúng.

Khi tâm ta lặng yên như mặt hồ không gợn sóng, đó là lúc ta bắt đầu thấy rõ bóng trăng. Đừng đi tìm chân lý ở những nơi xa xôi hay trong những tầng triết lý u uẩn. Chân lý nằm ngay ở cách bạn nâng một tách trà, cách bạn lắng nghe tiếng gió lùa qua kẽ lá, và cách bạn đối diện với nỗi đau của chính mình bằng sự điềm nhiên.

“Kẻ nhìn ra ngoài thì mộng mị, người nhìn vào trong mới tỉnh thức.”

View Book

KINH HOA NGHIÊM – PHẦN 2

(1) Như vậy tôi nghe, một lúc Phật ở nước Ma-Kiệt-Đề, trong đạo-tràng bồ-đề, ban đầu thành Vô-thượng Chánh-giác.  Nơi đó đất cứng chắc, bằng Kim-Cang. Có các luân-báu, hoa báu, châu ma-ni thanh-tịnh, dùng trang nghiêm. Các châu ma-ni sắc-tướng hải làm tràng, thường phóng quang minh, luôn vang ra tiếng vi diệu. Các mành lưới-báu, chuỗi-hoa hương thơm, bủa giăng rủ bốn phía. Châu ma-ni bảo-vương biến-hiện tự-tại, mưa vô-tận châu-bảo và những hoa đẹp rải khắp mặt đất. Cây báu giăng hàng, nhánh lá sum-sê sáng-rỡ.

Do thần lực của Phật làm cho đạo-tràng này ảnh-hiện tất cả sự trang-nghiêm.

—– Trích đoạn Kinh Hoa Nghiêm

View Book

KINH LĂNG GIÀ

“Ta nghe như vầy, một hôm Phật ở trên đảnh núi Lăng Già tại bờ biển Nam, có đủ các thứ hoa báu trang nghiêm, khi ấy các Đại Tỳ Kheo Tăng và chúng Đại Bồ Tát từ các cõi Phật đến, những Đại Bồ Tát ấy đều đủ sức tự tạivô lượng chánh địnhdu hý thần thông.

Bồ Tát Đại Huệ là bậc thượng thủ (đại diện đương cơ của Kinh này), được tất cả chư Phật đích thân làm phép quán đảnhcảnh giới tự tâm hiện lượng của Ngài đối với mọi chúng sanh, mọi tâm và sắc, vô lượng pháp môncho đến năm pháp của tự tánh và hai thứ Vô ngã đều được từng loại phổ hiện, khéo giải nghĩa lý, thông đạt cứu cánh.”

View Book

KINH MA HA MA DA

“Này thầy Xá Lợi Phất, thầy có biết rằng nếu một vị đệ tử áo trắng đạo hạnh biết hộ trì năm Giới pháp và tu tập bốn tâm cao đẹp (tăng thượng tâm) thì có thể dạt tới rất dễ dàng và không khó khăn gì khả năng an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại, và biết chắc chắn rằng mình sẽ không còn đọa lạc vào địa ngụcngạ quỷbàng sinh và các nẻo ác khác trong tương lai?

Một người như thế là đã đắc quả Vào Dòng, không sợ còn bị rơi vào đường ác, chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác. Người ấy chỉ cần qua lại tối đa là bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới biên Giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ.”

View Book

KINH PHƯỚC ĐỨC

(1) Như vậy tôi nghe, một thời Thế Tôn ở thành Xá-vệ, tại Thắng Lâm, vườn Cấp Cô Độc. Lúc bấy giờ, có một vị Thiên giả, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc thù thắng, chiếu sáng toàn vùng Thắng Lâm, đi đến chỗ Thế Tôn. Sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên. Đứng một bên, vị Thiên giả ấy bạch Thế Tôn bằng bài kệ:

Nhiều Thiên và nhân loại Suy nghĩ về phước đức Ước mong được hạnh phúc Xin Ngài dạy điềm lành.

