CHƯƠNG II: UẤT BA LỢI PHẨM
II.1 LY LUÂN HỒI QUỈ SỰ
(SA.MSAARAMOCAKA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Người trần truồng và có hình tướng thô xấu”.
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Trúc Lâm viên, liên quan đến một nữ Ngạ quỉ nọ trong ngôi làng tên là I.t.thakaarati, thuộc vương quốc Magadha.
Tương truyền rằng, trong vương quốc Magadha có hai ngôi làng, I.t.thakaavatii và Diigharaajii, ở đó có nhiều Ðạo sĩ sa.msaaramocaka trú ngụ. Cách đây đã lâu, khoảng năm trăm năm về trước, một nữ nhân nọ sanh trong gia đình samsaaramocaka ngay tại đó ở I.t.thakaavatii, và do bởi những tà kiến của nàng, nàng đã giết hại nhiều côn trùng và châu chấu và tái sanh trong cõi Ngạ quỉ; Ở đó, nàng chịu khổ đói và khổ khát trong năm trăm năm. Rồi khi Ðức Thế Tôn của chúng ta đã sanh ra trong thế gian và đã lăn bánh xe diệu pháp, và đến đúng thời kỳ đến trú ngụ tại trúc lâm viên, gần Raajagaha, nàng lại sanh trở lại trong cùng gia đình samsaaramocaka ấy trong cùng ngôi làng I.t.thakaavatii ấy. Rồi một hôm nọ, khi nàng đã được bảy hoặc tám tuổi và đang mãi vui chơi với những cô gái trên con đường lớn, Ðại Ðức Trưởng lão Saariputta, khi đang ngụ tại tịnh xá anuravatii gần ngôi làng ấy, đi qua chính con đường gần cổng làng ấy, được tháp tùng bởi mười hai vị Tỳ kheo. Ngay lúc ấy, nhiều cô gái của ngôi làng ấy, sau khi đã rời khỏi ngôi làng, đang chơi gần cổng làng, theo phong tục của cha mẹ chúng, chúng bèn nhanh chóng đi đến với tâm Ðạo nhiệt thành, và đảnh lễ Trưởng lão và những vị Tỳ kheo khác với năm điểm chạm đất. Tuy nhiên, cô gái trong gia đình của những người không có đức tin ấy, lại tỏ ra bất kính và thiếu những tánh tốt của những người có giới đức, lại tỏ ra vô học. Do nàng đã không tích lũy những thiện nghiệp trong một thời gian dài, vẫn đứng như người thất học. Trưởng lão thấy rõ tánh hạnh trong quá khứ của nàng, sự tái sanh hiện tại của nàng trong gia đình samaaramocaka, và thấy rằng nàng đáng bị sanh trong địa ngục trong tương lai. Trưởng lão biết rằng: nếu nàng đảnh lễ Ngài thời nàng sẽ không tái sanh trong địa địa ngục, dầu nàng có sanh trong cõi Ngạ quỉ nàng cũng được sự thù thắng do ngài, Trưởng lão nói với những cô ấy rằng, “các con thì đảnh lễ những vị Tỳ kheo, nhưng cô gái này thì vẫn đứng như người không được giáo dục vậy”. Rồi những cô gái ấy túm lấy hai tay của cô gái, kéo nàng tới và bằng sự thúc ép, khiến nàng đảnh lễ dưới chân của Trưởng lão. Ðến đúng thời, nàng đến tuổi thanh xuân và được gả cho một chàng trai nọ thuộc một gia đình Samsaaramocaka trong ngôi làng Diigharaajii . Khi nàng sắp sanh,thì nàng chết và sanh trong cõi Ngạ quỉ, trần truồng, và có hình tướng gớm guốc, trông thật ghê tởm; khi đi lang thang vào lúc đêm tối, nàng hiện ra trước mặt Trưởng lão Saariputta và rồi đứng ở một bên. Khi trông thấy nàng, Trưởng lão bèn hỏi nàng bằng câu kệ này:
1. “Nàng trần truồng và có hình tướng gớm guốc, gầy mòn với những đường gân lồ lộ. Nàng là một kẻ gầy ốm, với những xương sườn lộ ra, bây giờ, nàng là ai mà đứng ở đây?”
Chú giải:
1. VỚI NHỮNG ÐƯỜNG GÂN LỒ LỘ (Dhamanisanthataa): với tấm thân được phơi bày ra bằng tấm lưới gân do không có thịt và máu. VỚI NHỮNG XƯƠNG SƯỜN LỘ RA (Upphaasulike): với những xương sườn lồi ra. NGƯƠI LÀ NGƯỜI ỖM O (Kisike): ngươi với tấm thân gầy mòn; Sau khi đã nói ở trên “gầy mòn” Những chữ: “Ngươi là người ốm o” được lập lại nhằm mục đích cho thấy sự gầy ốm quá mức của nàng mà trong đó tấm thân ấy chỉ có da, xương và gân mà thôi.
Khi nghe qua điều này, nữ Ngạ quỉ ấy nói lên câu kệ này để cho biết về chính nàng:
2. Thưa Ngài, tôi là một nữ Ngạ quỉ, đã đi đến cõi Ngạ quỉ trong thế giới của Yama; Khi đã làm ác nghiệp, tôi đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ.
Ðược hỏi thêm một lần nữa bởi Trưởng lão về nghiệp mà nàng đã làm:
3. “Bây giờ ác nghiệp nào mà ngươi đã làm bằng thân, khẩu và ý? do kết quả của nghiệp nào khiến ngươi ra đi từ đây đến cõi của những Ngạ quỉ?”
Nàng nói lên ba câu kệ để cho thấy rằng vì đã sống với lòng bỏn sẻn và thiếu đức bố thí, nàng đã phải sanh trong Ngạ quỉ và chịu nhiều thống khổ như vậy:
4. “Thưa Ngài, trước kia tôi không có cha mẹ, hay những quyến thuộc khác, thậm chí cũng không có những người mà có lòng thương xót tôi, để khuyên rằng, “Hãy bố thí với tâm đạo nhiệt thành đến các vị Sa môn, Bà la môn”.
5. Từ nay trở đi, trong năm trăm năm, tôi phải đi lang thang trần truồng như thế này, bị đốt cháy bởi cơn đói và khát dục. Ðây là quả về ác nghiệp của tôi.
6. Con xin đảnh lễ Ngài, thưa bậc ứng cúng, bằng tâm đạo tín thành; xin hãy thương xót con, hỡi Bậc vĩ Ðại và kiên quyết. Xin hãy bố thí một cái gì đó và hồi hướng phước thí ấy đến cho con; xin hãy giải thoát cho con ra khỏi cảnh khổ này, thưa Ngài.
Chú giải:
4. CÓ LÒNG THƯƠNG XÓT (Anuka.mpakaa): Có lợi đối với hạnh phúc trong kiếp sau của nàng. BẠCH NGÀI (Bhante): Nàng đang nói với Trưởng lão. LÀ NHỮNG KẺ HẰNG KHUYẾN KHÍCH CON (ye ma.m niyojeyyu.m): con đã không có mẹ hay cha hay những người quyến thuộc khác mà có lòng thương tưởng con, khuyên nhủ con rằng: “Với lòng tịnh tín, ngươi hãy cho ra những vật thí đến các vị Sa môn hay Bà la môn” – Ðây là cách nên được hiểu.
5. TỪ NAY TRỞ ÐI TRONG NĂM TRĂM NĂM NỮA, CON PHẢI ÐI LANG THANG TRẦN TRUỒNG NHƯ THẾ NÀY (Ito aha.m vassasataani pa~nca ya.m evaruupaa vicaraami naggaa): Sau khi nhớ lại kiếp sống sanh làm Ngạ quỉ trong kiếp quá khứ của nàng trước đó hai kiếp, nữ Ngạ quỉ nói điều này để xác nhận rằng, bây giờ nàng cũng phải đi lang thang theo cách ấy trong năm trăm năm. Ya.m (không được dịch): = Yasmaa (Hình thức văn phạm chuyển đổi); Bởi vì con không làm việc phước nào về Bố thí v.v.. Nên con đã trở thành một Ngạ quỉ trần truồng như thế này, và từ nay trở đi con phải đi lang thang trong năm trăm kiếp – Ðây là cách nên được hiểu; BỞI KHÁT ÁI (Ta.nhaaya): Bởi sự khao khát. BỊ THIÊU ÐỐT: Khajjamaanaa = Khaadiyamaanaa (hình thức văn phạm chuyển đổi), nghĩa là bị hành hạ.
6. CON XIN ÐẢNH LỄ NGÀI, THƯA BẬC ỨNG CÚNG, BẰNG TÂM TỊNH TÍN (vandaami ta.m ayyapasannacittaa): Với lòng tịnh tín, con xin đảnh lễ Ngài, thưa Bậc ứng cúng. Ðiều này cho thấy chỉ chút ít phước mà con có thể làm được bây giờ. XIN HÃY THƯƠNG TƯỞNG ÐẾN CON (anukampa ma.m): Xin hãy giúp đỡ, xin hãy nhủ lòng bi mẫn đến con. XIN HÃY BỐ THÍ MỘT CÁI GÌ ÐÓ VÀ HỒI HƯỚNG PHƯỚC THÍ ẤY ÐẾN CHO CON, (datvaa ca me aadissa ya.m hi ki~nci): Nàng nói lời khẳng định rằng, khi vị ấy đã bố thí vật nào đó và đã hồi hướng phước thí ấy đến cho nàng, thời nhờ đó sẽ có sự giải thoát cho nàng thoát khỏi cõi Ngạ quỉ ấy. Vì lý do này khiến nàng nói rằng: “Hãy giải thoát con ra khỏi khổ cảnh này, thưa Ngài”.
Ba câu kệ này được nói bởi những vị kiết tập Tam tạng, để cho thấy tánh cách mà Trưởng lão thực hiện khi nữ Ngạ quỉ ấy đã nói như vậy:
7. “Tốt lắm, “Trưởng lão Saariiputta đồng ý, người có lòng bi mẫn, và đã cho đến các vị Tỳ kheo một miếng vật thực, một miếng vải có kích thước một gang tay và một bát nước, và hồi hướng phước thí này đến cho nàng.
8. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này thì kết quả hiện ra: vật thực, y phục, thức uống – là kết quả của phước thí này.
9. Nhân đó, nàng được thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ và tươi sáng, là loại vải mịn hơn những thứ của xứ Kaasi; Và được trang sức bằng nhiều loại y phục và vật trang sức, nàng đi đến Trưởng lão Saariputta .
Chú giải:
7. ÐẾN CÁC VỊ TỲ KHƯU (Bhikkhuuna.m): Ðến một vị Tỳ kheo: điều này được nói bằng sự méo mó về số lượng. Một số đọc là: Cho đến một vị Tỳ kheo một miếng (aalopa.m bhikkhuno datvaa). MỘT MIẾNG (aalopa.m): Một miếng vật thực, nghĩa là chỉ một miếng vật thực. Một mảnh vải có kích thước một gang tay (Paanimatta~nca co.laka.m): Kích thước một bàn tay, nghĩa là một miếng vải. VÀ MỘT BÁT NƯỚC (Thaalakassa ca paaniiya.m): chỉ một bát nước.
Phần còn lại cũng giống như đã được nêu ra ở Ngốc đầu quỉ sự.
Rồi khi Ðại Ðức Saariputta trông thấy nữ Ngạ quỉ ấy sau khi đã đến trước mặt Ngài, đứng với các căn đã được làm cho tươi sáng, có nước da hoàn toàn thuần tịnh và được trang sức bằng những y phục và những vật trang sức của chư Thiên, và làm sáng lên mọi thứ quanh nàng bằng hào quang của chính nàng, vị ấy nói ba câu kệ này khi muốn nàng giải thích kết quả của những nghiệp mà nàng đang thọ hưởng:
10. Ai mà đứng với sắc đẹp tuyệt trần, này tiên nữ, chiếu sáng khắp các hướng như được Vương Tinh.
11. Sắc đẹp của nàng như vậy là do cái gì? Do cái gì mà điều này được thành tựu bởi nàng ở đây và có sanh lên bất cứ dục lạc nào mà nàng ưa thích?
12. Ta hỏi nàng, này Devii có đại oai lực, việc phước gì mà ngươi đã làm khi ngươi còn làm người? Do điều gì mà oai lực của ngươi sáng chói như vậy và sắc đẹp của ngươi chiếu sáng khắp mười phương?
Chú giải:
10. TUYỆT TRẦN (abhikkantena): Vô cùng khả ái, nghĩa là rất xinh đẹp. BẰNG SẮC ÐẸP (va.n.nena): Với nước da. SÁNG RỰC LÊN KHẮP MƯỜI PHƯƠNG (Obhaasentii disaa sabbaa): Chiếu sáng trong khắp mười phương với chỉ một vầng ánh sáng. Như thế nào? Vị ấy nói, “Như được Vương Tinh”. Ngôi sao này có cái tên là (Osadhii), bởi vì hào quang chói lọi (Ussanna) được chứa (dhiiyati) bởi nó hay là vì nó cho công năng đến các loại thuốc (Osadhiina.m): Cũng như nó đứng toả ra ánh sáng khắp quanh nó, cũng vậy ngươi đang đứng chiếu sáng khắp mười phương – đây là ý nghĩa.
11. DO CÁI GÌ? (Kena): Chữ cái gì (Ki.m) trong hình thức nghi vấn của nó; Ðây là công cụ cách có ý nghĩa hỏi về nguyên nhân, nghĩa là do nguyên nhân nào? CỦA NGƯƠI: te = tava (hình thức văn phạm chuyển đổi). NHƯ VẬY (Etaadiso): Ðiều này được nói liên quan đến cách mà nó xuất hiện lúc ấy. ÐIỀU NÀY ÐƯỢC THÀNH TỰU BỞI NGƯƠI DO BỞI CÁI GÌ Ở ÐÂY? (kena te idha – m – ijjhati): Quả của thiện sự này là do phước đặc biệt nào mà đang được thọ lãnh bởi ngươi, được thành tựu, được tạo ra ở đây, tại chỗ này. SẼ CÓ SANH LÊN (uppajjanti): Sẽ có hiện ra. NHỮNG DỤC LẠC (Bhogaa): Những vật sở hữu và những phương tiện thù thắng như y phục và những vật trang sức v.v.. Mà có được cái tên là “Những dục lạc” (Bhogaa) Vì đáng được thọ hưởng (Paribhu~njitabbatena). BẤT CỨ CÁI GÌ (Ye keci): Nghĩa là tất cả những dục lạc được bao gồm, không có cái dư sót, vì đây là một câu nói bao hàm mọi thứ không có dư sót, TÂM CỦA NGƯƠI ÁI HẢO (manaso piyaa): Cái được ưa thích, khả ái với tâm của ngươi, nghĩa là thân ái với tâm của ngươi.
12. TA HỎI (Pucchaami): Ta đặt câu hỏi, nghĩa là ta muốn biết. Ngươi: ya.m=tva.m (Hình thức văn phạm chuyển đổi). Devii (Devi): Nàng là một (Devii) do vì nàng có oai lực của chư Thiên. Vì lý do này mà vị ấy nói rằng, “Có oai lực lớn”. KHI NGƯƠI CÒN LÀ NGƯỜI (Manussabhuutaa): Khi ngươi sanh trong cõi nhân loại và đạt đến địa vị làm người. Ðiều này được nói theo đúng với quy luật chung là: chúng sanh làm những việc phước trong khi họ ở trong kiếp người. Ðây là ý nghĩa của những câu kệ vắn tắt thôi. Tuy nhiên, điều ấy nên hiểu đúng như đã nêu ra đầy đủ chi tiết trong bộ chú giải thiên cung sự, trong phần giải thích này về ý nghĩa bên trong.
Nữ Ngạ quỉ ấy, khi được hỏi bởi Trưởng lão, bèn nói lên những câu kệ còn lại để làm sáng tỏ lý do về cách mà sự thù thắng này của nàng đã được nhận lãnh:
13. Vị thánh đầy lòng bi mẫn đối với thế gian trông thấy con đã đi vào kiếp sống đau khổ – vàng vỏ, gầy ốm, đói khát, trần truồng, với da nhăn nheo.
14. Vị ấy đã cho đến các vị Tỳ kheo một miếng vật thực, một mảnh vải có kích thước một gang tay và một bát nước, và hồi hướng phước ấy cho con.
15. Hãy xem quả của miếng cơm ấy: Trong một ngàn năm con đẽ ăn vật thực được gia vào nhiều gia vị, vui hưởng với tất cả những gì đem lại sự thỏa mãn cho những ước muốn của con.
16. Hãy xem loại kết quả có được của một mảnh vải chỉ bằng gang tay: Nhiều y phục như trong khắp cõi của vua Nanda.
17. Còn hơn thế nữa, thưa Ngài, là những y phục và những đồ trải bằng lụa và bằng vải len, vải lanh và vải sợi của con.
18. Chúng có nhiều và đắt quí – Chúng còn thòng xuống từ bầu trời; Và con chỉ mặc vào bất cứ cái gì mà con thấy thích.
19. Hãy xem loại kết quả có được từ một bát nước: những hồ sen được khéo bố trí ở ngoài và có bốn góc.
20. Với nước trong và những bờ hồ xinh đẹp, mát và thơm, được phủ lên bằng những hoa sen và hoa súng, nước đầy những nhụy sen.
21. Và con vui thích, chơi giỡn và vui sướng, chẳng có gì để sợ từ bất cứ hướng nào. Bạch Ngài, con đến đây để đảnh lễ Bậc hiền trí có lòng bi mẫn đối với thế gian.
Chú giải:
13. VÀNG VÕ (uppannuki.m): Ðã trở nên hơi vàng. BỊ ÐÓI (Chaata.m): muốn ăn, bị cơn đói hành hạ. VỚI DA NHĂN NHEO (Sampatitacchavi.m): với da nơi thân của con bị nứt nẻ. ÐỐI VỚI THẾ GIAN (Loke): Ðiều này cho thấy phạm vi của lòng bi mẫn của người ở đây được xem là “đầy lòng bi mẫn”. CON (Ta.m ma.m): Con trong điều kiện ấy, con trong một trạng thái mà chắc chắn cần có lòng bi mẫn như đã được nêu ra ở trên. ÐI ÐẾN KHỔ CẢNH (Duggata.m): Ðã đi đến trạng thái đau khổ.
14. VỊ ẤY CHO ÐẾN CÁC VỊ TỲ KHƯU MỘT MIẾNG (Bhikkhuuna.m aalopa.m datvaa): Ðịnh rõ cách mà Trưởng lão hành động do lòng bi mẫn.
15. VẬT THỰC (Bhatta.m): Cơm, nghĩa là vật thực của chư Thiên. TRONG MỘT NGÀN NĂM (Vassasata.m dasa): trong mười lần một trăm năm được xem là một ngàn năm; đây là đối cách mang ý nghĩa một thời gian kéo dài liên tục. THÊM NHIỀU HƯƠNG VỊ, KHI THỌ HƯỞNG SỰ LÀM CHO VỪA LÒNG TẤT CẢ NHỮNG ƯỚC MUỐN CỦA CON (Kaama kaaminii anekarasa vya~njana.m): Con sẽ ăn vật thực với nhiều loại hương vị, lại có những dục lạc khác nữa – đây là cách nên được hiểu.
16. MỘT MẢNH VẢI (colassa): Ðiều này chỉ rõ việc phước bao gồm sự bố thí với cái này là vật có tên gọi chung là vật thí. HÃY XEM LOẠI QUẢ BÁU (Vipaakaampassayaadisa.m): Hãy xem quả, cái được gọi là kết quả, của vật thí về mảnh vải, thưa Ngài. Trong trường hợp ấy người nên hỏi cái gì? nữ Ngạ quỉ nói, “Nhiều y phục như trong khắp cõi của vua Nanda v.v…” Bây giờ về điều này, vua Nanda là ai?