Thế Tôn đáp rằng: Thân cận bậc Hiền trí, lánh xa kẻ xấu ác, tôn kính bậc đáng kính, là phước đức lớn nhất. Sống trong môi trường tốt, đã tạo tác nhân lành, đi trên đường chánh đạo, là phước đức lớn nhất.

— Trích đoạn Kinh Phước Đức

View Book

KINH THẬP THIỆN NGHIỆP ĐẠO

Này Long vương! Nhà ngươi có thấy trong hội này và các loài ở trong đại hải hình sắc chủng loại mỗi mỗi không đồng nhau không? Tất cả đều do tâm tạo thiện hay ác của thân nghiệpkhẩu nghiệp và ý nghiệp mà gây nên cả.

Trước hết, Phật kêu Long vương khiến chăm chú nghe. Cac loài tôm cá ở trong biển hình sắc chủng loại không đồng, quả báo cũng không đồng, toàn do tâm tưởng và hành vi không đồng gây nên. Chỗ xuất hiện của hành vi là thân, khẩu và ý đều có thiện hay ác, nên thành sai biệt. Đoạn này là dẫn “quả” để nói về “nhân”.

View Book

KINH TĂNG CHI BỘ – PHẦN 2

1.- Như vầy tôi nghe. 

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: – Này các Tỷ-kheo. – Bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế TônThế tôn nói như sau: 

– Có hai loại tội này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại, và tội có kết quả trong đời sau. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa bắt được người ăn trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi. Họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đầu hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt La-hầu khẩu hình … hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) … đốt tay … khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) … bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) … linh dương hình (hình phạt con dê núi) … câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) … tiền hình (cắt thịt thành đồng tiền) … khối chắp hình … chuyển hình … cao đạp đài … Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu.

—– Trích đoạn Kinh Tăng Chi Bộ 

View Book

KINH TĂNG CHI BỘ – PHẦN 3

1.- Như vầy tôi nghe. 

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Thắng lâm, khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: – Này các Tỷ-kheo. – Bạch Thế Tôn. Các tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế TônThế tôn nói như sau: 

– Có hai loại tội này, này các Tỷ-kheo. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại, và tội có kết quả trong đời sau. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Ở đây, này các Tỷ-kheo, có người thấy vua chúa bắt được người ăn trộm, kẻ vô loại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi. Họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đầu hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt La-hầu khẩu hình … hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa) … đốt tay … khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt) … bì y hình (lấy vỏ cây làm áo) … linh dương hình (hình phạt con dê núi) … câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt) … tiền hình (cắt thịt thành đồng tiền) … khối chắp hình … chuyển hình … cao đạp đài … Họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu.

—– Trích đoạn Kinh Tăng Chi Bộ 

View Book

KINH DUY-MA-CẬT

Tinh hoa của Kinh Duy Ma Cật hội tụ ở tư tưởng “Bất nhị” và tinh thần nhập thế vô ngại, nơi cõi Tịnh độ không nằm ở phương xa mà khởi nguồn ngay khi tâm ta thanh tịnh (“tùy tâm tịnh, tức cõi Phật tịnh”). Xuyên suốt bộ kinh là hình ảnh Bồ tát lấy nỗi đau của chúng sinh làm nỗi đau của chính mình (“vì chúng sinh bệnh nên ta bệnh”), khẳng định lòng đại bi vô ngã mới là gốc rễ của hành động. Đỉnh cao trí tuệ được thể hiện qua sự “im lặng như sấm sét” của ngài Duy Ma Cật, phá vỡ mọi chấp niệm ngôn từ và sự phân biệt đối đãi, đồng thời nhắc nhở hành giả rằng giác ngộ chân chính ví như hoa sen chỉ nở giữa bùn lầy phiền não, và sự giải thoát đích thực là giữ tâm không dính mắc ngay giữa trần lao rực lửa.