Tương truyền rằng cách đây đã lâu, khi thọ mạng của loài người là mười ngàn năm, một người có của cải, là thường dân của xứ Ba la nại, trông thấy một vị Phật Ðộc Giác nọ trong khu rừng của ông ta khi đang đi bộ trong rừng. Ðức Phật Ðộc Giác đang làm một chiếc y tại đó, nhưng đã gấp nó lại và bắt đầu đem cất, vì phần nối bị thiếu. Khi người đàn ông có của cải trông thấy cảnh này, ông ta nói rằng, “Bạch Ngài, Ngài đang làm gì thế? Dầu Ngài chẳng nói gì do lòng tri túc của Ngài, ông ta vẫn biết rằng vật liệu làm y bị thiếu, bèn đặt chiếc áo choàng của ông ta dưới chân của Ðức Phật Ðộc Giác. Ðức Phật Ðộc Giác nhặt lấy nó và, khi thêm nó vào chỗ vá, làm thành chiếc y và mặc nó vào. Vào lúc thân hoại mạng chung, người đàn ông có của cải ấy chết và tái sanh trong cõi trời Ba mươi ba. Vị ấy thọ hưởng sự vinh quang của chư Thiên ở đó đến hết thọ mạng của mình, và khi mạng chung từ cõi ấy, sanh vào trong gia đình của một vị Tư tế quan trong một ngôi làng nọ cách Ba la nại một do Tuần. Vào lúc vị ấy đến tuổi thành niên, thì lễ hội ăn mừng tháng mới được công bố trong ngôi làng đó. Chàng trai nói với mẹ của mình rằng, “thưa mẹ, hãy cho con một chiếc áo choàng để con có thể đi dự hội ăn mừng tháng mới”. Bà ta lấy ra một chiếc áo mới và trao cho cậu. “Thưa mẹ, chiếc áo này thô quá”. Chàng trai nói. Bà ta lấy ra một chiếc áo khác và trao nó cho cậu, nhưng cậu ta cũng từ chối chiếc áo này. Rồi người mẹ nói với cậu ta rằng, “này con, từ khi chúng ta sanh vào trong gia đình này, chúng ta không tạo những phước nào để có những y phục tốt hơn những thứ này nữa”. “con sẽ đi đến một chỗ để kiếm ra nó, thưa mẹ”. “Thế thì hãy đi đi, này con, mẹ muốn rằng chính ngày hôm nay con có thể có được quyền cai trị vương quốc Ba la nại này”. “Tốt lắm, thưa mẹ” cậu ta đáp lại. Chàng trai cúi chào mẹ, đi vòng quanh bà ta về hướng phải và nói rằng, “xin chào mẹ”. “Chào con”. Tương truyền rằng ý nghĩ xảy đến với bà ta rằng, “nó có thể đi đâu? nó chỉ có thể ngồi chỗ này chỗ kia quanh ngôi nhà này mà thôi”. Nhưng bị thôi thúc bởi những việc phước của mình, cậu ta rời khỏi ngôi làng và đi đến Ba la nại; ở đó cậu ta nằm xuống trên một tảng đá có điềm may sau khi che người từ đầu trở xuống. Lúc bấy giờ là ngày thứ bảy sau khi đức vua băng hà. Khi những vị quan cố vấn đặc biệt của đức vua và vị tư tế quan đã làm lễ mai táng rồi, họ ngồi trong sân triều và bàn luận với nhau rằng, “Có một đứa con gái của đức vua, nhưng không có đứa con trai nào cả; Một vương quốc mà không có vua thì không tồn tại được. Chúng ta phải gởi đi một chiếc xe hoa”. Họ thắng ách bốn con ngựa có màu hoa sen trắng và để vào trong chiếc xe năm biểu tượng của đức vua, đứng đầu là cái lọng trắng. Rồi họ cho chiếc xe đi và cho trổi nhạc ở đằng sau. Chiếc xe đi về cổng đông và hướng về vườn ngự uyển. Một số người nói rằng, “Chiếc xe đang đi về vườn ngự uyển theo thói quen, hãy quay nó lui”. Nhưng vị tư tế quan nói rằng, “đừng quay nó lui”. Chiếc xe đi vòng quanh chàng trai về hướng phải và rồi đứng chờ sẵn để người ấy leo lên. Vị Tư tế quan dỡ lên một góc của tấm chăn, quan sát hai lòng bàn chân của vị ấy và nói rằng, “Hãy để chàng trai này làm nơi nương tựa của chúng ta- vị ấy có thể tạo ra độc nhất một vương quốc gồm cả bốn châu và hai ngàn đảo vây quanh”, và rồi sai trổi nhạc ba lần khi nói rằng, “Hãy trổi nhạc lên, hãy trổi nhạc lên nữa đi!” chàng trai mở tấm chăn trên mặt ra, nhìn quanh người của vị ấy và nói rằng, “này ông bạn, ông đến đây có chuyện gì thế?” “Tâu bệ hạ, vương quốc đã đến với bệ hạ”. “Vua của các ngươi đâu?” “Vị ấy đã thăng hà rồi, tâu chúa thượng”. “Bao nhiêu ngày rồi?” “Hôm nay là ngày thứ bảy rồi”. “Không có con trai hay con gái nào à?” “Chỉ có một đứa con gái, tâu bệ hạ, nhưng không có con trai”. “Thôi được, nếu vậy thì ta sẽ cai trị”. Ngay tức thì họ dựng lên một nhà mát để phong vương cho vị ấy, trang sức cho đứa con gái của đức vua bằng tất cả những vật trang sức của nàng, dẫn nàng đến vườn ngự uyển và phong vương cho chàng thanh niên. Khi vị ấy đã được phong vương, họ dâng đến cho vị ấy những tấm vải trị giá một trăm ngàn đồng, “Ðây là cái gì, này các bạn”. Vị ấy hỏi, “những chiếc y của bệ hạ, tâu bệ hạ”. “Chúng không thô, phải không các bạn?” “không có những thứ nào tốt hơn những thứ này trong bất cứ những y phục nào được dùng bởi loài người, tâu bệ hạ”. “Vua của các ngươi có mặc giống như thế này không?” “thưa có, tâu bệ hạ”. “Ta không nghĩ rằng vua của các ngươi có phước. Hãy đem đến cho ta một cái bình nước bằng vàng và ta sẽ kiếm một số y phục”. Họ đem đến cái bình bằng vàng. Vị ấy đứng lên, rửa tay, súc miệng và, khi cầm một ít nước trong tay, rảy nó vào hướng đông, nhân đó tám cây như ý rẽ đất mọc lên. Vị ấy lại lấy một ít nước và rảy nó vào hướng nam, hướng tây và hướng bắc, khi rảy nước như vậy vào các hướng, thời mỗi nơi trong tất cả các hướng ấy vị ấy đã tạo ra tám cây để có ba mươi hai cây như ý mọc lên tất cả. Một số người nói rằng trong mỗi hướng, vị ấy tạo ra mười sáu cây để có tất cả sáu mươi bốn cây. Chàng trai mặc vào một chiếc của chư Thiên, đắp quanh người và nói rằng, “hãy cho đánh trống rao truyền rằng trong mỗi lãnh thổ của vua Nanda, người đàn bà làm nghề xe chỉ không cần xe chỉ nữa”.
Vị ấy bảo họ trương lên chiếc lọng và, khi đã mặc y phục, trang sức và cỡi trên con voi oai phong nhất, đi vào thành phố, đi lên cung điện và thọ hưởng sự vinh quang vĩ đại.
Thắm thoát một thời gian, đến một hôm nọ, hoàng hậu khi trông thấy sự vinh quang của đức vua, đã tỏ tình thương của nàng bằng cách nói rằng, “chắc chắn bệ hạ cần tỏ nhiều tiết chế hơn”. Khi được hỏi, “nàng muốn ám chỉ gì, này ái khanh?” nàng bèn nói rằng, “Ngài có sự vinh quang tột độ, tâu bệ hạ. Có một thời nào đó trong quá khứ, chắc bệ hạ đã làm những việc thiện, nhưng bây giờ, bệ hạ không làm những việc thiện vì hạnh phúc trong tương lai của bệ hạ”. “Chúng ta có thể bố thí đến cho ai? không có những bậc giới đức”. “Tâu bệ hạ, cõi Jambudiipa này không thiếu những vị A la hán. Bệ hạ chỉ cần sửa soạn những vật thực và thiếp sẽ thỉnh những vị A la hán”, nàng nói. Vào ngày hôm sau, đức vua sai sửa soạn một cuộc bố thí vĩ đại. Hoàng Hậu khấn nguyện rằng, “nếu có những vị A la hán trong hướng này, thì xin các Ngài hãy đến đây và thọ lãnh những vật thí từ chúng con!” và nằm sấp xoay mặt về hướng bắc. Ngay khi hoàng hậu đang nằm thì Ðức Phật Ðộc Giác Paduma, là vị cao hạ nhất trong năm trăm vị Phật Ðộc Giác, là những đứa con trai của hoàng hậu Padumavatii và đang trú ngụ trong vùng Hy Mã Lạp Sơn, nói với huynh đệ của vị ấy: “Vua Nanda đang thỉnh các tôn giả, thưa chư tôn giả – chư tôn giả nên nhận lời của vị ấy”. Họ đồng ý và ngay tức thì đi xuyên qua hư không và đáp xuống ở cổng bắc. Dân chúng báo tin với đức vua rằng, “Tâu bệ hạ, năm trăm vị Phật Ðộc Giác đã đến”. Ðức vua đi cùng với hoàng hậu ra đảnh lễ các Ngài, lãnh bát của các Ngài và mời các Ngài vào trong hoàng cung; Ở đó, vị ấy cúng dường những vật thí đến các Ngài. Khi bữa ăn đã kết thúc, họ bèn quì xuống, đức vua ở dưới chân của vị cao hạ nhất và hoàng hậu ở dưới chân của những vị nhỏ hạ hơn, họ bạch rằng, “Các bậc ứng cúng sẽ sống không thiếu những vật dụng; Những việc phước của chúng con sẽ không suy giảm. Xin hãy cho chúng con lời đồng ý của các Ngài mà ở lại đây”. Khi đã được sự đồng ý của các Ngài, vị ấy sai dựng lên những chỗ ngụ trong vườn ngự uyển và hầu hạ chư Phật Ðộc Giác suốt cuộc đời còn lại của họ. Khi các Ngài nhập Niết bàn, đức vua sai tổ chức những buổi lễ thiêng và tổ chức những nghi lễ mai táng bằng gỗ chiên đàn và những thứ khác, và rồi lấy xá lợi của các Ngài và tôn trí những xá lợi ấy trong một bảo tháp. Ðầy xúc động khi nghĩ rằng, “nếu cái phải đến với ngay cả những vị ẩn sĩ có đại oai lực này, thì có lời nào có thể được nói về những người như ta?” Vị ấy phong vương cho đứa con trai đầu của mình, rồi chính vị ấy ra đi, sống đời không nhà của một vị ẩn sĩ. Hoàng hậu, khi tự hỏi nàng có thể làm gì khi xét thấy đức vua đã xuất gia rồi, cũng đi xuất gia. Khi trú ngụ trong vườn ngự uyển, hai vị đạo sĩ này đã khiến cho những tầng thiền sanh lên và trải qua thời gian của họ trong pháp an lạc của thiền định. Vào lúc kết thúc thọ mạng của họ, họ sanh trong cõi phạm thiên. Tương truyền rằng Trưởng lão Mahaakassapa, một đại Thinh văn của Bậc Ðạo sư của chúng ta, là đức vua Nanda ấy; và Bhaddaa Kapilaanii là hoàng hậu của vị ấy. Trong mười ngàn năm, chính vua Nanda này đã mặc những y phục của chư Thiên, vị ấy đã khiến cho toàn thể lãnh thổ của vị ấy giống như Uttarakuru và đã bố thí những y phục của chư Thiên đến các bậc ứng cúng. Bấy giờ khi đề cấp đến sự vinh quang này, Nữ Petii nói rằng, “có nhiều y phục như trong khắp lãnh thổ của vua Nanda “.
Ở đây, TRONG LÃNH THỔ (Vijitassmi.m): Trong vương quốc. Y PHỤC (Paticchadaa): Vải vóc vatthaani: Chúng được gọi là, “y phục” pa.ticchadaa vì người ta mặc (Pa.ticchaadenti) chúng.
Bấy giờ để cho thấy sự vinh quang của nàng lúc bấy giờ còn lớn hơn sự vinh quang của vua (Nanda); nữ (Petii) bèn nói rằng, “Còn nhiều hơn thế nữa, thưa Ngài, là những y phục và những đồ trải giường của con v.v…”
17. HƠN THẾ NỮA (Tato): Còn nhiều hơn những y phục của vua Nanda là những y phục của con. NHỮNG TÂM VẢI VÀ NHỮNG TẤM KHĂN TRẢI GIƯỜNG (Vatthaani’cchaadanaani): những áo choàng và những chiếc y lót. BẰNG LỤA VÀ LEN: Koseyyaka.mbaliyaani = ko seyyaani c’eva Kambalaani ca (Phối hợp cách). VẢI LANH VÀ VẢI SỢI (Khomakappaa sikaani ca): Những y phục làm bằng vải lanh và vải sợi.
18. NHIỀU (vipulaa): Nhiều và to lớn về bề dài và bề rộng. ÐẮT GIÁ (Mahaggahaa): Có giá trị rất to lớn vì đắt giá. THÒNG XUỐNG TỪ BẦU TRỜI (aakaase’vala.mbare): Nằm thòng xuống trong bầu trời. BẤT CỨ CÁI GÌ CON THÍCH (ya.m ya.m hi manaso piya.m): Và con chỉ lấy bất cứ cái nào mà con thích để mặc nó và đắp quanh người của con – Ðây là cách nên được hiểu.
19. HÃY XEM LOẠI KẾT QUẢ CÓ ÐƯỢC TỪ MỘT BÁT NƯỚC (thaalakassa ca paaniiya.m Vipaaka.m Passa Yaadisa.m): Hãy xem loại và tánh chất vĩ đại về kết quả của điều này, chỉ một bát nước được cho ra và được tuỳ hỉ. Ðể chỉ rõ điều này, nàng nói rằng, “Sâu, có bốn góc” v.v… Ở đây SÂU (Ga.mbhiiraa): Khó dò. CÓ BỐN GÓC (Caturassaa): có hình chữ nhật. NHỮNG HỒ SEN Pokkhara~n~no= pokkharaniyo (Hình thức văn phạm chuyển đổi). KHÉO HIỆN RA. (Sunimmitaa): khéo hiện ra theo đúng với nghiệp của nàng.
20. CÓ NƯỚC TRONG: setodakaa =seta-Udakaa, (Phối hợp cách); và được trãi bằng cát trắng. VỚI NHỮNG BỜ HỒ XINH ÐẸP (Supatitthaa): Với những chỗ tắm xinh đẹp. MÁT (siitaa): với nước mát. THƠM NGÁT (Appa.tigandhiyaa): Với hương thơm làm mê mẫn, không có mùi hôi khó chịu. MẶT NƯỚC ÐẦY NHỮNG NHỊ SEN (vaariki~njakkhapuuritaa): nước được phủ bằng những nhụy sen lăn tăng và những nhị của hoa súng xanh v.v..
21. CON: Saaha.m= Sà aha.m (Phối hợp cách). Vui chơi (Namati): thấy vui thích. CHƠI (Ki.laami): làm thoả mãn các căn của con. KHOÁI CẢM (Modaami): Vui thích với sự vinh quang về ái lạc của con. CHẲNG CÓ GÌ ÐỂ SỢ TỪ BẤT CỨ HƯƠNG NÀO (akutobhayaa): Con sống thoải mái và thỏa thích mà chẳng có sợ hãi từ bất cứ hướng nào. BẠCH NGÀI, CON ÐẾN ÐỂ ÐẢNH LỄ NGÀI (bhante vanditum aagataa): Bạch Ngài, con đã đến để đảnh lễ Ngài, vì Ngài là phương tiện để con đạt đến sự vinh quang thần tiên này.
Cái mà không được phân tích ở đây về ý nghĩa của nó thì đã được nêu ra ở chỗ khác. Khi điều này được nói bởi nữ Petii ?y, Ðại đức Saariputta bèn kể lại đầy đủ chi tiết của câu chuyện đến mọi người – là những dân cư của hai ngôi làng itthakaavatii và diigharaajii mà đã đến yết kiến trưởng lão – đã khiến cho họ xúc động và diệt trừ tà kiến Samsaaramocaka của họ, và rồi an trú họ thành những thiện tín. Vấn đề này được các vị Tỳ kheo biết đến và họ nêu lên vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết Pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Thời Pháp đem lại lợi ích cho nhiều Người ở đó.
-ooOoo-
II.2 XÁ LỢI PHẬT MẪU QUỶ SỰ
(SAARIPUTTATHERAMAATU PETAVATTHUVA.N.NAN)
“Người trần truồng và có hình tướng ghê tởm”.
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Trúc Lâm viên, liên quan đến một Nữ Ngạ quỉ mà đã từng làm Mẹ của Trưởng lão Saariiputta trong bốn kiếp về trước.
Một hôm Ðại Ðức Saariiputta, Ðại Ðức Moggallaana, Ðại Ðức Anurudha và Ðại Ðức Kappina đang trú ngụ ở một khu rừng nọ không cách xa thành Vương Xá. Lúc bấy giờ, tại Ba-la-nại có một vị Bà-la-môn có của cải lớn, đầy những kho chứa vàng và bạc. Ông ta là người hay bố thí đồ ăn, thức uống, y phục, và giường nằm và những thứ khác đến các vị Sa môn, Bà-la-môn, những người nghèo khổ, người lang thang, người đi đường xa và người ăn xin, như một cái giếng cho nước vậy. Vị ấy bố thí đến các vị A-la-hán theo đúng nhu cầu của các ngài, cung cấp mọi vật thí cần được cho ra như nước để rửa chân, những loại dầu xức để thoa chân v.v… Cũng như chăm sóc các vị Sa môn hết mức bằng đồ ăn và thức uống v.v… cho bữa phạn thực của các Ngài. Khi đi đến những vùng khác, ông ta thường nói với vợ rằng “Này hiên thê, hãy tiếp tục chăm lo hình thức bố thí vật thực này như tôi đã sắp xếp nó, đừng để cho nó suy giảm.” “Tốt lắm”, bà ta đồng ý, nhưng khi ông ta đã đi khỏi rồi thì bà ta chấm dứt hình thức bố thí mà ông ta đã sắp xếp cho các vị Tỳ kheo. Bà ta thường chỉ cho những người đi đường xa, đến để xin chỗ trú ngụ, một cái láng cũ kỹ đã bị bỏ đi ở sau hè nhà, khi nói rằng, “Các ngươi có thể ở đây”. Ðối với những người khách lữ hành đi đến đó để xin vật thực và thức uống v.v.. thì bà ta lại nói rằng, “Hãy ăn phẩn, uống nước đái, uống máu; Hãy ăn óc não của mẹ các ngươi!” và nguyền rủa họ bằng tên của bất cứ cái gì nhơ nhuốc và bất tịnh.
Ðến đúng thời kì, bà ta chết và bị kéo đi bởi nghiệp lực của bà ta, bà ta tái sanh trong cõi Ngạ quỉ, chịu sự thống khổ tương ứng với ác hạnh về lời nói của bà ta. Khi nhớ đến mối liên quan của chúng trong kiếp trước và muốn đi đến yết kiến Ðại Ðức Saariiputta, nữ ngạ quỷ đi đến tinh xá của vị ấy, nhưng vị chư Thiên bảo vệ của tinh xá ấy không chịu cho nàng vào tịnh xá. Tương truyền rằng nàng đã từng làm mẹ của Trưởng lão trong kiếp quá khứ cách bốn kiếp về trước. Do đó, nàng bèn nói rằng, “trong kiếp quá khứ của tôi, tôi là mẹ của Trưởng lão Cao quí Saariputta ; xin hãy cho phép tôi đi qua cổng để thăm Trưởng lão.” khi nghe qua lời này, những vị chư Thiên bèn cho phép nàng. Khi nàng đã đi vào, đứng ở cuối của con đường kinh hành và hiện ra trước mặt Trưởng lão. Trưởng lão trông thấy nàng, tâm của vị ấy vị rung động bởi lòng bi mẫn và hỏi nàng bằng câu kệ này:
1. “Người trần truồng và có hình tướng ghê tởm, gầy ốm với những đường gân lộ ra. Ngươi là con người gầy ốm, với những xương sườn lồi ra. Bây giờ ngươi là ai, ngươi là ai mà đứng ở đây?
Khi được hỏi bởi Trưởng lão, nàng bèn nói năm câu kệ này để đáp lại:
2. “Tôi chính là mẹ của Ngài trong những kiếp quá khứ khác, nhưng bây giờ tôi đã sanh trong cõi Ngạ quỷ, bị đói và khát.
3. Những thứ quăng bỏ, những đồ khạt nhổ, nước dãi, nước mũi, đờm, mỡ của những xác người đang bị đốt cháy và máu của những người đàn bà đẻ,
4. Và máu từ những vết thương và từ những cái mũi và đầu bị cắt: Do bị đói, tôi đã ăn cái gì dính theo những đàn ông và đàn bà.
5. Tôi ăn mủ máu của gia súc và của loài người, lại không có vật che thân và nhà cửa, phải nằm trên cái giường than.
6. Này con thân, hãy cho giùm mẹ một vật thí, và khi con đã cho rồi, hãy hồi hướng nó đến cho mẹ- chắc vậy, khi ấy mẹ sẽ được tự do, không còn ăn máu và mủ nữa.