—– Trích đoạn Kinh Duy-ma-cật

View Book

KINH VÔ LƯỢNG THỌ

Khi tôi thành Phật, quốc độ của tôi bằng phẳng rộng rãi, vàng ròng trải đất, không có các đường ác ba đồ và những danh từ khổ não. Chúng sinh mười phương nếu nghe danh hiệu tôi, phát tâm bồ đề, tu các công đức, hết lòng tin ưa, muốn sinh về nước tôi, nhẫn đến mười niệm, nếu không được vãng sinh thì tôi không trụ ở ngôi Chánh Giác. Người dân ở nước đó, dung mạo đoan chính, trí tuệ sáng suốt, thần thông tự tại, hưởng thụ an vui như bậc lọt vào dòng thánh. Hào quang của tôi sẽ chiếu khắp mười phương, vượt hơn ánh sáng của nhật nguyệt, kẻ nào gặp được ánh sáng ấy thì thân tâm nhẹ nhàng, lìa khổ được vui, đến khi lâm chung lòng không điên đảo, tùy nguyện mà được vãng sinh.

—– Trích đoạn Kinh Vô Lượng Thọ

View Book

KINH VÔ LƯỢNG NGHĨA

Kinh Vô Lượng Nghĩa có thể tóm gọn trong một tôn chỉ cốt lõi: “Vạn pháp từ một gốc mà ra, bản thể vốn tĩnh lặng và không hình tướng.” Kinh dạy rằng tất cả nghĩa lý vô cùng tận đều sinh khởi từ một pháp duy nhất là Vô Tướng (Thực tướng của vạn vật). Người thấu triệt được điều này sẽ giữ được tâm bình thản, không còn bị lay động bởi các đối cực “có – không” hay “sinh – diệt”. Từ trạng thái tâm tĩnh lặng như nước đó, người tu hành có thể tùy duyên ứng biến, từ một đạo lý gốc rễ mà triển khai thành muôn vàn phương tiện thiện lành để giúp đời, cứu người mà không hề bị vướng mắc vào hình tướng hay danh lợi.

—– Trích đoạn Kinh Vô Lượng Nghĩa

View Book

KINH THẮNG MAN

Kinh Thắng Man, thông qua hình tượng Thắng Man Phu Nhân và tiếng “Sư Tử Hống” dũng mãnh, đã truyền tải tinh thần Bồ tát đạo sâu sắc với “Mười Đại Nguyện” về việc nghiêm trì giới luật, dứt bỏ tâm tham sân kiêu mạn và nguyện xả thân cứu giúp những chúng sinh cùng khổ, bệnh tật. Cốt lõi tư tưởng của kinh nằm ở việc đề cao hạnh “Nhiếp thọ Chánh pháp” xem như cội nguồn của mọi thiện căn, đồng thời khẳng định giáo lý “Như Lai Tạng” – tin rằng mỗi chúng sinh, dù đang bị phiền não che lấp, vẫn luôn ẩn chứa Phật tánh thanh tịnh, thường hằng và bất biến bên trong.

—– Trích đoạn Kinh Thắng Man

View Book

KINH VIÊN GIÁC

Kinh Viên Giác chỉ dạy con đường giác ngộ rốt ráo thông qua việc nhận thức bản chất như huyễn của vạn pháp. Cốt lõi của kinh nằm ở tư tưởng “Tri huyễn tức ly”—ngay khi nhận ra vọng tưởng, thân xác và sinh tử chỉ là ảo ảnh (như hoa đốm giữa hư không hay giấc mộng), hành giả lập tức lìa bỏ chúng mà không cần nương vào phương tiện hay thứ bậc tu tập nào khác. Bằng trí tuệ soi chiếu thân tứ đại và tâm thức để thấy chúng “vốn không thực”, người tu sẽ không còn kẹt vào sự đối đãi nhị nguyên, từ đó hiển lộ bản tánh Viên Giác thanh tịnh, sáng suốt vốn có sẵn nơi mình.

—– Trích đoạn Kinh Viên Giác

View Book

KINH HIỀN – HỘI HOA ĐÀM

Kinh Hiền – Hoa Hội Đàm không chỉ là những dòng chữ, mà là một cuộc đối thoại tĩnh lặng giữa tâm hồn và vạn vật, nơi con người học cách tìm thấy vẻ đẹp cao quý trong sự giản đơn nhất. Tác phẩm nhắc nhở rằng, giữa thế gian đầy biến động và ồn ã, mỗi cá nhân đều sở hữu một “nhành hoa nội tại” – đó chính là bản tính thiện lương và trí tuệ tỉnh thức. Thay vì mải miết đuổi theo những phù hoa bên ngoài, hành trình thực sự là quay trở về chăm sóc mảnh vườn tâm trí, để sự hiền hòa tự tỏa hương như hoa hội đàm nở rộ trong đêm. Khi tâm ta đủ tĩnh, mỗi bước đi đều trở nên thanh thản, và mỗi cuộc gặp gỡ trong đời đều trở thành một nhân duyên tuyệt đẹp, giúp ta nhận ra rằng hạnh phúc đích thực không nằm ở việc sở hữu, mà ở khả năng bao dung và thấu hiểu lẽ vô thường của cuộc đời.

—– Trích đoạn Kinh Kamala

View Book

KINH BÁT NHÃ

Trọng tâm của Kinh Bát Nhã là sự giải thoát thông qua trí tuệ. Bản kinh dạy rằng mọi khổ đau đều bắt nguồn từ việc chúng ta lầm tưởng những thứ giả tạm (như thân xác, tiền tài, danh vọng) là thật và vĩnh hằng. Khi thực hành trí tuệ sâu sắc, ta nhận ra vạn vật đều trống rỗng từ bản chất, không có sinh – diệt, không có dơ – sạch, cũng không có tăng – giảm. Chính sự “không bám chấp” này giúp tâm hồn trở nên vô ngại, đưa con người rời xa những mộng tưởng đảo điên để chạm đến trạng thái bình an tuyệt đối.

—– Trích đoạn Kinh Bát Nhã

View Book

KINH HẠNH NGUYỆN PHỔ HIỀN

“Kinh Hạnh Nguyện Phổ Hiền là chương cuối của kinh Hoa Nghiêm, đúc kết mười đại nguyện bao la của Bồ-tát Phổ Hiền nhằm hướng dẫn hành giả đi vào biển trí tuệ của chư Phật. Qua việc kính lễ, cúng dường, sám hối và hằng thuận chúng sinh, bản kinh mở ra con đường tu tập dấn thân, biến đức tin thành hành động cụ thể để đạt được tâm đại bi và hướng về cõi tịnh lạc, là kim chỉ nam cho những ai mong muốn thực hành đạo lộ Bồ-tát đạo trong đời sống.”

—– Trích đoạn Kinh Hạnh Nguyện Phổ Hiền

View Book

KINH NGƯỜI BIẾT SỐNG MỘT MÌNH

“Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.”

“Này quý thầy, sao gọi là không tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế. Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy, thì người đó đang không tìm về quá khứ.”

View Book

KINH BÁCH DỤ

Khi ấy, trong pháp hội có năm trăm vị Phạm chí dị học. Các vị từ nơi toà ngồi của mình đứng dậy bạch Phật rằng: “Thưa Thế Tôn! Chúng tôi nghe nói đạo Phật rộng, sâu không đạo nào có thể sánh kịp, nên chúng tôi lại đây muốn hỏi Ngài mấy điều, mong Ngài vui lòng giảng giải cho.”

Đức Phật đáp: “Hay lắm, các vị cứ việc hỏi.”

Phạm Chí hỏi: “Con người có hiện hữu hay không?” Phật đáp: “Cũng ‘có’ và cũng ‘không’.”

Phạm chí hỏi tiếp: “Như nay thấy có, làm sao Ngài lại nói là không? Như nay không thấy, làm sao Ngài lại nói là có?” Phật đáp: “Sinh cho là ‘có’, chết cho là ‘không’, nên nói là hoặc có hoặc không.”