Chú giải:
2. Tôi chính là mẹ của Ngài (Ahan te sakiyaa maataa): Tôi chính là mẹ của Ngài, là kẻ đã sanh ra Ngài. TRONG NHỮNG KIẾP QUÁ KHỨ(Pubbe a~n~naasu jaatisu): dầu là mẹ của Ngài nhưng không phải trong kiếp này, mà trong những kiếp quá khứ, trong kiếp trước cách đây bốn kiếp. Ðây là cách nên được hiểu, NHƯNG BÂY GIỜ TÔI ÐÃ SANH TRONG CÕI NGẠ QUỶ (Uppannà pettivisaya.m): Nhưng bây giờ tôi đã đi đến cõi Ngạ quỷ do sự tái sanh . CHỊU ÐÓI VÀ KHÁT (Khuppipaasaasamappitaa):bị hành hạ. bởi cơn đói và khát, nghĩa là bị dày vò bởi ước muốn được ăn và uống không nguôi.
3. ÐỒ ÐƯỢC NÉM RA (Ka.nika.m cha.d.dita.m): đồ được nhổ ra, nôn ra, có nghĩa là đồ ói mửa. ÐỒ KHẠT NHỔ (Khipita.m): Những đồ nhơ uế, đi ra từ cái miệng, bằng sự khạt nhổ. NƯỚC MIẾNG (Khela.m): Nước dãi, NƯỚC MŨI (Siíghaa.nika.m): Những đồ nhơ uế rời khỏi mũi sau khi chảy xuống từ não. ÐỜM: Silesuma.m = Semha.m (thể văn phạm chuyển đổi). MỠ CỦA NHỮNG KẺ BỊ ÐỐT CHÁY:(Vasa~n ca deyhamaanaana.m): Mỡ và dầu của những xác chết đang bị đốt cháy ở trên giàn hoả. VÀ MÁU CỦA ÐÀN BÀ ÐẺ (Vijitaana~n ca lohita.m).:Máu của những người đàn bà đã sanh đẻ, những chất nhơ của cái bào thai được bao gồm bởi chữ “Và”
6. TỪ NHỮNG VẾT THƯƠNG (Vanitaana.m): từ những vết thương mà đã sanh lên. CÁI ÐÓ (Ya.m): Máu – Ðây là chữ mà có liên quan đến. TỪ NHỮNG CÁI MŨI VÀ CÁI ÐẦU BỊ CẮT (Ghaana siisacchinna.m): Tôi ăn máu từ những cái mũi và cái đầu bị cắt; Vì tôi cũng ăn máu từ những cánh tay và chân bị cắt v.v…, máu từ những cái nầy cũng được xem là được bao gồm bởi những câu nói “từ những vết thương”. BỊ GIÀY VÒ BỞI CƠN ÐÓI (Khudarapataa): bị chế ngự bởi ước muốn được ăn. CÁI GÌ DÍNH THEO NHỮNG NGƯỜI ÐÀN ÔNG VÀ NHỮNG NGƯỜI ÐÀN BÀ (Itthipurisanissita.m): Ðiều này định rõ rằng nàng ăn cái gì dính theo những thân xác của người đàn ông và của những đàn bà và những vật khác như da, thịt, gân, mủ vv….
5. CỦA SÚC VẬT (Pasuuna.m): của những con dê (Bò, trâu v.v…) KHÔNG CÓ CHỖ CHE THÂN (alenaa): Không có chỗ nương náu. KHÔNG CÓ NHÀ CỬA (Anagaaraa): Không có chỗ trú ngụ. NẰM TRÊN CHIẾC GIƯỜNG ÐEN (nìlama~ncaparaayanaa) nằm trên chiếc giường chứa những vật nhơ bẩn mà đã bị bỏ đi ở bãi tha ma. Hay, nói cách khác, “đen” (Nìla): chỉ về bãi tha ma có nhiều tro và than cháy đỏ, nghĩa là nằm trên những cái này tựa như là chiếc giường.
6. HÃY HỒI HƯỚNG ÐẾN CHO MẸ (anvaadisaahi me): Hãy cho vật thí rồi hồi hướng nó, bằng cách như vậy, sẽ đem lại lợi ích cho mẹ. CHẮC VẬY, KHI ẤY MẸ SẼ ÐƯỢC THOÁT KHỎI SỰ ĂN MÁU VÀ MỦ (App’eva mama mu~njeyya.m pubbalohitabho janaa): Chắc mẹ sẽ được thoát khỏi kiếp sống sanh làm Ngạ quỉ này, không còn ăn máu và mủ nhờ sự hồi hướng của con.
Khi đã nghe qua điều này, vào ngày hôm sau, Ðại đức Saariputta bàn bạt với ba vị Trưởng lão, là Trưởng lão Mahaamoggallaana v.v… Và khi đang đi chung với họ đến thành Vương xá để khất thực, bèn đi đến chỗ ngụ của vua Bimbisaara . Khi đức vua trông thấy Trưởng lão, vua đảnh lễ Trưởng lão và hỏi Trưởng lão về lý do của chuyến viếng thăm: “Bạch Ðại Ðức, Ngài đến đây có mục đích gì?” Ðại đức Mahaamoggallaana báo tin cho đức vua biết về biến cố ấy. Ðức vua nói rằng, “Trẫm cho phép Ngài”, và rồi tiễn đưa các vị Trưởng lão ra về. Ðức vua bảo vị quan của mình lo mọi chuyện và truyền lệnh rằng, “Hãy xây dựng bốn cái cốc gần thành phố, trong một khu rừng, có bóng mát và có nước”. Vị ấy chia nhóm thợ trong nội thành ra ba nhóm theo đúng với nghề nghiệp chuyên môn của họ, sai che mái trên Phước xá, rồi tự thân đi đến đó và làm điều gì cần phải làm. Khi những ẩn xá đã hoàn thành, vị ấy sai sửa soạn tất cả những vật thí cúng dường và tất cả những vật dụng thích hợp như vậy, những thức uống và y phục v.v… Cũng sai chuẩn bị sẳn để mời chư Tăng có Ðức Phật dẫn đầu và rồi trao tất cả phần việc này cho Ðại Ðức Saariputta. Rồi Ðại Ðức Saariputta bố thí những thứ này nhân danh Ngạ quỉ ấy, đến chư Tăng từ bốn phương có đức Phật dẫn đầu. Nữ Ngạ quỉ ấy bày tỏ tuỳ hỉ của nàng đến vị ấy và được sanh trong cõi Devaloka (Cõi chư Thiên), có đầy đủ tất cả những gì mà nàng muốn. Vào ngày sau, nàng đi đến Trưởng lão Maahmoggallaana, đảnh lễ Ngài và rồi đứng yên trong khi Trưởng lão hỏi nàng. Nàng bèn kể cho Trưởng lão nghe đầy đủ chi tiếc về cách mà nàng đã sanh làm một Nữ Ngạ quỷ và làm một vị Nữ thần. Vì lý do này có lời nói rằng:
7. “Khi vị ấy đã nghe qua những lời mà mẹ của vị ấy đã phải nói, Upatissa, đầy lòng thương xót, bèn hỏi ý kiến Moggallaana, Anuruddha vaa Kappinà.
8. Vị ấy dựng lên bốn phước xá, rồi cho những phước xá ấy cùng vật thực và thức uống đến Tứ phương Tăng, rồi hồi hướng phước thí ấy đến cho mẹ của Ngài.
9. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này thì kết quả hiện ra: vật thực, thức uống và y phục, là quả của Phước thí này.
10. Nhân đó, nàng trở nên thanh tịnh, mặc những y phục tươi sáng và sạch sẽ, mặc những thứ còn mịn hơn vải lụa Kaasi, và được trang sức bằng nhiều loại y phục và những vật trang sức, Nàng đi đến Kolita .”
Chú giải:
8. VỊ ẤY CHO TỨ PHƯƠNG TĂNG: Sa”nghe caatuddise adaa= Caatuddisassa Sa”nghassa adaasi (Thể văn phạm chuyển đổi), nghĩa là vị ấy trao đến cho họ.
Phần còn lại có ý nghĩa đúng như đã được giải rõ rồi.
Rồi Ðại Ðức Moggallaana hỏi Pèti đó rằng:
11. “Ngươi là người đang đứng với sắc đẹp tuyệt trần, này Devataa, sáng rực lên khắp các hướng như Dược Vương Tinh.
12. Sắc đẹp của ngươi như vậy là do cái gì? Do cái gì mà điều này được thành tựu bởi ngươi ở đây? Và có sanh lên bất cứ dục lạc nào mà ngươi ưa thích?
13. Ta hỏi ngươi, này devì có oai lực lớn, ngươi đã làm việc phước nào khi ngươi còn làm người? do cái gì khiến oai lực của ngươi chiếu sáng như vậy và sắc đẹp của ngươi chói lọi trong các hướng?
Rồi nàng trả lời, khi nói rằng, “Con là mẹ của Saariputta v.v…
Phần còn lại có ý nghĩa đã được giải rõ rồi.
Rồi Ðại Ðức Moggalaana nêu vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Thời pháp ấy đem lại lợi ích cho những người ấy.
-ooOoo-
[2.2]
II.3 MẪU QUỈ SỰ
(MATTAA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Người trần truồng và có hình tướng thô xấu”.
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Trúc lâm Viên, liên quan đến một nữ Ngạ quỉ nọ có tên là Mattaa .
Tương truyền rằng, tại Saavatthi có một vị trưởng giả nọ có đức tin và lòng tịnh tín. Vợ của ông ta, là người được biết đến bởi cái tên là Mattaa, không có đức tin cũng không có lòng tịnh tín, lại hay sân hận và không có con. Bấy giờ vị Phú hộ ấy, vì sợ dòng dõi của gia đình sẽ bị tuyệt dứt, bèn lấy một cô vợ khác tên là Tissaa từ một bộ tộc ngang hàng. Nàng có niềm tin và lòng tịnh tín, lại khả ái và hấp dẫn đối với chồng của nàng. Chẳng bao lâu nàng có thai và sau mười tháng hạ sanh một đứa con trai. Tên của nó là Bhuuta . Nàng trở thành nữ chủ của gia đình và hộ độ cho bốn vị Tỳ kheo một cách chu đáo. Người vợ không có con đem lòng ganh tỵ nàng. Một hôm nọ, cả hai cùng gội đầu và đang đứng với tóc ướt. Vị phú hộ đem lòng yêu thương Tissaa vì nàng có những đức tính, và thường đứng nói chuyện với nàng một cách thoải mái. Vì không thể chịu được điều này và đã có lòng ganh tỵ Mattaa, bèn quét nhà và đổ rác mà nàng đã gom lại lên đầu của Tissaa . Ðến đúng thời kỳ, nàng chết và sanh trong cõi ngạ quỷ, chịu đau khổ do nghiệp lực của nàng. Sự thống khổ này được biết đến qua bài kinh. Rồi một hôm nọ khi chiều tối, nàng hiện ra trước mặt Tissaa khi nàng đang tắm ở sau nhà. Khi trông thấy Nữ Ngạ quỉ, Tissaa bèn hỏi nàng câu kệ này:
1. “Ngươi trần truồng và có hình tướng thô xấu, gầy ôm với những đường gân lộ ra. Này con người ốm yếu, với những xương sườn lộ ra, bây giờ người là ai, người là ai mà đứng ở đây?
Ngạ quỉ trả lời bằng câu kệ này:
2. Tôi là Mattaa, nàng là Tissà. Tôi là vợ chung chồng với nàng trong kiếp quá khứ. Khi đã làm ác nghiệp, tôi đã ra đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ.
Chú giải:
2. Tôi là Mattaa, Nàng là Tissaa (Aha.m mattaa tuva.m Tissaa): Nàng có tên là Tissaa trong khi tôi có tên là Mattaa .
Tissaa hỏi nàng một lần nữa về nghiệp mà nàng đã tạo bằng câu kệ này:
3. Vậy nhiệp gì được làm bởi nàng bằng thân, khẩu hay ý? Do kết quả của nghiệp nào khiến nàng đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ?”
Ngạ quỉ giải thích nghiệp mà nàng đã tạo bằng câu kệ này:
4. Tôi có tánh hung dữ và thô bạo, hay ganh tỵ, hèn hạ và xảo trá. Sau khi đã nói những lời ác về nàng, tôi đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ.”
Chú giải:
4. HUNG DỮ (Ca.n.dii): Có tính sân hận. THÔ LỖ (Pharusaa): Nói lời thô lỗ. NHỮNG LỜI NÓI ÁC (Duruta.m): ác ngữ, ỷ ngữ.
Từ đây trở đi, họ tiếp tục nói chuyện qua lại với nhau bằng những câu kệ này:
5. “Tất cả điều này tôi cũng biết, nàng có sân hận như thế; nhưng có điều khác mà tôi muốn hỏi nàng: Tại sao thân nàng đầy bụi đất?”
6. “Cô đã tắm gội đầu của cô và đã ăn mặc và trang điểm sạch sẽ; tuy nhiên tôi vẫn còn nhiều hơn thế nữa, còn trang điểm nhiều hơn cô.
7. Trong khi tôi nhìn cô nói chuyện với chồng của chúng ta, nhân đó cô đã khiến lòng ganh tỵ mãnh liệt và sân hận sanh đến trong tôi.
8. Khi trông thấy cảnh này, tôi lấy một ít bụi và tung bụi ấy lên người của cô. Chính do kết quả của nghiệp ấy khiến tôi bị phủ đầy bụi”.
9. “Tất cả điều này tôi cũng biết, về cách mà nàng đã đổ bụi lên tôi; nhưng có điều khác mà tôi muốn hỏi nàng: Tại sao nàng bị ăn mòn bởi bệnh ghẻ?”
10. “Cả hai chúng ta đều đi đến ven rừng để kiếm những cây thuốc. Cô thì mang về những cây thuốc trong khi tôi mang về cây Kapi kacchu .
11. Rồi chẳng có sự hay biết của cô về nó, tôi đã rải chúng lên giường của cô; chính do kết quả của nghiệp ấy khiến tôi bị ăn mòn bởi bệnh ghẻ ngứa”.
12. “Tất cả điều này tôi cũng biết về cách mà nàng đã rải chúng lên giường của tôi. Nhưng có điều khác tôi muốn hỏi nàng: Tại sao nàng bị trần truồng?”
13. “Có một cuộc họp gồm bạn bè, cuộc hội họp của những quyến thuộc; và cô được yêu cầu đi chung với chồng của chúng ta, còn tôi thì không.
14. Rồi lợi dụng khi cô không biết đến, tôi đã lấy đi những y phục của cô. Chính do kết quả của nghiệp ấy khiến tôi bị trần truồng”.
15. “Tất cả đều này tôi cũng biết, về chuyện nàng lấy y phục của tôi, nhưng có điều khác tôi muốn hỏi nàng: Tại sao nàng có mùi phẩn?”
16. “Tôi đã quăng những vật thơm, những tràng hoa và những loại dầu đắt giá vào trong nhà xí – ác nghiệp ấy được làm bởi tôi. Chính do quả của nghiệp ấy tôi có mùi phẩn”.
17. “Tất cả điều này tôi cũng biết, về ác nghiệp ấy được làm bởi nàng; nhưng có điều khác mà tôi muốn hỏi nàng: Tại sao nàng có kiếp sống đau khổ?”
18. “Bất cứ của cải nào được tìm thấy trong nhà của chúng ta đều thuộc về của hai chúng ta đồng đều nhau. Tuy nhiên dầu những vật thí ở trong tầm tay của tôi, tôi lại không làm nơi nương tựa cho chính tôi. Chính do kết quả nghiệp ấy khiến tôi chịu kiếp sống đau khổ.
19. Rồi ngay cả khi cô nói với tôi rằng: “Chị đang đeo đuổi những ác nghiệp; chắc chắn chẳng phải do những ác nghiệp mà một kiếp sống hạnh phúc dễ dàng đạt đến?”
20. “Nàng đã đến với tôi từ bên trái, và điều tệ hại hơn nữa là nàng đã ganh tỵ với tôi. Hãy xem loại kết quả có được từ những ác nghiệp.
21. Nàng có nhà, có những người hầu và những nữ trang này. Bây giờ những thứ này đã bị những người khác hưởng. Những vật sở hữu không tồn tại mãi mãi.
22. “Cha của Bhuuta bấy giờ đang từ chợ về nhà. Có lẽ ông ta sẽ cho nàng một ít gì đó. Hãy đợi cho đến lúc ấy, đừng đi khỏi đây.”
23. “Tôi trần truồng và có hình tướng thô xấu, gầy ốm với những đường gân lộ ra. Ðiều này sẽ làm xấu hổ cho những người nữ. Ðừng để cha của Bhuuta trông thấy tôi”.
24. “Thôi được, tôi có thể cho nàng cái gì đây, hoặc tôi có thể làm gì cho nàng để nàng có thể được hạnh phúc và có đầy đủ tất cả những gì nàng muốn?”.
25. “Bốn Tỳ kheo là Chư Tăng, và bốn vị là bốn bậc – Hãy tiếp đãi tám vị Tỳ kheo này và hồi hướng phước thí ấy đến cho tôi. Rồi tôi sẽ được hạnh phúc và có đầy đủ tất cả những gì mà tôi muốn”.
26. “Tốt lắm!” Nàng đồng ý. Nàng cúng dường vật thực đến tám vị Tỳ kheo, mặc y phục cho họ và hồi hướng phước thí ấy đến cho nàng.
27. Ngay khi Tiissaa hồi hướng phước thí này thì kết quả hiện ra: vật thực, y phục, và thức uống, là kết quả của phước thí này.
28. Nhân đó nàng trở nên thanh tịnh, mặc y phục sạch sẽ và tươi sáng, mặc những thứ tốt hơn vải Kaasi và, được trang sức bằng nhiều loại y phục và những vật trang sức, nàng đi đến người vợ chung chồng với nàng.
29. “Ngươi là người đứng với sắc đẹp tuyệt trần, Này Devataa, khi chiếu sáng khắp các hướng như Dược vương tinh.
30. Sắc đẹp của ngươi như vậy là do cái gì? Do cái gì mà điều này được thành tựu cho ngươi ở đây và sẽ có sanh lên bất cứ cái gì mà tâm của ngươi quá thích?
31. Ta hỏi ngươi, này Devata, có đại oai lực, ngươi đã làm việc phước nào khi ngươi còn làm người? Oai lực sáng chói của ngươi như vậy là do cái gì và sắc đẹp của ngươi chiếu sáng khắp các hưởng?”
32. “Tôi là Mattaa, cô là Tissaa. Tôi là người vợ chung chồng của cô trong quá khứ. Sau khi đã làm ác nghiệp tôi đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ; Nhưng bây giờ, do vật thí được cho bởi cô, tôi được an lạc, chẳng có gì để sợ từ bất cứ hướng nào.
33. Này em gái, cầu chúc em được trường thọ, cùng với tất cả những quyến thuộc của em, và cầu chúc em đạt đến thế giới của những vị Vasavatti, là chỗ mà không có sầu muộn và ô nhiễm.
34. Hãy xử sự ở đây cho đúng chánh pháp và hãy cho ra những vật thí, hỡi cô gái xinh đẹp; Hãy đoạn trừ bợn nhơ của lòng ích kỷ cùng với cội rễ của nó và đi về cõi chư Thiên mà không mang theo tội gì”.
Chú giải:
5. TẤT CẢ ÐIỀU NÀY TÔI CŨNG BIẾT RẰNG NÀNG ÐÃ NÓNG GIẬN NHƯ THẾ NÀO (Sabba.m aha.m pi jaanaami yathaa tva.m ca.n.dikaa ahu): “Tôi là người có tánh sân hận và cộc cằn thô lỗ”, đó là câu mà nàng đã nói, tôi cũng biết tất cả những điều này – rằng nàng sân hận như thế nào, có tánh nóng giận, nói lời thô lỗ, ganh tỵ, hèn hạ và xảo trá. NHƯNG CÓ ÐIỀU KHÁC MÀ TÔI MUỐN HỎI NÀNG (a~n~na~n ca kho tva.m pucchaami): Nhưng bây giờ có điều khác mà tôi muốn hỏi nàng. TẠI SAO NÀNG BỊ LẤM ÐẦY BỤI NHƯ THẾ (Kenaasii Pa.msugu.n.thitaa). Do nghiệp nào nghiệp nào khiến nàng bị phủ đầy bụi và rác rưởi như thế, nghĩa là do nghiệp gì mà bụi và rác phủ đầy trên khắp thân thể của Nàng?
6. CÔ ÐÃ GỘI ÐẦU (Siisa.mnahaataa): Cô đã tắm từ đầu xuống. CÒN NHIỀU HƠN THẾ NỮA (adhimatta.m): Nhiều hơn vô chừng. ÐƯỢC TRANG SỨC CÒN NHIỀU HƠN (Sa mala.nkataraa): Ðược trang sức hoàn toàn và rất lộng lẫy. Một cách đọc hoán chuyển là vô cùng (Adhimattaa): Say đắm cực kỳ, say đắm trong xảo trá và ngã mạn, nghĩa là nói xiêng nói xỏ. HƠN CÔ (Tayaa): Hơn cô, cô em ạ.
7. CÔ NÓI CHUYỆN VỚI CHỒNG CỦA CHÚNG TA (Saamikena samantayi): Cô nói với chồng của chúng ta, nghĩa là nói với một người khác.
9. BỊ ĂN MÒN BỞI BỆNH GHẺ NGỨA (Khajjaasi kacchuyaa): Bị gặm r.ta bởi bệnh ghẻ ngứa, bị hành hạ bởi nó.
10. KIẾM NHỮNG CÂY THUỐC; Bhesajjahaarii= Bhesajjahaariniyo (Thể văn phạm hoán chuyển); Ði hái thuốc. CẢ HAI CHÚNG TA (Ubhayo): Hai người chúng ta, nghĩa là tôi và cô. ÐẾN VEN RỪNG (Vananta.m): Ðến KHU rừng. CÔ ÐEM VỀ NHỮNG CÂY THUỐC (Tva~n ca Bhesajja.m aahari): Cô đem về những cây thuốc mà sẽ có lợi cho cô, đúng như đơn kê của thầy thuốc TRONG KHI ÐÓ TÔI ÐEM VỀ NHỮNG CÂY Kapikacchu (aha~nca kapikacchuno): Trong khi đó tôi đem về những trái mà ai chạm vào thì bị ngứa ngáy. Kapikacchu được gọi theo cách khác là, “Saya.mguttaa “, trong trường hợp đó, nó có ý nghĩa là tôi đem về những lá và trái Saya.mgutta .
11. TÔI RẢI CHÚNG TRÊN GIƯỜNG CỦA CÔ (Sayya.m ty aaha.m samokiri.m): Tôi Rải khắp trên giừơng của cô những lá và trái Kapikacchu .
13. CỦA NHỮNG BẠN BÈ (Sahaayaana.m): của những người bạn. MỘT CUỘC HỘI HỌP (Samayo): Một cuộc họp. CỦA NHỮNG QUYẾN THUỘC (~Natiina.m): của những người bà con. MỘT CUỘC TỤ HỌP VỚI NHAU (Samitii). Một cuộc quay quần. YÊU CẦU (aamantitaa): Ðược mời đến dự hội. THEO CÙNG VỚI CHỒNG CỦA CHÚNG TA (Samaaminii): Cùng với chúa của chúng ta, nghĩa là cùng với người mà bảo dưỡng chúng ta. NHƯNG TÔI THÌ KHÔNG (No ca kho’ ha.m): Nhưng tôi thì không được mời – Ðây là cách nên được hiểu.
14. TÔI… Y PHỤC CỦA CÔ: Dussa.m ty aaha.m = Dussa.m te aha.m (Phối hợp cách). LẤY ÐI (apaanudi.m) chộp lấy, lấy đem đi bằng sự trộm cắp.
16. ÐẮT GIÁ (Paccaggha.m): Tốt, rất đắt giá. TÔI NÉM (Athaaresi.m): Tôi quăng, MÙI CỦA PHÂN (Guudhagandhinii): Có mùi phân, bốc lên mùi phân.
18. BẤT CỨ CỦA CẢI NÀO SẼ ÐƯỢC TÌM THẤY TRONG NHÀ CỦA CHÚNG TA (Ya.m Gehe vijjite dha na.m): Bất cứ tài sản nào có được trong nhà của chúng ta đều thuộc về cả hai chúng ta như là những người quyến thuộc, thuộc về cô và tôi ngang nhau. Ở TRONG TẦM TAY (Santesu): Ðược biết đến.
19. Khi Peti ấy đã giải thích những điểm về những điều mà nàng được hỏi đến bởi Tissaa, nàng bèn nói thêm một lần nữa rằng. “Ngay cả khi ấy cô nói với tôi” v.v… để thú nhận lỗi lầm mà nàng đã cảm thấy do trước kia không nghe những lời khuyên của Tissaa . Ở đây, NGAY CẢ KHI ẤY (Tad’eva): Ngay cả khi ấy, trong thời gian mà tôi còn là người. VỚI TÔI (Ma.m): Nàng chỉ về chính nàng. CÔ (Tva.m): Tissaa . ÐÃ NÓI (avaca): Ðã bảo, “Chị đang đeo đuổi những ác nghiệp” được nói ra để cho thấy cách mà nàng đã nói. Bài kinh có đoạn, “Những ác nghiệp”. Nàng chỉ làm những ác nghiệp nên một kiếp sống hạnh phúc không dễ gì đạt được bởi những ác nghiệp ấy, một kiếp sống đau khổ dễ dàng đạt được thì đúng hơn. Nàng nói rằng, bây giờ điều ấy đã xảy ra đúng như cách mà trước kia người bạn chung chồng của nàng đã khuyên nàng.
Khi nghe qua điều này, Tissaa bèn nói lên ba câu kệ bắt đầu rằng, “Nàng đến với tôi từ phía bên trái”.
20. Ở đây – NÀNG ÐẾN VỚI TÔI TỪ PHÍA BÊN TRÁI (Vaamato ma.m tva.m paccesi): Nàng đã có quan niệm sai trái về tôi. Dầu tôi muốn nàng được hạnh phúc, nhưng nàng vẫn cho tôi là hành động một cách thù địch. NÀNG CÓ LÒNG GANH GHÉT TÔI: Ma.m usuyyasi = Mayha.m usuyyati (Thể văn phạm chuyển đổi), Nàng ganh tỵ tôi. HÃY XEM LOẠI KẾT QUẢ CÓ ÐƯỢC TỪ NHỮNG ÁC NGHIỆP (passa paapaana.m kammaana.m vipaako hoti yaadiso): Cô ta nói rằng, “Chính nàng hãy xem loại kết quả có được từ những ác nghiệp, và sự kinh khủng của nó”.
21. BÂY GIỜ NHỮNG THỨ NÀY ÐƯỢC HƯỞNG BỞI NHỮNG NGƯỜI KHÁC (Te a~n~ne Paricaarenti): Những căn nhà này, những người hầu và những tư trang này mà trước kia nàng đã sở hữu, bây giờ được hưởng được dùng bởi những người khác. NHỮNG THỨ NÀY (Ime) được nêu ra bằng sự méo mó về giống tánh. NHỮNG VẬT SỞ HỮU KHÔNG MÃI TỒN TẠI (Na bhogaa honti sassataa): Những vật sở hữu này quả thật không tồn tại mãi mãi, không bền vững, chỉ tồn tại lâu bằng thời gian của một người trong một kiếp sống và phải bị bỏ lại khi đi sang một kiếp sống mới. Do đó, vì điều này, không nên nuôi dưỡng lòng ganh tỵ và bỏn xẻn – Ðây là ý nghĩa.
22. CHA CỦA BHUUTA BÂY GIỜ THÌ (Idaanii Bhuutassa pitaa): Cha của (Bhuuta), của con trai tôi, là người đàn ông giàu có, bây giờ. TỪ CHỢ VỀ: aapa.naa = aapa.nato (thể văn phạm hoán chuyển); đang đến, đang trở về ngôi nhà này. CÓ LẼ ÔNG TA SẼ CHO NÀNG MỘT CÁI GÌ ÐÓ (App’eva te dade ki~nci): Khi vị phú hộ đã về nhà thì có thể ông ta sẽ cho nàng một cái gì đó đáng được cho như một phước thí. Ðừng đi khỏi đây. CHO ÐẾN KHI ẤY (Maasu taava ito agaa): Nàng nói do lòng bi mẫn, “Ðừng đi khỏi đây, khỏi hè nhà này, cho đến khi ấy.”
23. Khi đã nghe qua điều này, Nữ Ngạ quỷ ấy bèn nói lên câu kệ bắt đầu rằng, “Tôi trần truồng và có hình tướng thô xấu”, để cho biết rằng nàng đã cảm thấy có trắc ẩn trong lòng. Ở đây, ÐIỀU NÀY THẬT XẤU HỔ CHO NHỮNG ÐÀN BÀ (Koniinam eta.m itthiina.m): Sự trần truồng và xấu xí này mà làm xấu hổ cho những người đàn bà cần phải được tránh xa, bởi vì nó cần được che đậy. ÐỪNG ÐỂ CHA CỦA BHUUTA TRÔNG THẤY TÔI (Maa maa.m Bhuutapitaaddassa): “Do đó, đừng để cha của Bhuuta, người đàn ông giàu có ấy, thấy tôi”, nàng nói một cách hổ thẹn.
24. Khi đã nghe điều này, Tissaa đầy ước muốn giúp đỡ và đọc lên câu kệ bắt đầu bằng, “Thôi được, tôi có thể giúp nàng cái gì đây?” “Ở đây THÔI ÐƯỢC (Handa): là một mạo tự được đặt trong Metri causaa . TÔI CÓ THỂ CHO NÀNG CÁI GÌ? kin t’aha.m dammi=kin te aha.m dammi (Cách phối hợp); tôi sẽ cho nàng vật thực hay y phục? HAY TÔI CÓ THỂ LÀM GÌ CHO NÀNG? (kin vaa ca te karom ‘aha.m): Hay tôi có thể giúp đỡ gì khác cho nàng ở đây vào lúc này?
25. Khi nghe qua điều này, Petii bèn nói lên câu kệ rằng. “Bốn vị Tỳ kheo là của Tăng”. Ở đây, BỐN VỊ TỲ KHƯU LÀ CỦA TĂNG VÀ BỐN VỊ LÀ BỐN BẬC (Cattaaro Bhikkhuu Sanghato cattaaro pana puggale). Hãy tiếp đãi tám vị Tỳ kheo như thế một cách đầy đủ và hồi hương phước thí ấy đến cho tôi, xin hãy bố thí giùm cho tôi vật thí rồi hãy hồi hướng. Rồi tôi sẽ được hạnh phúc và sẽ có dồi dào tất cả cái gì mà tôi muốn.
Khi nghe qua điều này, Tissaa bèn báo tin cho chồng của nàng biết vấn đề ấy, và vào ngày hôm sau vị ấy cúng dường vật thực đến tám vị Tỳ kheo và hồi hướng phước thí đến cho nàng, Ngay tức thì nàng đạt được sự vinh quang của cõi trời và lại đi đến Tissaa một lần nữa. Ðể chứng minh vấn đề này, những vị kiết tập Tam Tạng đã lồng vào ba câu kệ, bắt đầu bằng: “Tốt lắm, nàng đồng ý”. Khi nàng đứng ở đó sau khi đã đến, Tissaa bèn hỏi nàng ba câu kệ như sau, “Nàng là người đứng đó với sắc đẹp siêu phàm”. Người kia bèn cho nàng thấy chân tướng của mình bằng câu kệ rằng, ” Tôi là Mattaa “, và bày tỏ sự tuỳ hỷ của nàng bằng câu kệ rằng, “Cầu chúc cho cô được sống lâu”, sau đó sách tấn nàng bằng câu kệ rằng, “Hãy xử sự ở đây theo đúng với chánh pháp”.
32. Ở đây, ÐƯỢC CHO BỞI NÀNG: Tava di.n.nena = Tayaa dinnena (Thể văn phạm chuyển đổi).
33. CHỖ MÀ KHÔNG CÓ SẦU KHỔ HAY Ô NHIỄM (Asoka.m viraja.m .thaana.m): Cõi trời là chỗ không sầu khổ do không có sự sầu khổ và ô nhiễm, vì sự vắng mặt của mồ hôi và bụi bặm. Nàng nói tất cả điều này liên quan đến cõi Devaloka . CHỖ Ở CỦA NHỮNG VỊ VASAVATTI (Vasavattina.m): Trong những người vận dụng năng lực của họ (Vattaana.m) bằng quyền lực của chư Thiên.
34. CÙNG VỚI CỘI RỄ CỦA NÓ (Samuula.m): cùng bợn nhơ của tham, vì bợn nhơ của tham quả thật là căn cội của lòng ích kỷ. KHÔNG CHÊ TRÁCH (Aninditaa): không có sự quở trách, đáng khen ngợi. ÐI ÐẾN NƠI THIÊN GIỚI (Sagga.m upehi .thaana.m): Cầu chúc cho nàng đạt được thiên giới (Sagga.m), vì nó là tối cao về các dục trần của nó, là những cái mà có thể thấy được v.v… Phần còn lại thì tự nó đã rõ ràng rồi.
Rồi Tissaa nêu lên vấn đề ấy với người đàn ông giàu có. Người đàn ông giàu có ấy nêu vấn đề với các vị Tỳ kheo và các vị Tỳ kheo nêu vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy đó làm vấn đề cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp cho hội chúng đã hội họp ở đó. Khi họ đã nghe thời pháp này, thì những người ấy, khi đã có sự động tâm, bèn đoạn trừ bợn nhơ về lòng bỏn xẻn v.v… Và thiên về giới đức, sự bố thí v.v… và được quyết định sanh về thiên giới.
-ooOoo-
II.4 NAN ÐÀ QUỈ SỰ
(NANDAA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Ngươi có sắc tướng nám đen và thô xấu”.
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Jetavana, liên quan đến một nữ Ngạ quỉ tên là Nandaa .
Tương truyền rằng, trong một ngôi làng nọ không cách xa thành Saavatthi có một vị thiện nam tên là Nandasena, có đức tin và lòng tịnh tín. Tuy nhiên, vợ của ông ta tên là Nandaa, không có đức tin cũng không có lòng tịnh tín, thấp hèn, có tánh nóng nảy và hay nói lời thô lỗ; Nàng bất kính và không tuân phục chồng của nàng, lại còn lăng mạ chửi mắng mẹ chồng bằng giọng oang oang như cái trống ch?u. Ðến đúng thời kỳ, nàng chết và tái sanh trong cõi Ngạ quỉ ở chỗ không xa ngôi làng ấy. Và một hôm, nàng hiện ra không cách xa vị Thiện Nam Nadasena trong khi ông ta đang rời khỏi ngôi làng ấy. Khi ông ta trông thấy nàng, bèn nói với nàng câu kệ này:
1. Nàng có hình tướng nám đen và thô xấu, trông xấu xí và dữ dằn, có mắt đỏ và răng dài lồi ra. Ta không nghĩ rằng nàng có thể là người được.
Chú giải:
1. Ở đây, NÁM ÐEN (Kaa”nii): Có sắc tối; giống như những cục than đã bị đốt cháy. THÔ XẤU (Pharusaa): Thô thiển. TRÔNG DỮ DẰN (Bhiirudassanaa): Trông kinh khiếp, dễ sợ. Một cách đọc hoán chuyển khác là Bhaarudassanaa, trông tối đen, nghĩa là khó nhìn do sự thô xấu của nàng v.v… ÐỎ (Pingala): Có mắt đỏ. DÀI LỒI RA (Kalaaraa): Những cái răng dài, lồi ra. Ta nghĩ rằng nàng chỉ là một Ngạ quỷ. Ðây là ý nghĩa.
Khi nghe qua điều này, Ngạ quỷ bèn nói lên câu kệ để giải thích rằng nàng là ai:
2. “Tôi là Nandaa, này Nandasena, tôi là vợ của anh trong quá khứ. Sau khi đã làm ác nghiệp, tôi đã ra đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ.”
Chú giải:
2. TÔI LÀ NANDAA, NÀY NANDASENA (aha.m nandaa nandasena): Thưa chồng Nandasena, Tôi tên là Nandaa . TÔI LÀ VỢ CỦA ANH TRONG QUÁ KHỨ (Bhariyaa te pure ahu.m): Tôi là vợ anh của anh trong kiếp quá khứ.
Sau câu kệ này là câu hỏi của vị Thiện Nam:
3. “Bây giờ ác nghiệp nào được làm bởi nàng từ thân, khẩu hoặc ý. Do kết quả của nghiệp nào khiến nàng phải ra đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ?”
Rồi nàng trả lời vị ấy, khi nói rằng:
4. Tôi có tánh nóng nảy, thô bạo, và cũng không có lòng tôn kính đối với ông. Sau khi đã nói những lời ác về ông, tôi đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ.”
Vị Thiện Nam lại nói rằng:
5. “Ở đây, ta sẽ cho nàng chiếc áo choàng của ta: Hãy mặc vào chiếc áo choàng này. Khi đã mặc chiếc áo choàng này rồi, thời hãy đến và ta sẽ dẫn nàng về nhà.
6. Những y phục, đồ ăn và thức uống nàng sẽ có được khi nàng đã đi về nhà. Và nàng sẽ nhìn thấy những đứa con trai của nàng và thăm những nàng dâu của nàng”.
Rồi nàng nói hai câu kệ này với vị ấy:
7-8. “Cái gì được cho từ tay của ông vào trong tay của tôi thì không có ích lợi gì cho tôi. Nhưng hãy làm thoả mãn bằng đồ ăn và thức uống đến các vị Tỳ kheo có giới đức, đã thoát khỏi tham, và hãy bố thí đến những kẻ nghe nhiều, rồi hồi hướng phước thí ấy đến cho tôi. Thời tôi sẽ được hạnh phúc và có dồi dào những gì tôi muốn”.
Ba câu kệ này được nói bởi những vị kiết tập Tam tạng:
9. “Tốt lắm!” Vị ấy đồng ý và phân phát nhiều vật thí – đồ ăn, thức uống, Vật thực cứng, y phục và chỗ ngụ, dù che, những vật thơm và những tràng hoa, và nhiều loại trầm hương khác đến các vị Tỳ kheo có giới đức, không có tham, và đến những Bậc Ða văn. Sau khi đã làm thoả mãn họ bằng đồ ăn và thức uống, ông ta hồi hướng phước thí đến cho nàng.
10. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này thì kết quả hiện ra, vật thực, y phục và thức uống là kết quả của việc bố thí này.
11. Nhân đó, nàng trở nên thanh tịnh, được mặc y phục sạch sẽ và tươi sáng, mang những thứ tốt hơn vải Kasii và, được trang sức bằng nhiều loại y phục và những vật trang sức, nàng đi đến chồng của nàng”.
Từ đây trở đi là những câu kệ về sự trao đổi chuyện trò giữa vị Thiện Nam và Ngạ quỷ.
12. Nàng là người đứng với sắc đẹp tuyệt trần, này Devataa, chiếu sáng rực lên khắp các hướng như Dược Vương Tinh.
13. Sắc đẹp của nàng như vậy là do cái gì? Do cái gì mà điều này được thành tựu bởi nàng ở đây và sẽ còn sanh lên bất cứ lạc thú nào mà tâm của nàng ưa thích?
14. Ta hỏi nàng, này Devii có đại oai lực, nàng đã làm việc phước nào khi còn làm người? Do cái gì khiến oai lực của nàng sáng chói như vậy và sắc đẹp của nàng chiếu sáng khắp các hướng?”
15. “Tôi là Nandaa, thưa ông Nandasena, tôi là vợ của ông trong quá khứ. Sau khi làm việc ác, tôi đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ. Nhưng bây giờ, do vật thí được cho đến bởi ông, tôi được sung sướng, chẳng có gì để sợ từ bất cứ hướng nào.
16. Cầu chúc cho ông được sống lâu, cùng với tất cả những quyến thuộc của ông, và cầu chúc ông đạt đến chỗ ở của những vị Vasavatti, chỗ mà không sầu muộn và ô nhiễm.
17. Hãy xử sự ở đây theo đúng với chánh pháp và cho ra những vật thí, này gia chủ; hãy đoạn trừ bợn nhơ của lòng ích kỷ cùng với căn cội của nó, và đi đến thiên giới mà không mang theo tội lỗi gì?
Chú giải:
9. PHÂN PHÁT NHIỀU VẬT THÍ (Daana.m vipula.m aakiri): Mở ra một cuộc bố thí vĩ đại tựa như rải ra những hạt giống phước thí trên mảnh ruộng của những người đáng thọ lãnh những vật cúng dường.
Phần còn lại giống như câu chuyện ngay ở trước.
Khi nàng đã giải thích như vậy với Nandasena về sự vinh quang thần thiên của nàng và nguyên nhân của nó, nàng bèn đi đến chỗ ngụ của chính nàng. Vị Thiện Nam nêu ra vấn đề ấy với các vị Tỳ kheo và các vị Tỳ kheo nêu vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấylàm nguyên nhân cần thiết đã sanh khởi và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Thời pháp đem lại lợi ích cho những người ấy.
-ooOoo-
II.5 NHĨ HOÀN NỮ QUỶ SỰ
“Trên người có trang sức, mang những vòng tai sáng bóng”.
Pháp thoại nàng được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Jetavana, liên quan đến DevaPutta MatthaKu.n.dali . Ở đây bất cứ điều gì được nói đến đều đã được nêu ra trong thiên cung sự về Matthaku.n.dali, trong bộ thiên cung sự thuộc phần chú giải nội dung ý nghĩa; và do đó nên được hiểu đúng như đã được trình bày ở đó.