View Book

KINH BÁT CHU TAM MUỘI

Tôi nghe như vầy vào khoảng thời gian Phật ngự tại tinh xá trong vườn tre của ông phú hộ Ca Lan Đà (tinh xá Trúc Lâm) thuộc thành Xá Vệ cùng với trăm năm vị tỳ kheo, các vị tỳ kheo nầy đều là bực A La Hán đã dứt sạch hết các phiền não không còn sanh khởi trở lại, đều được tự tại như con rồng to lớn có khả năng hàng phục tất cả, tâm và trí huệ đều được giải thoát khỏi vô minh, các công hạnh đã hoàn mãn đầy đủ cả rồi, trút bỏ được gánh nặng thân hôi hám nầy sẽ không còn thọ thân sau nữa, thực hành pháp bình đẳng đã được sự lợi ích cho cá nhân một cách thiết thực, an trụ trong chánh giáo qua đến được bờ kia, chỉ trừ có A Nan ra kỳ dư các ngài đều như thế cả.

Bấy giờ lại có năm trăm vị tỳ kheo vào buổi bình minh các ngài rời chỗ ở qua đến nơi Thế Tôn cung kính chấp tay đảnh lễ đầu chấm sát chân Phật rồi lui ra một bên.

View Book

KINH PHÁP BẢO ĐÀN

Bồ-đề vốn không cây, gương sáng chẳng phải đài, xưa nay không một vật, chỗ nào dính bụi bặm” – bài kệ đắc pháp kinh điển này không chỉ là lời khẳng định về bản tâm thanh tịnh, mà còn là linh hồn của toàn bộ Kinh Pháp Bảo Đàn. Qua đó, Lục Tổ Huệ Năng đã chỉ ra một sự thật tối hậu: Phật tánh vốn sẵn có trong mỗi người, tự tánh xưa nay chưa từng dao động hay ô nhiễm, mọi khổ đau chỉ nảy sinh khi ta tự mình mê lầm giữa những khái niệm và hình tướng giả tạm.

—– Trích đoạn Kinh Pháp Bảo Đàn

View Book

KINH TRUNG BỘ MAJJHIMA NIKÃYA

Kinh Trung Bộ (Majjhima Nikāya) là kho tàng giáo lý thực dụng, tập trung vào việc thanh lọc tâm thức thông qua con đường Trung đạo và sự tỉnh thức trong hiện tại. Xuyên suốt bộ kinh, Đức Phật dạy rằng mọi khổ đau đều bắt nguồn từ ái dục và vô minh; do đó, con người cần lấy Chánh pháp làm ngọn đèn soi sáng, thực hành quán chiếu hơi thở và lòng từ bi ngay cả trong nghịch cảnh để đạt được sự an nhiên. Điểm cốt lõi của Kinh Trung Bộ là tinh thần buông bỏ: không bám víu vào quá khứ hay mơ tưởng tương lai, mà dùng trí tuệ để thấu hiểu nghiệp lực và bản chất vô ngã, từ đó tự giải thoát mình khỏi vòng lặp sinh tử.

—– Trích đoạn Kinh Trung Bộ Majjhima Nikāya

View Book

KINH ANAN VẤN PHẬT SỰ CÁT HUNG

Kinh Anan Vấn Phật Sự Cát Hung là lời giáo huấn sâu sắc của Đức Thế Tôn về cội nguồn của hạnh phúc và khổ đau. Qua câu hỏi của ngài Anan, Phật chỉ rõ rằng: Cát (may mắn) hay Hung (rủi ro) không do thần linh ban phát, mà chính là kết quả của việc thuận hay nghịch theo nhân quả. Người biết cung kính bậc sư trưởng, giữ gìn giới luật và nuôi dưỡng tâm từ bi sẽ gặt hái phúc báo vô tận; ngược lại, kẻ tà kiến, mê lầm sẽ tự chuốc lấy tai ương. Bộ kinh chính là chiếc kim chỉ nam giúp người tu tập thấu hiểu rằng: Phúc họa tại tâm, nghiệp xoay chuyển được nhờ trí tuệ và thiện hành.”