Trong trường hợp này, đó chính là câu chuyện về Devaputta Matthaku.n.dali từ khi vị ấy trở thành một Vimaana Devataa trở đi. Cha của vị ấy là một Bà la môn Adinnapubbaka, đã đi đến bãi tha ma do nỗi ưu bi vì bị mất đứa con trai của ông ta, và đang đi quanh chỗ thiêu xác đứa con mà khóc lóc trong khi vị thiên tử, với mục đích làm vơi đi nỗi ưu bi của người cha, bèn bỏ đi cái lốt chư Thiên của vị ấy và hiện ra làm một Petaa đầy đau khổ, và với hai cánh tay được xiết lại trong nỗi sầu muộn, đang và kêu khóc, “ôi, mặt trăng ôi mặt trời!” Cho dù nó được bao gồm trong bộ kinh thiên cung sự, nhưng câu chuyện về vị ấy phải được xem là cũng được bao gồm trong bộ kinh Ngạ quỷ sự; lý do là bất cứ ai mà từ bỏ kiếp sống làm người cũng có thể được đề cập qua tên gọi là Peta .
-ooOoo-
II.6 HẮC QUỶ SỰ
(KA.NHA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Hãy dậy, thưa Ka.nha, tại sao ngài nằm như thế?”
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Jetavana, liên quan đến một vị Thiện Nam có đứa con trai đã chết.
Tương truyền rằng, tại Saavatthi, đứa con trai của một vị Thiện Nam nọ đã chết. Bị đâm thủng bởi cây tên sầu muộn, ông ta không tắm, không ăn, không làm việc, không đi hầu Ðức Phật, chỉ nói lảm nhảm mà thôi, khi nói rằng, “con đâu rồi, này con trai bé bỏng yêu quí của cha? con đã vội vàng đi đâu mà bỏ lại ta?” v.v… Bậc Ðạo sư khi đang dò xét thế gian vào lúc hừng sáng, trông thấy khả năng của ông ta có thể chứng đắc quả Thánh Tu-Ðà-Hườn. Và vào ngày hôm sau, Ngài đi đến Saavatthi để khất thực, được vây quanh bởi chúng Tỳ kheo. Khi Ngài đã thọ thực xong, Ngài cho các vị Tỳ kheo ra về, rồi đi với người thị giả, là Trưởng lão Aanada, đến cửa nhà của ông ta. Những người hầu báo tin cho vị thiện nam biết rằng Bậc Ðạo sư đã đến, và rồi thỉnh Bậc Ðạo sư ngồi trên chỗ ngồi mà họ đã soạn sẵn. Rồi họ đi tìm vị Thiện Nam và dẫn ông ta đến trước Bậc Ðạo sư. Khi ông ta trông thấy Ngài, bèn ngồi xuống một bên. Ngài hỏi rằng, “Này Thiện Nam, chuyện gì thế, có phải ngươi đang than khóc đó chăng?” Khi ông ta nói rằng, “Thưa vâng, bạch đức Thế Tôn”; Ngài bèn nói rằng, “Này ông Thiện Nam, các bậc trí tuệ ngày xưa đã nghe một câu chuyện từ các bậc Trí tuệ và không khóc than cho đứa con trai đã chết”. Và khi được thỉnh cầu bởi ông ta, Ngài bèn kể lại câu chuyện xa xưa ấy.
Tương truyền rằng, đã lâu, trong thành phố Dvaaravatii có mười vị hoàng tử – Vaasudeva, Baladeva, candadeva, Suriyadeva, Aggideva, Varunadeva, Ajjuna, Pajjuna.m, Gha.tapa.n.dita và A”nkura . Trong những vị hoàng tử này, đứa con yêu dấu của Ðại vương Vaasudeva đã chết. Ðức vua sầu khổ trước biến cố này; Vua bỏ bê tất cả mọi phận sự của mình, ôm ghì lấy chiếc giường của vị ấy và rồi nằm nói chuyện lảm nhảm. Lúc bấy giờ, Ghatapa.n.dita suy nghĩ rằng, “Ngoài ta ra, không ai có thể diệt trừ nỗi ưu bi của anh ta được. Ta sẽ diệt trừ nỗi ưu bi của anh ta bằng một mẹo.” Bởi vậy, vị ấy giả làm một người điên, và khi nhìn lên bầu trời, đi rảo khắp thành phố mà nói rằng, “Hãy cho tôi con thỏ! Hãy cho tôi con thỏ!”, và toàn thể thành phố đã dao động khi nghe tin rằng Gha.tapa.n.dita đã điên loạn. Lúc bấy giờ, vị quan cố vấn đặc biệt của Ðức Vua, có tên là Rohineyya, đi đến vua Vaasudeva và nói lên câu kệ này để khởi chuyện với Ðức vua:
1. “Hãy dậy, thưa Ka.nha, tại sao ngài nằm đó? Sự mơ tưởng đem lại lợi ích gì cho ngài? Người mà là em trai của ngài, là quả tim của ngài, là con mắt phải của ngài, đã bị áp đảo bởi những cơn gió -vị ấy đang khao khát một con thỏ, thưa Kesava!”
Chú giải:
1. KA.NHA (Kanha) : Vị ấy gọi Vaasuladeva bằng tên họ. MƠ TƯỞNG CÓ LỢI ÍCH GÌ CHO NGÀI? (Ko attho supinena te): quả thật vậy, bằng sự mơ tưởng có lợi ích gì cho Ngài? NGƯỜI EM RUỘT (Sakobhaataa): Ðứa em cùng một mẹ. QUẢ TIM CỦA NGÀI VÀ LÀ CON MẮT PHẢI CỦA NGÀI (Hadaya.m cakkhun ca Dakkhi.na.m): Nghĩa là người mà giống y như quả tim và con mắt của Ngài. ÐÃ BỊ ÁP ÐẢO BỞI NHỮNG TRẬN GIÓ (Tassa vaataa, baliiyanti): Những cơn gió điên cuồng, tiếp tục sanh khởi trong người của vị ấy, đã mạnh lên, gia tăng và áp đảo vị ấy. VỊ ẤY ÐANG KHAO KHÁT (Jappati): Vị ấy đang nói lảm nhảm rằng. “hãy cho tôi con thỏ!” KESAVA (kesava): Tương truyền rằng vị ấy được gọi là Kesava vì mái tóc xinh đẹp của vị ấy; vị quan kia đang gọi là vị ấy bằng cái tên này.
Bậc Ðạo sư, là người đã trở thành Bậc Chánh Ðẳng giác, khi ấy nói lên câu kệ này để làm sáng tỏ tánh cách mà vị ấy ngồi dậy khỏi chiếc giường khi nghe qua những lời này:
2. “Khi nghe qua những lời của Rohineyya, Kesava vội vã đứng dậy, vì ưu bi cho em trai của vị ấy!”
Ðức vua đứng dậy và vội vàng đi xuống hoàng cung và rồi đi đến trước mặt của Cha.tapa.n.dita, nắm chắc vị ấy bằng cả hai tay, và khi nói chuyện với vị ấy, đã nói lên ba câu kệ này:
3. “Tại sao em, như một người điên, nói nhảm rằng, “con thỏ, con thỏ!” quanh khắp cả Dvaaraka này? Em muốn loại thỏ nào?
4. Thỏ bằng vàng? bằng ngọc? thỏ bằng đồng? ngay cả thỏ làm bằng bạc? hay thỏ làm bằng những loại đá quí? Chẳng hề gì, anh sẽ sai làm con thỏ ấy để cho em.
5. Cũng có những con thỏ bé nhỏ khác mà rảo đi trong những khu rừng. Anh cũng sẽ mang về cho em những con thỏ này. Em muốn loại thỏ nào?
Chú giải:
3. NHƯ MỘT NGƯỜI ÐIÊN (Ummattaruupo): Như người bị điên. KHẮP (Kevala.m): Toàn thể. DVAARAKA (dvaaraka.m): Dạo đi quanh thành phố Dvaaraka này. NÓI LẨM BẨM RẰNG, “THỎ, THỎ!” (Saso saso ti lapasi): Nói lẩm bẩm “Thỏ, thỏ!”
4. CON THỎ BẰNG VÀNG: Sova.n.namaya.m = Suva.n.namaya.m (Thể văn phạm hoán chuyển). CON THỎ BẰNG ÐỒNG (Lohamaya.m): Con làm bằng đồng đỏ. CON BẰNG BẠC (Ruupiyamaya.m): Con làm bằng loại đồng tiền bằng bạc.
5. Vị ấy dỗ ngọt Chatapa.n.dita bằng con thỏ, với ý định khám phá nhu cầu cần con thỏ của người kia, khi nói rằng. “Hãy nói cái gì mà em muốn. Tại sao ưu bi? Cũng có những con thỏ bé nhỏ khác rảo đi ở những đám cây trong rừng. Anh sẽ đem về cho em những thứ này, nếu em chỉ cần nói ra, Hỡi người bạn đáng kính, em cần loại thỏ nào?”
Khi nghe qua điều này, Gha.tapa.n.dita nói lên câu kệ này:
6. “Em không muốn con thỏ ấy, là những con thỏ mà ở trên đất. Em muốn con thỏ từ mặt trăng. Hãy đem con thỏ ấy xuống cho em này Kesava !”
Chú giải:
6. Ở đây, ÐEM XUỐNG: ohara= ohaarehi (Thể văn phạm chuyển đổi). Khi đức vua nghe điều này, vị ấy trở nên thất vọng, khi nghĩ rằng, “Không nghi ngờ gì em của ta đã trở thành như một người điên”, và nói lên câu kệ này:
7. Bây giờ! Này người thân của ta, chắc chắn em đã quăng đi đời sống ngọt ngào của em rồi. Em khao khát cái mà không nên khao khát khi em muốn con thỏ từ mặt trăng”.
Chú giải:
7. NGƯỜI QUYẾN THUỘC CỦA TA (~naati): Vị ấy nói với đứa em trai. Bây giờ ý nghĩa ở đây là như thế này: “Này người quyến thuộc thân yêu của ta, ta nghĩ rằng em đã quăng bỏ đời sống ngọt ngào của em vì em đã ao ước cái mà không nên ao ước”.
Khi Cha.tapa.n.dita nghe điều mà Ðức vua đã phải nói, vị ấy đứng bất động ở đó và nói rằng: “Thưa anh, như anh biết rằng sẽ có mất mát đời sống cho một người mà khao khát con thỏ từ mặt trăng, không thể có được nó, Tại sao anh cứ kêu than về một đứa con trai đã chết, là kẻ mà anh không thể có được?” Và nói lên câu kệ để giải thích quan điểm này:
8. Này Ka~nha, nếu anh biết cách mà anh dùng để khuyên những người khác như vậy; Tại sao chính ngày hôm nay, anh lại than vãn cho một đứa con trai đã chết trong quá khứ rồi?”
Chú giải:
8. Ở đây, NẾU ANH BI?T NHƯ VẬY, NÀY KA.NHA (Eva.m ca ka.nha jaanaasi) Nếu anh biết như vậy, này anh, hỡi Ðại vương Ka.nha, rằng một điều mà không thể được thì không nên khao khát. CÁCH MÀ ANH KHUYÊN NHỮNG NGƯỜI KHÁC (Yath’ a~n~na.m): Và dầu đã biết rõ điều này, tuy thế anh lại không hành động theo cách mà anh khuyên những người khác. Tại sao anh than vãn cho một đứa con trai mà đã chết từ hơn bốn tháng rồi? Như vậy, trong khi đứng ở giữa con đường, vị ấy nói rằng, “ít ra tôi chỉ có thể ao ước cái mà có thể thấy được, còn anh thì thương tiếc cho người mà không còn có thể trông thấy nữa.” và rồi nói lên hai câu kệ để dạy đạo cho vị ấy.
9. “Nhưng điều này không thể có được, dầu bởi người hay bởi phi nhân, rằng, “Một đứa con sanh đến cho ta thì không nên chết.” Cái mà không có được thì có thể kiếm ở đâu?
10. Chẳng phải do Mantra, rễ của cây thuốc, những loại thuốc, cũng chẳng phải do của cải mà có thể đem về kẻ quá cố mà anh kêu khóc đến, Này Ka.nha ạ!”
Chú giải:
9. Ở đây CÁI MÀ (Ya.m): nghĩa là chỉ cái này mà anh khao khát đến là; “một đứa con trai đã sanh đến cho anh ta không được chết”, điều ấy không thể có được điều này, dầu bởi người hay chư Thiên, này anh ạ! Như vậy điều này có thể có được từ đâu, bằng cách nào có thể có được điều này, vì điều này mà không thể có được thì không làm sao có được.
10. BẰNG MANTRA (MANTAA): Do bởi Mantra . Do bởi RỄ CỦA CÂY THUỐC: Muulabhesajjaa = muulabhesajjena (Thể văn phạm hoán chuyển). CŨNG CHẲNG PHẢI BẰNG CỦA CẢI (dhanena vaa) cũng chẳng phải bằng của cải đến một trăm Ko.ti . Ðây là điều được nói đến: “Không thể dùng Mantra để mang về kẻ quá vãng mà anh than khóc đến”.
Rồi để chỉ cho người anh của vị ấy thấy rằng, không thể ngăn cản cái được gọi sự chết này được, dầu bằng của cải hay dòng tộc hay kiến thức, giới đức hay thiền định. Cha.tapa.n.dita đã thuyết pháp cho Ðức vua bằng năm câu kệ này.
11. Những người có của cải lớn, có những vật sở hữu lớn, dầu là những vị Sát đế lỵ có những vương quốc – cho dù những kẻ này, có nhiều của cải và ngũ cốc, cũng không thoát khỏi già và chết được.
12. Những vị Sát đế lỵ, Bà la môn, Vệ sá, Thủ đà, Chiên đà la và Pukkusa – ngay cả những người này và những người khác, bằng dòng tộc của họ, cũng không thoát khỏi già và chết.
13. Những kẻ tụng đọc Mantra bao gồm sáu chương, được soạn ra bởi Phạm thiên Brahma – ngay cả những người này và những người khác, qua kiến thức ấy, cũng không thoát khỏi già và chết được.
14. Và ngay cả những vị ẩn sĩ, những đạo sĩ đã được an tịnh và đã tự chế – ngay cả những vị đạo sĩ này cũng phải rời bỏ thân xác của họ khi thời gian đến.
15. Những vị A la hán, những bậc đã tu tiến, đã làm điều cần được làm và đã thoát khỏi các lậu hoặc – Ngay cả họ cũng phải để xuống tấm thân này khi đã hết nghiệp thiện và bất thiện của họ.
Chú giải:
11. Ở đây, NHỮNG NGƯỜI CÓ CỦA CẢI LỚN (Mahaddhanaa) Rất giàu có vì của cải mà họ đã tích trữ. NHỮNG NGƯỜI CÓ NHỮNG VẬT SỞ HỮU LỚN (Mahaabhogaa): Có sự thù thắng lớn về những vật sở hữu tương tự như những vật sở hữu của những vị chư Thiên. CÓ NHỮNG VƯƠNG QUỐC (Rattha vanto): Có toàn thể những vương quốc. CÓ NHIỀU VỀ CỦA CẢI VÀ NGŨ CỐC (Pahuutadhanadha~n~naase): Chúng có những của cải và ngũ cốc vô hạn, do nhờ những của cải và ngũ cốc mà chúng đã cất lại để dùng hằng ngày sau khi bỏ ra đủ để trang trải những nhu cầu của chúng trong ba hoặc bốn năm. NGAY CẢ NHỮNG NGƯỜI NÀY CŨNG KHÔNG THOÁT GIÀ VÀ CHẾT (Te pi no ajaaraamaraa): Ngay cả những vị Sát đế lỵ ấy có của cải lớn như Mahaamandhaatu và Mahaasudassana v.v… Cũng không thoát khỏi già và chết, nghĩa là chắc chắn họ đã phải đi vào miệng của tử thần.
12. NHỮNG NGƯỜI NÀY (ete): là những vị sát đế lỵ v.v… Ðã nêu ra trước. NHỮNG NGƯỜI KHÁC (a~n~ne): Những người mà trực tiếp thuộc về giai cấp nối theo sau như Amba.t.tha v.v… QUA DÒNG GIỐNG CỦA HỌ (Jaatiyaa): nghĩa là họ không thoát khỏi già và chết dù bằng dòng giống của họ.
13. Những MAN TRA (Manta.m): Những bộ kinh Phệ đà tụng đọc (Parivattenti): tụng và ngâm nga; hay nói cách khác. Ðọc (Parivattenti): niệm lâm râm trong khi thực hành những nghi lễ cúng tế (anuparipatentaa). GỒM SÁU BỘ KINH (Cha.la”nga.m): liên hệ đến sáu phần nhỏ được kể đến như Ngữ Âm học, những luật lệ mô tả về nghi lễ cúng tế, từ nguyên học, văn phạm, Thiên văn, phép làm thơ v.v… DO BRAHMAA SOẠN RA (Brahmacintita.m): Ðược nghĩ ra, nói ra, bởi Brahmaa dành cho các vị Bà la môn. QUA KIẾN THỨC ẤY (vijjaaya) nghĩa là họ không thoát được già chết cho dù họ có kiến thức giống như kiến thức của Brahmaa .
14. NHỮNG ÐẠO SĨ (isayo): Họ là những ẩn sĩ vì họ cố gắng thu thúc và tự chế, v.v… AN TỊNH (Santaa): Có tánh an tịnh về thân và khẩu. LÀ NHỮNG BẬC ÐÃ TỰ CHẾ (Sa~n~natattaa): là những kẻ có tâm được kiểm soát bởi sự thu thúc về tham v.v… NHỮNG ÐẠO SĨ (Tapssino): Họ thực hành pháp khổ hạnh về thân . Lại nữa các Ðạo sĩ (Tapassino): những người đã có pháp chế ngự. Ðiều này cho thấy rằng dầu họ trở thành những người dựa vào sự khổ hạnh theo cách này và muốn chứng đạt sự giải thoát bằng phương tiện về thân, cũng phải rời bỏ cái thân này. Hay nói cách khác, những vị ẩn sĩ (Isayo): họ là những ẩn sĩ (Isayo) vì họ cố gắng (Esanaa) Ðể đạt được giới cao thuợng và các điều học v.v… Bằng ý nghĩa này, họ được thanh tịnh do sự gom tâm vào riêng một đối tượng. Họ là những đạo sĩ vì sự tinh tấn thiêu đốt mà họ áp dụng vào bốn pháp Chánh tinh tấn. Họ là những Ðạo sĩ vì họ đốt cháy tham v.v… Qua sự thực hành đúng. Ðây là cách nên được hiểu.
15. NHỮNG NGƯỜI TỰ TU TIẾN (Bhaavitattaa): Những người có tâm được tu tập do pháp thiền quán về tứ diệu đế như là một đề mục thiền định.
Khi nghe qua pháp thoại này do Gha.tapa.n.dita nói ra, Ðức vua, tựa như được người ta rút ra cây tên ưu bi,và với lòng tịnh tín trong tâm, khi ấy bèn nói lên những câu kệ còn lại để tán dương Chaỉpa.n.dita
16. “Ta quả thật đang cháy nóng, như ngọn lửa cháy bằng thục tô; Nhưng bây giờ, tất cả những sầu muộn của ta đã được dập tắt tựa như ta được tưới lên người bằng nước mát.
17. Cây tên, quả thật vậy, là nỗi ưu bi, mà đâm xuyên qua tim của ta, nay đã được rút ra rồi. Ngươi đã đoạn trừ ưu bi ấy, ưu bi về đứa con trai của ta mà đã đè nặng lên ta.
18. Nhờ rút ra được cây tên, ta trở nên an tịnh và mát mẻ; từ khi nghe những lời của ngươi, ta không còn ưu bi hay than khóc nữa.
19. Cũng như Ghata đã làm cho anh của mình vơi đi nỗi ưu bi. Những bậc trí tuệ có lòng bi mẫn cũng hành động như thế ấy.
20. Như Ghata đi theo anh của mình với lời khuyên tốt; Cũng vậy, người mà có những người cố vấn và những người hầu như vậy cũng được đi theo (với lời khuyên tốt) như thế.
Chú giải:
19. NHƯ GHATA LÀM CHO ANH CỦA MÌNH QUÊN ÐI (Cha.to jettha.m va bhaatara.m) nghĩa là cũng như Ghatapa.n.dita, bằng phương tiện thiện xảo và bằng thời pháp thoại, đã làm cho anh của vị ấy nguôi ngoai, là người bị chế ngự bởi nỗi ưu bi về đứa con trai đã chết của vị ấy, khỏi nỗi ưu bi về đứa con trai ấy. Cũng vậy những người có trí tuệ khác mà có lòng bi mẫn cũng hành động vì sự lợi ích cho những quyến thuộc của họ.