—– Trích đoạn Kinh Anan Vấn Phật Sự Cát Hung

View Book

KINH PHẠM VÕNG

Này các Tỷ-kheo, có Sa-môn, hay Bà-la-môn là nhà suy luận, là nhà thẩm sát. Do sự chia chẻ biện bác của suy luận và sự tùy thuộc theo thẩm sát, vị này tuyên bố như thế này: “Cái gọi là mắt, là tai, là mũi, là lưỡi, là thân, cái bản ngã ấy vô thường, không kiên cố, không thường trú, bị chuyển biến. Cái gọi là tâm, là ý, là thức, cái bản ngã ấy là thường còn, bất biến, thường trú, không bị chuyển biến, thường hằng như vậy mãi mãi”.

Này các Tỷ-kheo, đó là trường hợp thứ tư, y chỉ theo đó, căn cứ theo đó, một số Sa-môn, Bà-la-môn, chủ trương một phần Thường trú luận, một phần Vô thường luận, chấp bản ngã và thế giới là thường còn đối với một hạng hữu tình, và vô thường đối với một hạng hữu tình khác.

—– Trích đoạn Kinh Phạm Võng

View Book

KINH CHÚ TÂM TỈNH GIÁC

Sống tỉnh giác không phải là tìm kiếm phép màu xa xôi, mà là hành trình thắp sáng hiện tại để nhận diện rõ ràng những gì đang diễn ra nơi thân và tâm. Khi tâm ta không còn đuổi theo quá khứ hay vọng tưởng tương lai, ánh sáng chánh niệm sẽ tự nhiên tháo gỡ mọi nút thắt của phiền não và si mê, chuyển hóa khổ đau thành sự an nhiên tự tại. Việc trì tụng hay tu tập, vì thế, chính là phương cách để đánh thức vị Phật trong chính mình, giúp ta giữ vững tâm thanh tịnh và chạm tay vào hạnh phúc đích thực ngay giữa những biến động của thế gian.

—– Trích đoạn Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác

View Book

CHO TÔI BÁT NƯỚC

Tôi không hỏi đẳng cấp của cô, tôi chỉ xin nước uống. Lời khẳng định này của ngài Ananda đã phá tan mọi ranh giới nghiệt ngã giữa con người với con người. Ý nghĩa của bát nước không nằm ở giá trị vật chất, mà nằm ở sự thức tỉnh: Khi tâm không còn phân biệt sang hèn, chỉ còn lại lòng từ bi thuần khiết, thì một bát nước cũng đủ để hóa độ cả một kiếp người. Đó là bài học về sự bình đẳng tuyệt đối, nơi mọi dòng máu đều có cùng sắc đỏ và mọi giọt nước mắt đều có cùng vị mặn như nhau.

—– Trích đoạn Cho Tôi Bát Nước

View Book

KINH BẪY MỒI

Kinh Bẫy Mồi là một bài kinh thuộc Kinh Trung Bộ trong Đại Tạng Kinh Việt Nam, do Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt. Kinh mở đầu bằng lời: ‘Như vầy tôi nghe…’ kể lại một dịp Đức Thế Tôn thuyết giảng trong vườn Jetavana (Savatthi), dùng hình ảnh người thợ săn gieo bẫy và các đàn nai với những phản ứng khác nhau để chỉ rõ bản chất mê loạn do tham đắm đối với các “mồi bẫy” thế gian, cũng như con đường tu tập an trú tâm để không bị rơi vào sự trói buộc của tham ái.

—– Trích đoạn Kinh Bẫy Mồi

View Book

KINH ĐẠI BÁT NHÃ TOÁT YẾU

Ngài Quán Tự tại Bồ Tát, sau khi đi sâu vào Trí huệ Bát Nhã rồi, Ngài thấy năm uẩn đều “không” (Bát Nhã) nên không còn các khổ. 

Ngài gọi ông Xá Lợi Tử dạy rằng: “Này Xá Lợi Tử ! Năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) chẳng khác với “không” chẳng khác với năm uẩnnăm uẩn tức là “không”, “không” tức là năm uẩn

Này Xá Lợi Tử ! “Tướng không” (Bát Nhã) của các pháp đây, nó không sanh không diệt, không nhơ không sạch, không thêm không bớt. Bởi thế nên, trong “Tướng không” (Bát Nhã) này, không có năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức; không có Sáu căn là: nhãn ,nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không có Sáu trần là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp; không có Sáu thức là: nhãn thứcnhĩ thức, tũ thức, thiệt thứcthân thức và ý thức.