20. NGƯỜI MÀ CÓ NHƯ VẬY (yassa etaadisaa honti): Ðây là câu kệ từ Ðức Phật Toàn Giác. Ðây là ý nghĩa của nó: Cũng như, theo cách mà nhờ đó Chatapa.n.dita đi theo vua Vaasudeva, là người bị đau khổ vì nỗi sầu muộn cho đứa con trai của ông ta, bằng lời khuyên tốt với mục đích làm tiêu tan nỗi ưu bi ấy, cũng vậy bất cứ ai khác mà có được những người cố vấn có trí tuệ như thế cũng đi theo như vậy! làm sao có thể có ưu bi về người ấy được?
Những câu kệ còn lại có ý nghĩa giống như đã được nêu ra ở trên.
Khi Bậc Ðạo sư đã kể lại pháp thoại này, Ngài bèn nói rằng, “Như vậy, này ông Thiện Nam, chính những bậc Trí tuệ thuở xưa đã diệt trừ nỗi ưu bi của họ về đứa con trai đã chết của họ khi họ nghe một câu chuyện từ những Bậc trí tuệ. Rồi Ngài thuyết giảng tứ đế và thêm vào bổn sanh, lúc kết thúc thời pháp ấy, vị Thiện Nam ấy được an trú trong quả Thánh Tu đà huờn.
-ooOoo-
[2.3]
II.7 TÀI HỘ QUỈ SỰ
(DHANAPAALA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Người trần truồng và có hình tướng thô xấu.”
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi ngài đang ngụ ở Jetavana, liên quan đến Ngạ quỷ Dhanapaala (Tài Hộ).
Tương truyền rằng trước khi Ðức Phật xuất hiện tại Kinh đô Erakaccha trong Vương quốc của những vị Dasa.n.na, có một vị thương nhân giàu có tên là Dhanapaalaka, là kẻ không có đức tin cũng không có lòng tịnh tín và keo kiệt, lại chấp theo tà kiến Natthika. Những hoạt động của ông ta được biết đến qua kinh tạng. Khi ông ta chết, ông ta sanh làm một Ngạ quỷ trong vùng hoang vắng. Thân của ông ta lớn bằng thân của cây thốt nốt. Da thì nổi u lồi, thô thiển và trông kinh khiếp, xấu xí và dị hợm – Trông thật ghê tởm. Bị chế ngự bởi cơn đói và khát và cái lưỡi của nó thè ra khỏi cái cuống họng khô cháy của nó, nó đi lang thang chỗ này chỗ nọ trong năm mươi lăm năm là không kiếm được một chút gì, dầu là một hột cơm hay một giọt nước. Rồi khi Ðức Thế Tôn của chúng ta xuất hiện trong thế gian và đã lăn Bánh xe Diệu Pháp, và đến đúng lúc đang cư trú tại Saavatthi, một số thương nhân là những dân cư của thành Saavatthi, chất đầy hàng hoá trong năm trăm cỗ xe, đi đến xứ Uttaraapatha, bán hàng hoá của họ ở đó, và lại chất đầy những hàng hoá nhận được vào những cỗ xe của họ. Khi họ đang trở về vào lúc chiều tối, họ đi đến một con sông bị khô nước nọ. Họ tháo ách cho những con bò ở đó và cấm trại qua đêm. Rồi con Ngạ quỷ ấy bị khát, đi đến tìm kiếm một cái gì đó để uống. Vì không kiếm được gì dầu một giọt nước ở đó, nó ngã sấp, thất vọng, như cây thốt nốt bị đốn hạ đến gốc rễ. Khi trông thấy nó, những thương nhân bèn hỏi nó bằng câu kệ này:
1. “Ngươi trần truồng và có hình tướng thô xấu, gầy ốm với những đường gân lộ ra. Ngươi là kẻ ốm yếu, với những xương sườn lộ ra, bây giờ người là ai?”
Nhân đó Ngạ quỷ nói rõ gốc gác của nó.
2. “Thưa Ngài, tôi là một Ngạ quỷ, đã đi đến kiếp sống đau khổ trong cõi của Yama; Sau khi đã làm ác nghiệp, tôi đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ”. Một lần nữa các thương nhân lại hỏi Ngạ quỷ về nghiệp mà nó đã tạo:
“Vậy ngươi đã làm ác nghiệp nào bằng thân khẩu hoặc ý? Do kết quả của nghiệp nào khiến ngươi ra đi từ đây đến cõi Ngạ quỷ?”
Nó bèn nói những câu kệ này để kể về những hoàn cảnh về quá khứ, hiện tại và tương lai của nó, từ chỗ sanh lên trước kia của nó trở đi, và cho họ một lời sách tấn:
4. “Tại thành phố của những người Dasa.n.na, là Erakaccha nổi tiếng. Trong quá khứ tôi là một thương nhân ở đó – được biết đến qua cái tên là Dhanapaala (Người giữ của)
5. Tám mươi cỗ xe chất đầy vàng là của tôi; tôi cũng có nhiều vàng và nhiều ngọc trai và những loại đá quí.
6. Dầu có của cải to lớn như vậy, nhưng tôi lại không thích bố thí. Tôi đóng cửa trước khi ăn vì sợ những người ăn xin sẽ thấy tôi.
7. Tôi không có niềm tin, hèn hạ, keo kiệt và hay chửi mắng. Tôi có thói quen ngăn cản nhiều người trong khi họ đang bố thí và làm các thiện sự.
8. Khi nói rằng, “không có kết quả nào từ sự bố thí cả, kết quả của sự tự chế sẽ đến từ đâu?” Tôi phá huỷ những hồ sen và những chỗ uống nước khác, những khu huê viên, những chỗ dẫn nước ở bên đường và những chiếc cầu tại những chỗ khó băng qua.
9. Tôi đã không làm việc làm phước thiện. Tôi chỉ làm những việc ác. Khi rời khỏi cõi ấy, tôi sanh vào trong cõi Ngạ quỷ, bị hành hạ bởi cơn đói và khát. Trong năm mười lăm năm kể từ khi tôi chết.
10. Tôi không biết rõ về ăn hay uống nước. Người bị cản trở đi đến chỗ hư hoại, người đi đến chỗ hư hoại bị cản trở. Tương truyền rằng những Ngạ quỷ quả thật biết rằng người mà bị cản trở đi đến chỗ hư hoại.
11. Trong quá khứ tôi cũng bị cản trở như thế. Tôi đã không bố thí dầu có nhiều cảu cải tồn đọng. Dầu những vật thí nằm trong tay, tôi cũng chẳng làm chỗ nương tựa cho chính tôi.
12. Về sau tôi cảm thấy ăn năn khi những nghiệp của chính tôi bắt đầu cho quả. Sau bốn tháng cái chết sẽ đến với tôi.
13. Và tôi sẽ rơi xuống địa ngục kinh khiếp và ác nghiệt: có bốn góc với bốn cổng, nó được chia thành những phần bằng nhau, được bao quanh bởi một bức tường sắt, có mái bằng sắt ở trên.
14. Cái nền nóng rực sáng của nó làm bằng sắt cháy đỏ: Nó trải rộng khắp quanh một trăm do tuần, đứng mãi mãi như thế.
15. Ở đó, trong một thời gian dài tôi sẽ trải qua những cảm thọ đau đớn do quả của những ác nghiệp của tôi. Vì lý do này tôi vô cùng sầu khổ.
16. Do đó tôi xin nói với các người rằng, “Tôi xin chúc lành đến các người, mỗi người trong các vị đã hội họp ở đây. Ðừng gieo tạo một ác nghiệp nào dầu công khai hay bí mật.
17. Vì nếu quý vị làm hoặc sẽ làm một ác nghiệp nào đó thời sẽ không có con đường trốn thoát khỏi đau khổ dành cho các người đâu, cho dù các người có bay lên trời và chạy đi xa khuất chỗ nào.
18. Hãy tôn kính mẹ, hãy tôn kính cha; Hãy tôn kính các bậc trưởng thượng trong gia đình. Hãy tỏ sự sùng kính đến các vị Sa môn và Bà la môn – bằng cách này các người sẽ đi đến cõi trời.”
Chú giải:
4. Ở đây, CỦA NHỮNG VỊ DASA.N.NA: Trong vương quốc của những người Dasa.n.na hay của những vị vua có tên ấy. ERAKACCHA (Erakaccha.m): là tên của thành phố ấy. Ở ÐÓ (Tattha): Trong thành phố ấy. TRONG QUÁ KHỨ (Pure): Trước kia, trong kiếp quá khứ. TÔI ÐƯỢC BIẾT ÐẾN LÀ DHANAPAALA (Dhanapaalo ti ma.m vidu): người ta biết tôi là phú hộ Dhaanapaala . Vị ấy thốt lên câu kệ này, bắt đầu là, “tám mươi” để cho thấy tại sao cái tên đặc biệt ấy lại được cho đến vị ấy vào lúc bấy giờ.
5. Ở đây, TÁM MƯƠI CỖ XE (Asiiti saka .tavaahaana.m): hai mươi Khaarii lố hàng được kể là bằng một cỗ xe hàng. Tám mươi cỗ xe chất đầy vàng này và cũng vậy những kahapa”na thực ra là của tôi – Ðây là cách nên được hiểu. VÀNG CỦA TÔI CÓ NHIỀU (Pathuuta.m me jaataruupa.m): Nhiều vàng đến vô số Bhaara .
6. TÔI KHÔNG THÍCH BỐ THÍ (Na me daatu”m piya.m ahu): Tôi không thích cho ra những vật thí. E RẰNG NHỮNG NGƯỜI ĂN XIN SẼ TRÔNG TH?Y TÔI (Maa ma.m yaacanakaaddasum): Tôi đóng cửa nhà trước khi tôi ăn, vì nghĩ rằng những người ăn xin sẽ không được trông thấy tôi”.
7. KEO KIỆT (Kadariyo): vô cùng bần tiện. THÍCH CHỬI MẮNG (Paribhaasako): Khi ông ta trông thấy mọi người bố thí vật thực thì ông ta đe doạ. TRONG KHI HỌ ÐANG BỐ THÍ VÀ ÐANG THỰC HÀNH (Dadantaana.m karontaana.m): Ðây là sở hữu cách mang ý nghĩa về đối cách. Khi họ đang bố thí những vật thực và thực hành những việc phước. NHIỀU NGƯỜI (Bahujana.m): nhiều chúng sanh. Trong khi họ đang bố thí và làm phước, thì tôi có thói quen ngăn cản, tôi làm cản trở nhiều người, đông đảo những chúng sanh, không cho làm việc phước ấy.
8. “Không có kết quả từ sự bố thí v.v..- Ðây là câu giải thích những lý do của ông ta về việc ông ta ngăn cản những vật thí… Ở đây không có kết quả từ sự bố thí (Vipaako n’atthi daanassa): quả thật không có kết quả của sự bố thí. Ông ta giải thích rằng riêng phước là phước thôi và bố thí chỉ là sự mất mát của cải mà thôi. CỦA TỰ CHẾ (Samya nassa): tự chết trong điều học. KẾT QUẢ SẼ ÐẾN TỪ ÐÂU? (Kuto phala.m): quả thật vậy, kết quả sẽ có được từ đâu. Thọ trì những giới cấm là hoàn toàn vô ích. Ðây là ý nghĩa. NHỮNG HUÊ VIÊN (aaraamaani): Những rừng cây và những khu vườn khả ái. NHỮNG CHỖ CÓ NƯỚC Ở BÊN VỆ ÐƯỜNG (Papaayo): Những cái láng có nước uống. TẠI NHỮNG CHỖ MÀ KHÓ ÐI QUA (Dugge): Tại những chỗ mà khó đi tiếp do bởi nước và những vũng sình. NHỮNG CHIẾC CẦU (Sa.nkamanaani): Những con đường đắp cao.
9. “KHI TÔI MẠNG CHUNG TỪ CÕI ẤY (Tato Cuto): khi tôi mạng chung khỏi thế giới của loài người. NĂM MƯƠI LĂM: Pa~ncapa.n.naasa= Pa~ncapa~n~naasa (thể văn phạm hoán chuyển), từ khi tôi chết (Yato kaala”nkato aha.m ) từ khi tôi chết trở đi.
10. TÔI KHÔNG Ý THỨC ÐƯỢC (Nàbhijaanaami): Suốt thời gian ấy tôi không biết ăn và uống là gì cả. NGƯỜI MÀ BỊ KỀM HÃM ÐI ÐẾN CHỖ TIÊU HOẠI (Yo samyamo so vinaa so) bị kềm hãm bằng lối sống tham lam v.v… Bởi không bố thí đến ai cả – Ðiều ấy quả thật là sự tiêu hoại cho những chúng sanh như vậy mà trong đó, nó là nguyên sanh lên cảnh ngộ bi thảm lớn, phải sanh làm Ngạ quỷ trong cõi Ngạ quỷ. NGƯỜI MÀ ÐI ÐẾN CHỖ TÀN RỤI ÐÃ BỊ KỀM HÃM (Yo vinaaso sa.myamo): Bằng lời nói này, nó nói về tánh cách chắc chắn của sự kiện đã được nêu ra ở trên. TƯƠNG TRUYỀN RẰNG NHỮNG NGẠ QUỶ THẬT SỰ BIẾT RẰNG (Petaa hi kira jaananti): Chữ quả thật (hi) ở đây được dùng để nhấn mạnh, và những chữ “Tương truyền rằng”, (Ki ra) chỉ rõ rằng nó xuất phát từ tin đồn; kềm hãm, thiếu lòng quãng đại với những vật thí, là nguyên nhân gây ra sự suy sụp. Tương truyền rằng chỉ những Ngạ quỷ mới biết sự thật này vì chúng bị chế ngự bởi điều ấy. Chẳng phải loài người như vậy. Không thể xảy ra đối với ngay cả loài người, như những Ngạ quỷ, là được trông thấy bị chế ngự bởi cơn đói, và khát v.v… Tuy nhiên những Ngạ quỷ thì biết khá rõ về sự thật này vì chúng đã quen với những nghiệp mà chúng đã làm trong kiếp quá khứ. Vì lý do này chúng nói lên câu kệ này bắt đầu bằng: “Trong quá khứ tôi đã bị kềm hãm như vậy”
11. Ở đây, TÔI BỊ KỀM HÃM NHƯ VẬY (Sa.myamissa.m): Chính tôi cũng đã thực hành sự thu lại, co lại, đối với việc làm phước, bố thí v.v… DẦU NHIỀU CỦA CẢI (Bahuke dhane): dầu nhiều của cải được biết đến.
16. Do Ðó: Ta.m= Tasmaa (thể văn phạm hoán chuyển) ÐẾN CÁC NGƯỜI: Vo = Tumhe (Thể văn phạm hoán chuyển). NHỮNG LỜI CỦA TÔI ÐẾN CÁC NGƯỜI (Bhaddam vo): Những lời chúc lành, những mong ước tốt lành nhất của tôi và những may mắn tốt đẹp đến cho các người. Ðây là những chữ còn lại. MỖI NGƯỜI TRONG CÁC VỊ ÐÃ HỘI HỌP Ở ÐÂY (Yaavant’ ettha samaagataa): Mỗi người trong các ông, hết thảy những người đã cùng nhau đến đây, tất cả đều phải nghe điều mà tôi đã phải nói – đây là ý nghĩa. CÔNG KHAI (aavi). Ngoài trời, những người khác có thể trông thấy. KÍN ÐÁO (Raho): Che đậy, không thể thấy được như vậy. Ðừng phạm vào, đừng làm, một điều ác nào, điều đáng khinh, bất thiện dầu công khai bằng thân khẩu, như sát sanh nói dối v.v.., hay kín đáo bằng lòng tham lam v.v…
17. VÌ NẾU MỘT ÐIỀU ÁC (Sace ta.m paapaka.m ka.mma.m): vì nếu các bạn làm điều ác bây giờ, hay nếu các bạn làm điều ác trong tương lai, thời quả thật không có con đường trốn thoát, không có sự giải thoát khỏi đau khổ mà là quả của nó, như là những người mà sanh trong cõi khổ như Ðịa ngục v.v… Hay nếu ở trong cõi nhân loại, thì bị yểu thọ. CHO DÙ CÁC NGƯỜI CÓ BAY LÊN VÀ BỎ CHẠY (Upaccaa ‘pi palaayita.m): nghĩa là hiển nhiên không có con đường thoát khỏi cảnh khổ ấy dành cho các bạn đâu, ngay cả những người bay lên và đi xuyên qua hư không. Một số bài kinh cũng đọc là giải thoát (Upecca): vì nghiệp đã đến hồi trả quả khiến nó hằng đeo đuổi các bạn, dầu các bạn có trốn chạy bằng cách này hay cách khác cũng không có lối thoát khỏi trạng thái ấy dành cho các bạn, cho dù các bạn có cố ý muốn chạy trốn, nghĩa là điều ấy đơn giản là sẽ chín mùi khi có một sự kết hợp giữa những điều kiện cần thiết khác về nơi tái sanh và thời gian v.v… Sự kiện này cũng được giải rõ bằng câu kệ này: “Chẳng phải trên trời cao hay giữa biển sâu hay đi vào những hẻm núi đá, để trú thân mà có thể thoát khỏi hậu quả của những nghiệp bất thiện”.
18. HÃY TÔN KÍNH MẸ, (Mateyyaa): Vì lợi ích của mẹ mình. HÃY (Hotha): Hãy làm những công việc phụng dưỡng v.v… Ðến họ. HÃY TÔN KÍNH CHA (Petteyya): điều này nên hiểu giống như thế. HÃY TÔN TRỌNG CÁC VỊ TRƯỞNG THƯỢNG TRONG GIA ÐÌNH (Kule ja.t.thaapacaayikaa=Kule je.t.thakaana.m apacaayanataraa (Phối hợp cách). NHỮNG VỊ ẨN S~N (Saana~n~naa): Hãy tôn trọng những vị ẩn sĩ. Theo cách như thế CÁC BÀ LA MÔN (Brahma~n~naa): nghĩa là hãy tôn trọng những vị đã quăng bỏ những ác nghiệp. BẰNG CÁCH NÀY CÁC BẠN SẼ ÐI ÐẾN CÕI TRỜI (Eva.m sagga.m gamissatha): nghĩa là sau khi thực hành những việc phước ấy theo cách mà tôi đã giải thích thì các bạn sẽ sanh vào trong cõi Devaloka .
Bất cứ điều gì mà chưa giải rõ ý về ý nghĩa của nó ở đây thì nên hiểu đúng như đã được nêu ra ở Ngốc đầu quỷ sự v.v…
Sau khi nghe qua điều mà Ngạ quỷ đã phải nói, những thương nhân ấy, đầy xúc động và thương hại cho nó, bèn lấy một bát nước, bảo nó nằm xuống và rồi đổ nước vào miệng của nó. Sau đó, mọi người đã làm điều này nhiều lần, nhưng nước mà nó thèm khát không đi xuống được cuống họng của nó do vì quả của những ác nghiệp của Ngạ quỷ ấy. Như vậy làm sao để nỗi khao khát của nó được dập tắt? Họ hỏi nói xem liệu nó có được nguôi ngoai chút ít hay không. “Cho dù có nhiều người đổ nhiều lần vào miệng của tôi nhiều giọt nước, tuy nhiên vẫn sẽ không có lối thoát khỏi cõi Ngạ quỷ này được”. Nó nói. Khi những thương nhân nghe qua điều này, họ đầy xúc động và nói rằng, “Nhưng có cách gì khiến cơn khát của ngươi được được dập tắt không?” Ngạ quỷ nói rằng, “Khi ác nghiệp này gần hết và những vật thí đã được cúng dường đến Ðức Tathaagata hay những vị Saavaka của Ðức Tathaagata, và người ta hồi hướng phước thí ấy đến cho tôi, thời tôi sẽ được thoát khỏi cảnh Ngạ quỷ này”. Khi nghe qua điều này, những thương nhân ấy bèn đi đến Saavatthi, đi đến Ðức Thế Tôn và nêu vấn đề ấy với Ngài. Họ qui y Tam bảo và thọ trì ngũ giới, và trong bảy ngày dâng cúng vật thực cúng dường to lớn đến Chư Tăng có Ðức Phật dẫn đầu và hồi hướng phước thí đến Ngạ quỷ ấy. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh khởi và thuyết Pháp đến tứ chúng và nhờ thời pháp ấy mọi người từ bỏ bợn nhơ của lòng bỏn xẻn và tham lam v.v… Và lấy làm thoả thích trong những việc phước như bố thí v.v…
-ooOoo-
II.8 TIỂU THƯƠNG QUỈ SỰ
(CUULASE.T.THIPITAVATTHUUVA.N.NANAA)
“Thưa ông, ông là người mà đã xuất gia, bị trần truồng và gầy ốm”.
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở trúc Lâm viên, liên quan đến Ngạ quỷ Cuu.lase.t.thi .
Tương truyền rằng, tại Ba la nại có một vị Gia chủ tên là Cuulase.t.thi, là người chẳng có niềm tin cũng không có lòng tịnh tín, lại là người bần tiện và keo kiệt và không có sự kính trọng trong việc thực hành những việc Phước. Khi chết, ông ta tái sanh trong cõi Ngạ quỷ, đầu của ông ta trọc lóc, không có y phục và, thân thể thì không có thịt và máu đến nỗi chỉ còn da bọc xương và gân mà thôi. Tuy nhiên, đứa con gái aanulaa của ông ta, đang ở trong nhà của chồng nàng tại Andhakavinda, sửa soạn một số vật thí như cơm v.v… Với ước muốn tiếp đãi một số Bà la môn để cầu siêu cho cha của nàng. Khi ông ta biết được việc này, Ngạ quỷ ấy, đầy mong ước, bèn đi đến đó xuyên qua hư không, đến Raajagaha vào lúc mà vua Ajaatasattu đang đi tới đi lui ở tầng trên của cung điện, không thể ngủ được bởi vì lương tâm khó chịu do những cơn ác mộng, do sự xúi dục của Devadatta, sau khi giết chết phụ vương của vị ấy. Khi trông thấy con Ngạ quỷ ấy đi xuyên qua hư không, đức vua bèn hỏi nói bằng câu kệ này:
1. “Ngươi là kẻ đã xuất gia, bị trần truồng và gầy ốm, ngươi đang đi đâu vào lúc ban đêm và vì lý do gì? Hãy nói cho ta biết điều này- Chúng ta, nếu có khả năng, có thể tặng cho ngươi những vật sỡ hữu cùng với tất cả mọi thứ”.
Chú giải:
1. Ở đây, LÀ NGƯỜI ÐÃ XUẤT GIA (Pabbajito): là một Sa môn. Tương truyền rằng Ðức Vua đã nói rằng, “Ngươi là người đã xuất gia mà lại trần truồng và gầy ốm,” v.v… Khi cho rằng vị ấy là một Sa môn loã thể vì trạng thái trần truồng và cái đầu trọc lóc của nó. Ở đây, vì lý do gì? (Kissa hetu): vì sao? TA CÓ THỂ TẶNG CHO NGƯƠI HẾT THẢY VẬT SỞ HỮU (Sabba.m vitta.m patipaadaya tuva.m): ta có thể tặng cho ngươi, ta có thể kiếm cho ngươi, theo đúng với ước muốn của ngươi, những vật sở hữu, là những phương tiện nuôi sống để ngươi được thoải mái, cùng với tất cả những thứ có thể dùng được, hay nói cách khác, bằng tất cả thiết tha khả dĩ có được của ta, chắc chắn chúng ta có thể hành động theo cách này. Do đó, HÃY NÓI CHO TA BIẾT RÕ ÐIỀU NÀY (aacikkha me ta.m): nghĩa là hãy giải thích cho ta biết lý do tại sao ngươi đến.
Ðược hỏi như vậy bởi đức vua, Ngạ quỷ nói lên ba câu kệ giải thích tình cảnh của nó:
2. “Thành Ba la nại nổi tiếng ở từ đằng xa; và tôi là một gia chủ ở đó, thịnh vượng nhưng bần tiện. Tôi đã không bố thí, lại có tâm hưởng lạc. Do bởi ác hạnh khiến tôi phải đi đến cõi Yama.
3. Tôi bị kiệt quệ đến như cây kim do bởi những điều này; Vì chính lý do này, tôi đi đến những quyến thuộc của tôi để kiếm một cái gì đó để ăn, nhưng họ thiếu đức bố thí và không tin rằng có quả của sự bố thí trong kiếp sau.
4. Tuy nhiên, đứa con gái của tôi thường xuyên lẫm bẩm rằng, “Tôi sẽ cho những vật thí nhân danh cha và ông của tôi”. Những vị Bà-la-môn thì được hầu hạ sẵn cái mà nàng đã sửa soạn và tôi đang đi đến Andhakavinda để kiếm ăn.
Chú giải:
2. Ở đây, NỔI TIẾNG TỪ XA (Duuraghu.t.tha.m): Ðược tôn lên từ đằng xa bằng sự khen ngơị về những đặc tánh của nó, nghĩa là nổi danh khắp mọi nơi. THỊNH VƯỢNG (A.dhako = a.dho) (Thể văn phạm hoán chuyển), nghĩa là có sự thịnh vượng lớn. BẦN TIỆN (Diino): có tâm hẹp hòi, có tánh không bố thí. Vì lý do này mà nó nói rằng “Tôi đã không bố thí”. TÔI CÓ TÂM SAY MÊ ÁI LẠC (Gedhitamano aamisasmi.m): Tôi có khuynh hướng khao khát với tâm hay nghĩ đến sự thọ hưởng dục lạc. DO ÁC HẠNH ÐƯỢC LÀM, TÔI ÐÃ ÐẾN CÕI YAMA (Dussìlena yamavisaya.mhi patto). Do những hành động về ác hạnh được làm bởi tôi khiến tôi đến cõi yama, là cõi Ngạ quỷ.
3. TÔI BỊ KIỆT QUỆ ÐẾN BẰNG CÂY KIM (So suucikaaya kilamito): Tôi bị kiệt quệ, Tôi bị đâm chích liên tục, bởi cơn đói mà có tên gọi là “cây kim”, Về tánh chất, nó giống hệt như cây kim đâm chích vào người tôi. Thật ra cách đọc khác là sự kiệt quệ (Kilamatho). BỞI VÌ NHỮNG ÐIỀU NÀY (Tehi): do bởi những ác nghiệp nói trên là có tánh bần tiện v.v… Khi Ngạ quỷ nhớ lại những ác nghiệp ấy, nó trở nên vô cùng thất vọng và do đó nó nói như thế này: VÌ CHÍNH LÝ DO NÀY (Ten’eva): Do bởi sự đói khát này. TÔI ÐI ÐẾN NHỮNG QUYẾN THUỘC CỦA TÔI (~naatiiisu yaami): Tôi đi, tôi lên đường, đến trước mặt những quyến thuộc của tôi. ÐỂ KIẾM MỘT ÍT GÌ ÐÓ ÐỂ ĂN (aamisakincihetu): Vì một lượng nhỏ vật thực, nghĩa là khao khát một ít vật thực. Nhưng họ thiếu đức quảng đại và không tin rằng có qủa phước nào đó của sự bố thí trong cõi kế đến (adaanasiilà na ca saddahanti, ‘Daanapphala.m hoti para.mhi loke”): Như đối với tôi, cũng vậy trong cùng cách ấy, những người khác cũng thiếu đức quảng đại và không tin rằng chắc chắn có quả phước nào đó của sự bố thí trong thế giới sau. Do bởi điều này, như tôi, họ cũng sẽ trở thành những Ngạ quỷ và sẽ trải qua đau khổ lớn – Ðây là ý nghĩa.
4. Lẩm bẩm (Lapate): Nói chuyện. THƯỜNG XUYÊN: Abhikkhana.m = Abhi.nha.m (Thể văn phạm hoán chuyển), lập đi lập lại. Nàng lẩm bẩm cái gì? Nàng nói rằng, “Tôi sẽ cho những vật thí dành cho những người cha và ông của tôi.” ở đây ÐẾN NHỮNG NGƯỜI CHA (Piitunna.m): Ðến cho cha mẹ của tôi, hay đến cho những người anh hay em của cha tôi. Ðến những người ông. (Pitaamahaana.m): Ðến những người ông và những người cố của tôi. ÐANG ÐƯỢC DÂNG ÐẾN (Pavivisayanti): Ðược cho ăn. ÐẾN ANDHAKAVINDA (Andhakavinda.m): Ðến thành phố có tên ấy. ÐỂ ĂN: Bhottu”m = Bhuu~njitu”m (Thể văn phạm hoán chuyển).
Từ đây trở đi là những câu kệ được nói bởi những vị kiết tập Tam Tạng..
5. Ðức vua nói với nó rằng: ” Sau khi ngươi đã ăn cái đó, ngươi hãy trở lại đây nhanh; ta cũng sẽ cúng dường. Hãy nói cho ta biết liệu có điều kiện nào vì chúng ta muốn lắng nghe một câu nói nào đó về những điều kiện mà có thể tin được!”
6. “Chắc vậy”, nó nói và ra đi. Nhưng những người ăn vật thực ở đó thì không xứng đáng thọ lãnh những vật thực cúng dường. Bởi vậy một lần nữa nó trở lại Rà jagaha và xuất hiện trước mặt chúa của loài người.
7. Khi thấy rằng Ngạ quỷ ấy đã trở lại, đức vua bèn nói rằng, “Ta sẽ cho cái gì? Hãy nói cho ta biết liệu có điều kiện nảo khả dĩ ngươi có thể được hạnh phúc trong một thời gian dài về sau”.
8. “Khi Ðại vương đã dâng cúng đến Ðức Phật và Chư Tăng vật thực cùng với thức uống và y phục, tâu bệ hạ, thời hãy hồi hướng phước thí ấy vì lợi ích của tôi. Bằng cách này, tôi có thể được hạnh phúc trong một thời gian dài trong tương lai”.
9. Do đó, đức vua đi xuống và ngay tức thì tự tay dâng cúng những vật thí vô song đến chư Tăng; vị ấy thuật lại sự việc ấy đến đức Tathaagata và hồi hướng phước thí ấy đến cho Ngạ quỷ.
10. Ðược tôn trọng như vậy và với tướng mạo sáng chói vô cùng, nó xuất hiện trước mặt chúa của loài người và nói rằng, “Bây giờ tôi là một Yakkha có thần thông cao cả nhất. Không có những kẻ nào giống hay bằng tôi về năng lực hay thần thông.
11. Hãy xem sự vinh quang vô hạn này của tôi được hồi hướng đến bởi Ðại vương, sau khi Ðại vương đã cúng dường vô song thí đến chư Tăng. Tôi sẽ được thoả mãn, tiếp tục và luôn luôn dồi dào và sẽ sống hạnh phúc, hỡi Deva của loài người!”
Chú giải:
5. Ở đây, ÐỨC VUA NÓI VỚI VỊ ẤY (Ta.m avoca raajaa): Vua Ajaatasattu nói với Ngạ quỷ lúc nó vẫn còn đứng sau khi nói theo cách ấy: SAU KHI NGƯOI ÐÃ THỌ LÃNH CÁI ÐÓ (Anubhaviyaana Tam pi). Sau khi ngươi đã thọ lãnh những vật thí mà đã được sửa soạn sẵn bởi con gái của ngươi. NGƯƠI NÊN TRỞ LẠI (Eyyaasi) ngươi nên trở lại. SẼ LÀM: Karissa.m = Karissaami (Thể văn phạm hoán chuyển). HÃY NÓI CHO TA BIẾT XEM CÓ ÐIỀU KIỆN NÀO (aacikkha me ta.m yadi atthi hetu): Hãy nói cho ta biết, hãy giải thích cho ta nghe, xem có cách nào không. MÀ CÓ THỂ TIN ÐƯỢC (Sadhaayita.m) nghĩa là phải phải tin . BẤT CỨ CÂU NÓI NÀO VỀ NHỮNG ÐIỀU KIỆN (Hetuvaco) Bất cứ câu nói nào liên quan đến nguyên nhân, hãy lập lại một câu nói cùng với những phương tiện của nó, như “Cái đó sẽ có lợi ích cho tôi khi một vật thí được thực hiện ở một chỗ đó đó và bằng cách như thế như thế.”
6. “CHẮC VẬY”, VỊ ẤY NÓI (Tathaati vatvaa): “Tốt lắm”, vị ấy nói. Ở ÐÓ (Tattha): Tại andhakavinda, chỗ mà vật thực đang được cúng dường. NHƯNG NHỮNG NGƯỜI MÀ ĂN NHỮNG VẬT THỰC THÌ KHÔNG XỨNG ÐÁNG THỌ LÃNH SỰ CÚNG DƯỜNG ẤY (Bhu~njimsu bhatta.m Na ca pana dakkhinaarahaa): Những người mà ăn vật thực là những vị Bà la môn có ác hạnh, nghĩa là những người mà ăn nó thì không có giới đức và không xứng đáng thọ lãnh sự cúng dường. MỘT LẦN NỮA: Punaapara.m=Puna apara.m (phối hợp cách), nó liền trở lại Raajagaha một lần nữa
7. TA NÊN CHO CÁI GÌ? (Kim dadaami): Ðức vua hỏi Ngạ quỉ, “Ta nên cho ngươi loại vật thí nào?” NHỜ ÐÓ NGƯƠI (Yena tuva.m): Bằng cách đó, ngươi. TRONG MỘT THỜI GIAN DÀI VỀ SAU (ciratara.m): Trong một thời gian lâu. HẠNH PHÚC (Pìnito): làm sao ngươi có thể được vừa lòng, nghĩa là hãy giải thích điều này.
8. KHI ÐẠI VƯƠNG DÂNG CÚNG (Parivisayaana): Khi bệ hạ đã cho ăn. TÂU BỆ HẠ (Raaja): Nó nói với Ajaatasattu . VÌ LỢI ÍCH ÐẾN CHO TÔI (Me hitaaya): Vì lợi ích của tôi, vì sự giải thoát khỏi trạng thái sanh làm Ngạ quỉ của tôi.
9. DO ÐÓ (tato): Vì lý do này, do bởi câu nói ấy; hay nói cách khác, từ đó (tato): Từ chỗ đó. ÐI XUỐNG (Nipatitvaa): Ði ra, NGAY TỨC THÌ (taava – d- eva) Ngay khi ấy, ngay lúc mà mặt trời đang mọc. Ðức vua cúng dường vật thực trong cùng buổi sáng mà Ngạ quỉ trở lại và hiện ra trước mặt đức vua. BẰNG CHÍNH TAY CỦA VỊ ẤY: sahatthaa = sahatthena (thể văn phạm hoán chuyển). VÔ SONG (Atula.m): không thể đo lường được, tốt nhất, hảo hạng. CHO ÐẾN CHƯ TĂNG: daditvaa sa.nghe = sa.nghassa datvaa (Thể văn phạm hoán chuyển). VỊ ẤY KỂ LẠI SỰ KIỆN VỚI ÐỨC TATHÀGATA (aarocayi pakati.m tathaagatassa): Vị ấy thuật lại tin về sự kiện ấy với Ðức Thế Tôn khi nói rằng, “bạch Ðức Thế Tôn, vật thí này được làm kiên quan đến một Ngạ quỉ nọ”. VÀ KHI VỊ ẤY ÐÃ KỂ LẠI ÐIỀU NÀY, VỊ ẤY HỒI HƯỚNG (aadisiddha=aadisi) Thể văn phạm hoán chuyển) sự cho đến Ngạ quỉ ấy bằng chính cách mà vật thí ấy có lợi cho nó.
10. NÓ (so): Ngạ quỉ. TÔN TRỌNG (puujito): Cúng dường bằng vật thí đã được cho. VÔ CÙNG SÁNG CHÓI (Ataviya sobhamaano): Vô cùng rực rỡ với hào quang của chư Thiên. NÓ XUẤT HIỆN (paaturahosi= Paatubhavi) (thể văn phạm hoán chuyển): Nó hiện ra trước đức vua. BÂY GIỜ TÔI LÀ YAKKHA (yakkho’ham asmi): Sau khi đã thóat khỏi kiếp sống ngạ qủy, tôi đã trở thành một vị Yakkha, Tôi đã đạt đến trạng thái Devataa KHÔNG CÓ NGƯỜI NÀO GIỐNG HAY BẰNG TÔI VỀ NĂNG LỰC HAY THẦN THÔNG (Na mayha.m iddhisa masadisaa manussaa): Không có những người nào mà giống như tôi về sự thù thắng này trong những vật sở hữu hay bằng tôi về sự vinh quang thù thắng này.
11. HÃY XEM OAI LỰC VÔ HẠN NÀY CỦA TÔI (Passaanubhaava.m aparimita.m mamayida.m): khi cho đức vua trông thấy sự vinh quang của chính nó, nó nói rằng, “Hãy xem oai lực chư Thiên vô hạn này của tôi. ÐƯỢC HỒI HƯỚNG BỞI BỆ HẠ SAU KHI BỆ HẠ ÐÃ CÚNG DƯỜNG VÔ SONG THÍ ÐẾN CHƯ TĂNG (tayaa nudittha.m atula.m daditvaa sa.nghe): Sau khi bệ hạ đã cúng dường những vật thí thượng vị vô song đến chư Thánh tăng, chúng được hồi hướng bởi Ngài, vì lòng bi mẫn đối với tôi. TÔI SẼ ÐƯỢC THOẢ MÃN, TIẾP TỤC VÀ LUÔN LUÔN, DỒI DÀO (Santappito satata.m sadaa bahuuhi): Tôi sẽ được thoả mãn, tôi sẽ được hạnh phúc, liên tục không gián đoạn, và luôn khi, suốt mọi khi, chừng nào đời sống của tôi còn tồn tại ngay tại đó, vì ngài đã làm thoả mãn những vị Thánh tăng bằng nhiều vật thực cúng dường như vật thực, thức uống và y phục v.v… TÔI SẼ SỐNG HẠNH PHÚC, HỠI DEVA CỦA LOÀI NGƯỜI (yaami aha.m sukhito manussadeva): Nó cáo từ đức vua khi nói rằng, “do đó, bây giờ tôi được hạnh phúc, hỡi vị deva trong nhân loại, hỡi đại vương, và tôi sẽ ……thích” tôi sẽ đi đến bất cứ chỗ nào mà tôi thích.
Khi Ngạ quỉ đã ra đi sau khi cáo từ như vậy, vua Ajaatasattu nêu lên vấn đề ấy với các vị Tỳ kheo. Các vị Tỳ kheo đi đến Ðức Thế Tôn và nêu vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh khởi và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Khi họ đã nghe qua thời pháp này, thì họ từ bỏ bợn nhơ của lòng bỏn sẻn và thoả thích trong những việc phước như bố thí v.v…
-ooOoo-
[2.4]
II.9 QUỈ SỰ VỀ ANKURA
(A”NKURA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Chính mục đích ấy mà chúng tôi đang đi”.
Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Saavatthi, liên quan đến một peta tên là A”nkura . Trong trường hợp này, A”nkura đúng ra không phải là một Peta, nhưng vì những việc làm của vị ấy liên quan đến một Peta; Do đó câu chuyện này được gọi là A”nkura quỉ sự. Ðây là câu chuyện tóm tắt.
Trong thành phố Asita~njana ở vùng Ka.msabhoga thuộc xứ Uttaraapatha, có sanh đến cho upasaagara, đứa con trai của vua Mahaasaagara, là người cai trị vương quốc Uttaramadhuraa, và đến cho Devagabbhaa, đứa con gái của Mahaaka.msaka (những đứa bé sau đây:) một đứa con gái là A”njanadevii và mười người anh của nàng là Vaasudeva, Baladeva, candadeva, suriyadeva, Aggideva, varunadeva, Pajjuna, Ajjuna, gha.tapa.n.dita và A”nkura – Cả thảy là mười một vị Sát Ðế Lỵ. Bắt đầu từ kinh đô Asita~njana, Vaasudeva và những người em của vị ấy, bằng những cái đĩa, đã tiêu diệt các vị vua trong sáu mươi ba ngàn thành phố của tòan cõi Diêm Phù Ðề, kết thúc tại Dvaaravatii . trong khi đang trú ngụ tại Dvaaravatii, họ chia vương quốc ra thành mười phần. Tuy nhiên họ đã quên phần cho đứa em gái A~njanadevii của họ, và khi sực nhớ đến nàng, họ bèn nói rằng, “chúng ta sẽ chia nó thành mười một phần”, nhưng A”nkura, là đứa con trai nhỏ nhất nói rằng, “Các anh có thể cho nàng phần của tôi. Tôi sẽ kiếm sống bằng nghề buôn bán, và các anh có thể gởi đến cho tôi những món tiền thuế thu được từ những vùng của các anh”. “tốt lắm”, họ đồng ý và sau khi đã cho phần chia của A”nkura đến em gái của họ, thì chín vị Vua cùng sống chung tại Dvaaravatii . Tuy nhiên A”nkura thì mãi mê trong việc buôn bán và thường xuyên tổ chức những cuộc bố thí lớn. Bấy giờ, vị ấy có một người nô lệ làm viên giữ kho của vị ấy và là người có sự vui thích trong tâm. Với lòng tịnh tín trong tâm, A”nkura kiếm về một người con gái của một gia đình tốt và gả nàng cho vị ấy. Vị ấy chết ngay khi đứa con trai của vị ấy đang sanh ra và A”nkura, vào lúc sanh, đã cho cậu bé vật thực và sự hưởng công mà vị ấy đáng ra phải trả cho cha của nó. Rồi khi cậu bé đến tuổi trưởng thành, vấn đề sanh lên trong hoàng gia rằng, liệu cậu ta có phải là một nô lệ hay không. Khi A~njanadevii nghe tin này, nàng nêu gương con bò cái và giải thoát cho anh ta khỏi tình trạng nô lệ khi nói rằng, “Ðứa con trai của một người đàn bà tự do thì chính người ấy cũng là người tự do”. Nhưng chàng trai vì xấu hổ, không thể cam tâm sống ở đó được, bèn đi đến kinh đô Bheruva, là nơi mà anh ta kết hôn với đứa con gái của một người thợ may, và kiếm sống bằng nghề thợ may. Lúc bấy giờ, trong kinh đô Bheruva có một thương nhân giàu có tên là Asayhamahaase.t.thi, là người cúng dường những vật thực to lớn đến các Sa môn và Bà la môn, những người nghèo khổ, những người sống lang thang, những người lữ hành và những người ăn xin. Người thợ may đầy hoan hỷ và hạnh phúc, thường đưa lên cánh tay phải của ông ta và chỉ về chỗ ngụ của Asayhamahaase.t.thi cho những người mà không biết ngôi nhà của vị thương nhân giàu có, khi nói rằng, “Hãy đi đến đó và kiếm bất cứ cái gì có thể dùng được”.