View Book

KINH CÔNG ĐỨC TẮM TƯỢNG

Tôi nghe như vầy:  Một thời đức Bạc già phạm ở thành Vương xá, trong đỉnh Thứu phong, cùng chúng đại tỳ kheo một ngàn hai trăm năm mươi vị đều đến tụ tập.  Lại có vô lượng vô biên chúng đại bồ tát, tám bộ thiên long, thảy đều đến tụ tập.
Bấy giờ bồ tát Thanh Tịnh Tuệ ngồi ở trong đại chúng, vì sự thôi thúc bởi lòng thương nghĩ các loài hữu tình, khởi lên suy nghĩ:  Chư Phật Như lai vì nhân duyên gì có được sắc thân thanh tịnh, tướng tốt đầy đủ ?  Lại khởi ý nghĩ:  Các loại chúng sanh được gặp Như lai, thân cận cúng dường thì thu hoạch phước báo vô lượng vô biên, còn bao nhiêu chúng sanh khác, sinh sau Như Lai nhập niết bàn thì nên cúng dường cách nào, tu tập công đức gì để thành tựu thiện căn, mau chứng vô thượng bồ đề ?  Khởi lên ý nghĩ như vậy xong, bồ tát Thanh Tịnh Tuệ tức thì từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch bày vai phải, đảnh lễ dưới chân đức Phật, quì thẳng chắp tay, thưa với đức Phật:  Bạch đức Thế tôn, con muốn thưa hỏi, cúi xin Thế tôn nghe nhận.  Đức Phật dạy:  Thiện nam tử, theo chỗ hỏi của ông, Như lai sẽ vì ông mà nói. 
View Book

KINH CHANDA (CHIÊN ĐÀ)

Đây là những điều tôi đã được nghe :

Hồi ấy, có những vị thượng tọa khất sĩ cùng cư trú tại vườn Lộc Uyển ở Isipatana thành Vārānasi. Đức Thế tôn vừa mới nhập diệt không lâu.

Lúc bấy giờ khất sĩ Chanda (Chiên Đà), vào buổi sáng khoác y, mang bát đi vào thành phố Vārānasī để khất thực.

Khất thực và thọ trai xong, thầy Chanda cất y bát, rửa chân, cầm theo chiếc chìa khoá cửa, đi từ cụm rừng này đến cụm rừng kia, từ tịnh thất này đến tịnh thất kia, từ con đường thiền hành này tới con đường thiền hành khác. Đến đâu khất sĩ Chanda cũng thưa với các vị thượng tọa khất sĩ :

– Xin quý thượng tọa dạy cho con, thuyết pháp cho con, để con có thể hiểu được Pháp, thấy được Pháp và như thế có thể thật sự hiểu được Pháp và quán chiếu Pháp đúng pháp.

View Book

KINH GIẢI THÂM MẬT

Như Lai vì muốn khai thị nghĩa lý thâm mật của các pháp, khiến chúng sinh liễu tri tự tánh của tâm thức, mà tuyên nói Kinh Giải Thâm Mật. Kinh Giải Thâm Mật là một bản kinh trọng yếu của Phật giáo Đại thừa, được xem như nền tảng tư tưởng của Duy Thức học, nhằm giải bày những giáo nghĩa sâu kín mà các kinh trước chưa nói trọn vẹn, đặc biệt là các pháp môn về tam tánh, tam vô tánh và bản chất của tâm thức. Thông qua tám phẩm kinh, Đức Phật khai mở con đường quán chiếu giúp hành giả vượt qua mọi phân biệt vọng chấp, nhận ra chân nghĩa của Như Lai, từ đó an trụ nơi trí tuệ và giải thoát chân thật.

—– Trích đoạn Kinh Giải Thâm 

View Book