Những việc làm của ông ta được ghi lại trong kinh tạng. Trải qua một thời gian dài, ông ta chết và sanh trong một khu rừng hoang, làm một vị Devataa trong một cây đa, có cánh tay phải cho ra những ước muốn. Bấy giờ cũng tại Bheruva, có một người đàn ông chuyên trông coi những vật thí của Asayhase.t.thi, nhưng chính ông ta thì không có niềm tin cũng không có lòng tịnh tín, có tà kiến và không có lòng kính trọng trong việc phước. Khi ông ta chết ông ta sanh làm một Ngạ quỉ không cách xa chỗ ngụ của vị devaputta ấy. Những việc mà ông ta đã làm được ghi lại trong kinh tạng. Khi Asayhaase.t.thi chết ông ta ra đi cọng trú với sakka, vua của chư Thiên, trong cõi ba mươi ba.
Bấy giờ sau một thời gian, a.nkura mang những hàng hoá của ông ta trên năm trăm cỗ xe, một vị Bà la môn nọ cũng mang theo hàng hoá của ông ta trên năm trăm cỗ xe. V?i một ngàn cỗ xe này, hai người đi vào con đường trong một khu rừng hoang và bị lạc đường. Sau khi đi lang thang quanh quẩn ở đó trong nhiều ngày, họ hết cỏ, nước và vật thực. A”nkura sai những sứ giả cỡi ngựa đi tìm nước trong bốn hướng. Rồi vị yakkha ấy, với cánh tay mà có thể ban ra những ước muốn, trông thấy cảnh ngộ mà họ đã lâm vào và khi nhớ đến một vài sự giúp đỡ mà A”nkura đã làm cho vị ấy trong những ngày trước kia, bèn nghĩ rằng, “À được, ta phải giúp vị ấy?” và chỉ cho vị ấy trông thấy cây đa, nơi mà vị chư Thiên ấy sống. Tương truyền rằng, cây đa ấy có nhiều nhánh và lá sum suê, với những tàn lá dày đặc cho bóng mát và có vô số ngàn chồi non dài một do tuần, bề rộng và bề cao cũng vậy. A”nkura vô cùng sung sướng khi trông thấy nó và cắm trại ở dưới gốc cây ấy. Vị Yakkha đưa lên cánh tay phải và trước hết cho mọi người uống nước no đủ, sau đó cho đến bất cứ ai bất cứ cái gì cần đến. Khi những người ấy đã được làm thoả mãn bằng nhiều loại đồ ăn và thức uống v.v… Như họ mong ước và hết mệt mỏi do đi đường xa, vị thương nhân Bà la môn ấy, bằng sự suy luận bất chánh, đã suy nghĩ rằng, khi chúng ta đã đi từ đây đến kampija để tìm kiếm của cải, thời chúng ta sẽ làm gì? Nhưng nếu bây giờ chúng ta bắt vị Yakkha này bằng một mưu mẹo nào đó và để vị ấy vào trong xe thời chúng ta mới có thể trở lại chính thành phố của chúng ta”. Với ý nghĩ này trong tâm vị ấy nói lên hai câu kệ để cho a.nkura biết mưu kế của vị ấy:
1. Xét thấy rằng chúng ta đi đến Kamposa vì mục đích tầm cầu của cải, nhưng muốn đạt được mục đích phải nhờ vào vị Yakkha hằng ban cho những điều mong ước, sống ở cây đa này; vậy chúng ta hãy đem theo vị yakkha này!
2. Khi chúng ta đã mang được vị Dạ xoa này đi, hoặc là do sự bằng lòng của vị ấy hoặc bằng sự cưỡng bách, và để vị ấy vào trong một cỗ xe, thời chúng ta có thể đi nhanh đến Dvaaraka .
Chú giải:
1. Ở đây, MỤC ÐÍCH MÀ NHỜ ÐÓ (yassa atthaaya): Lý do mà nhờ đó. ÐẾN KAMBOJA (Kamboja.m): đến vương quốc của kamboja . NHỮNG NGƯỜI TẦM CẦU CỦA CẢI (dhanahaaraka) tìm cách để kiếm của cải bằng sự mua bán hàng hoá. HẰNG CHO RA NHỮNG ÐIỀU MONG ƯỚC (kaamadado): Hằng cho ra bất cứ cái gì được ưa thích. YAKKHA (yakkho): Deva putta. Chúng ta hãy đem theo (Niiyaamase = Nayissaama) (Thể văn phạm hoán chuyển).
2. VỚI SỰ BẰNG LÒNG CỦA VỊ ẤY (….): sadhukena (….): Bằng sự nài xin vị ấy. BẰNG ÁP LỰC (Pasayha): Sau khi ép vị ấy bằng cách dùng sức mạnh. TRÊN MỘT CỖ XE (yaana.m): trên một chiếc xe thuận tiện. ÐẾN DVAARAKA (dvaaraka.m): đến thành phố dvaaravatii . Ý nghĩa ở đây là: Chúng ta muốn đi từ đây Kampoja vì một mục đích. Mục đích ấy, sẽ được nhận ra bằng chuyến đi xa ấy, có thể được hoàn thành ngay tại đây. Ðây là vị Dạ xoa có thể ban cho mọi điều mong ước. Do đó, chúng ta sẽ nài xin vị Dạ xoa này, và tiến hành bằng sự bằng lòng của vị ấy hay, nếu vị ấy không được thuyết phục, thời chúng ta sẽ đặt vị ấy trong cỗ xe bằng cách dùng sức mạnh, trói vị ấy ở buồng sau trong chiếc xe, và rồi đi nhanh mang theo vị ấy từ đây đến Dvaaravatii .
Tuy nhiên khi vị Bà la môn đã nói vậy, thì A”nkura, kiên cố trong pháp của bậc chân nhân, đã nói lên câu kệ này để phản đối điều đã được nói ra:
3. Người không nên bẻ gãy những nhánh của cây mà người đã ngồi ở dưới bóng mát của nó, vì làm hại một người bạn quả thật là một điều ác.
Chú giải:
3. Ở đây, NGƯỜI KHÔNG NÊN BẺ GÃY (Na bhanjeyya): Người không nên chặt đứt. LÀM HẠI CHO MỘT NGƯỜI BẠN: Mittadubbho = Mittesu dubbhana.m (phối hợp cách), gây tai hại cho chúng. Sẽ là một việc ác (paapako): Làm tổn thương một người bạn sẽ không may mắn. Cây mà bóng mát của nó giúp xua tan cơn mệt của người bị nắng nóng – Người cũng không nên nghĩ xấu cho nó, đối với những chúng sanh hữu tình thì còn tệ hơn biết bao nhiêu nữa? Bấy giờ vị chư Thiên này là một thiện nhân đã có tâm tri ân lớn, đã giúp đỡ chúng ta làm vơi giảm nỗi đau khổ. Người không nên nghĩ sẽ làm điều gì tai hại cho vị ấy. Chắc chắn người ấy nên được tôn kính thì đúng hơn – đây là điều mà vị ấy đã nêu ra.
Khi nghe qua điều này, vị Bà la môn, khi dựa vào quy tắt khéo được thành lập rằng xử dụng hành động đạo đức giả để tiêu diệt là nền tảng của sự thành công, bèn thốt lên câu kệ này khi đặt mình vào vị trí đối lập với A”nkura:
4. Người nên đốn hạ thân của cây mà người đã ngồi hay nằm ở dưới bóng mát của nó, nếu người ấy cần đến nó.
Chú giải:
4. Ở đây, NẾU THÂN CÂY ẤY LÀ NHU CẦU CỦA NGƯỜI (attho ce taadiso siyaa): nếu nhu cầu của người là muốn được đống thân cây ấy, thì người nên đốn hạ ngay cả thân của cây ấy, như thế những nhánh của nó thì sá gì – đây là ý nghĩa.
Khi vị Bà la môn đã nói theo cách này, thì A”nkura nói lên câu kệ này để đề cao pháp của Bậc thiện nhân:
5. Người không nên làm hại những lá của cây mà người đã ngồi hay nằm dưới bóng mát của nó, vì kẻ làm hại một người bạn thì quả thật là người độc ác.
Chú giải:
5. Ở đây, NGƯỜI KHÔNG NÊN LÀM HẠI NHỮNG NGỌN LÁ (na tassa patta.m hi.mseyya): Người không nên làm cho rụng xuống ngay cả một ngọn lá của cây, chớ đừng nói gì những nhánh của nó – đây là ý nghĩa.
Vị Bà la môn lại nói lên một câu kệ để đề cao quan điểm của ông ta:
6. Người nên nhổ lên cây ấy ngay cả với những chồi rễ của nó, nhổ lên cây mà người ấy ngồi hay nằm dưới bóng mát của nó, nếu đó là nhu cầu của vị ấy.
Chú giải:
6. Ở đây, NGƯỜI NÊN NHỔ NÓ LÊN CÙNG VỚI CẢ NHỮNG RỄ CỦA NÓ (samuula.m pi ta.m abbuyha): Người nên nhổ nó lên ở đó, nghĩa là, bứng nó lên, cùng với cả những rễ của nó, kéo theo những rễ của nó:
Khi vị Bà la môn đã nói theo cách này thì A”nkura bèn nói lên ba câu kệ, vì muốn làm cho quan điểm của vị Bà la môn trở nên vô nghĩa:
7. Người không nên mưu tính làm một điều ác ngay cả trong tâm của mình để chống lại người mà mình đã ở lại đêm trong nhà của người kia, và là chỗ mà người ấy đã có được đồ ăn và thức uống – sự tri ân được các Bậc thiện Nhân hằng khen ngợi.
8. Người không nên mưu tính một việc ác ngay cả trong tâm của mình để làm hại người mà người ấy đã ở lại trong nhà của người mà mình đã được tiếp đãi bằng đồ ăn và thức uống – cánh tay không chìu theo điều ác sẽ đốt cháy kẻ làm hại bạn của mình.
9. Người mà trước kia đã được người ta ban cho một điều khả ái và về sau người ấy làm hại ân nhân của mình bằng một việc ác, người ấy là người làm hại kẻ vô tội, người ấy sẽ không thấy điều may mắn.
7. DẦU TRONG MỘT ÐÊM (ekarattimpi): người ấy đã ở lại trong nhà của người kia dầu chỉ trong một đêm rất ngắn ngủi. NƠI MÀ NGƯỜI ẤY ÐÃ ÐƯỢC ÐỒ ĂN VÀ THỨC UỐNG (Yatthi annapaana.m puriso labhetha): trước mặt người ấy, bất cứ ai cũng được đồ ăn và thức uống hay một sự nuôi ăn nào đó. MỘT NGƯỜI KHÔNG NÊN MƯU TÍNH MỘT VIỆC ÁC NGAY CẢ TRONG TÂM MÌNH ÐÊ LÀM HẠI NGƯỜI KIA (Na tassa paapa.m mamasaa pi cetaye): Một người không nên nghĩ, không nên mong muốn điều xấu hay ác cho ân nhân của mình ngay cả trong tâm của mình, đừng nói gì dùng thân và khẩu để làm hại. Tại sao vậy? SỰ THI ÂN ÐƯỢC CÁC BẬC THIỆN NHÂN HẰNG KHEN NGỢI (Kata~n~nutaa sappurisehi va.n.nitaa) ngươi có sự tri ân quả thật được chư Phật v.v… Tán dương, là người tối thắng nhất trong những bậc chân nhân.
8. ÐÃ ÐƯỢC TIẾP ÐÃI (Upa.t.thito): Ðược cung cấp bằng đồ ăn và thức uống, đã được hầu hạ bằng những lời “hãy lấy cái này, hãy ăn cái này” CÁNH TAY KHÔNG CHÌU THEO ÐIỀU TỔN HẠI (adubbhapaanii): Cánh tay không quen hại người, cánh tay được kềm chế. ÐỐT CHÁY KẺ LÀM HẠI MỘT NGƯỜI BẠN (Dahate mitta dubbhi.m): Nó đốt cháy, nó tiêu diệt, kẻ hại một người bạn. Một tội lỗi, đã gieo nên, nhắm đến những người mà có những thiện ý và không lỗi lầm, do bởi một người khác, sẽ đem lại sự suy sụp cho chính người kia, không có sự ngoại lệ nào. Về nội dung thực tiễn của nó, người mà không có lỗi quả thật đốt cháy người kia. Vì lý do này, Ðức Thế Tôn nói rằng, “Người mà làm hại kẻ không lỗi lầm, bậc thanh tịnh và không có sự chê trách, thời điều ác ấy sẽ dội ngược lại chính kẻ ngu ấy như bụi tung ngược chiều gió”.
9. NGƯỜI MÀ TRƯỚC KIA ÐƯỢC NGƯỜI TA BAN CHO MỘT HÀNH ÐỘNG KHẢ ÁI (Yo pubbe katakalyaano) Người mà đã được người ta đem đến một vài điều tốt, được giúp đỡ bởi một người có giới đức nào đó. VÀ NGƯỜI MÀ VỀ SAU LÀM HẠI ÂN NHÂN CỦA MÌNH BẰNG MỘT VIỆC ÁC (Pacchaapaapena himsati): Và người mà trong một thời điểm tương lai nào đó giáng xuống một hành động ác, sự rủi ro, điều xấu, đến người đã thi ân cho người ấy. LÀ NGƯỜI BỊ BÀN TAY SẠCH TIÊU DIỆT (allapaa.nihato poso): người ấy bị tiêu diệt, người ấy bị giáng xuống, theo cách như đã kể trên, do bởi chính sự thự hành việc thi ân bởi bàn tay sạch, bởi người mà đã thi ân cho người ấy, khi làm như vậy bằng bàn tay sạch, bàn tay đã được rữa sạch, hay nói cách khác chính bàn tay sạch của người ấy đã bị tiêu diệt, rồi nó bị tiêu diệt, vì người ấy đã tấn công kẻ đã thi ân cho mình; người ấy là một kẻ vô ân. Người ấy sẽ không thấy điều may mắn (Na so shadraani passati): Loại người đã được giải rõ như vậy sẽ không thấy, tức là, không tìm thấy, sẽ không có được, hạnh phúc ở trong đời này hay đời sau.
Vị Bà la môn bị đánh bại như vậy bởi A”nkura bằng sự đề cao thiện nhận pháp, chẳng nói thêm một lời nào nữa và nín thinh. Tuy nhiên, khi đã nghe cuộc nói chuyện qua lại này giữa hai người trong bọn họ và, dầu tức giận vị Bà la môn, vị yakka vẫn nghĩ rằng, “Bây giờ cứ để như thế, về sau ta sẽ quyết định điều gì nên làm đối với vị Bà la môn độc ác này”, và rồi nói lên câu kệ này để cho thấy phạm vi không thể thắng phục vị ấy bởi bất cứ một người nào khác:
10. Chẳng phải deva hay người hay quyền lực nào khiến ta dễ dàng bị nhiếp phục – ta là một Yakkha, đã đạt đến năng lực thần thông cao tột, quảng đại và có sắc đẹp cùng sức mạnh.
Chú giải:
10. Ở đây, BỞI DEVA (Devena): Bởi bất cứ vị chư Thiên nào. BỞI NGƯỜI (Manussenavaa): Hạng người như thế cũng được áp dụng ở đây. CŨNG CHẲNG PHẢI QUYỀN LỰC NÀO (Issariyenavaa) cũng chẳng phải bằng quyền lực cai trị chư Thiên hay bằng quyền lực thống trị loài người – sự thống trị các chư Thiên nghĩa là bằng năng lực chư Thiên của bốn vị thiên vương Sakka, Suyaama và những vị khác nữa, trong khi sự thống trị loài người nghĩa là năng lực xuất phát từ những việc phước của một vị chuyển luân vương. Do đó bằng sự thống trị bao gồm những người có đại oai lực ở trong chúng chư Thiên và nhân loại. Ngay cả những vị chư Thiên có đại oai lực cũng không thể chinh phục những người mà đã được nâng đỡ bằng quả của những việc phước của họ và khi không thể bị đánh bại bởi những phương tiện ấy, như vậy thì những người khác làm gì được. Hạm (không dịch được) là tiểu từ không biến đổi, chỉ về sự bất khả năng. KHÔNG DỄ DÀNG NHIẾP PHỤC ÐƯỢC (Na suppasayho): Không thể tiêu diệt được. TA LÀ MỘT YAKKHA ÐÃ ÐẠT ÐẾN NĂNG LỰC THẦN THÔNG CAO TỘT (Yakkho ha.m asmi paramiddhipatto): Bằng chính những việc phước của ta, ta đã đi vào trạng thái của một vị Yakkha. Không có ai mà bằng với một yakkha như ta cả. Hơn nữa, ta đã đạt đến thần thông cao tột. Ta có thần thông tối thượng của một vị yakkha. CÓ SẮC ÐẸP VÀ SỨC MẠNH (Va.n.nabalupapanno): Có được, sở hữu, sắc đẹp và sức mạnh thể xác. Bằng Mantra, gồm ba chữ này vị ấy có thấy tánh chất bất khả thuyết phục chính vị ấy. Toàn hảo về sắc tướng, vị ấy được tôn kính bởi những kẻ khác; bởi vì vi ấy có sắc đẹp ấy nên không bị làm thất bại bởi những kẻ phi thường. Tánh cách sở hữu những tướng tốt ấy được xem là lý do về tánh bất khả thuyết phục của vị ấy.
Từ đây trở đi có một cuộc trao đổi chuyện trò bằng mười sáu câu kệ, giữa A”nkura và vị Devaputta:
11. Bàn tay của ngươi hoàn toàn bằng vàng, là cái chứa đựng của bộ năm, và có mật ong chảy ra, nước trái cây có nhiều hương vị khác nhau – Tôi nghĩ rằng Ngài phải là một Purindada “.
12. “Tôi không phải là Deva hay Gandhabba, cũng chẳng phải là Sakka Purindada ; là một Peta mà Ngài sẽ biết tôi, này A”nkura này người đến đây từ Bheruva “
13. “Hạnh kiểm và tánh nết của Ngài như thế nào trước kia khi Ngài còn ở Bheruva? Ðiều phước cho kết quả trong bàn tay này là do bởi loại phạm hạnh nào?”
14. “Trước kia tôi là một người thợ may ở trong thành bheruva, lúc bấy giờ tôi chịu khó khăn lớn và sống cuộc đời rất cực khổ. Tôi chẳng có gì để bố thí
15. Nhưng tiệm may của tôi thì ở rất gần Asayha, là người có đức tin và là bậc thầy trong việc bố thí, một người có lương tâm,đã thực hành những việc phước.
16. Những người ăn xin và những người đi đường thuộc nhiều bộ tộc khác nhau thường đi đến đó và họ cũng thường hỏi tôi về chỗ ngụ của Asayha rằng, “Xin chúc lành đến Ngài! Chúng tôi nên đi đâu,những vật thí được cho ra ở đâu?”
17. Khi được hỏi như vậy, tôi thường đưa lên cánh tay phải cuả tôi và chỉ về chỗ ngụ của Asayha cho họ thấy và nói rằng, “Xin chúc lành đến các người! các người nên đến đó, vật thí được cho ra ở đó tại chỗ ngụ của Asayha”.
18. Vì lý do này khiến bàn tay của tôi ban ra những điều mong ước, vì lý do này khiến bàn tay của tôi có mật ong chảy ra, điều phước mà cho kết quả trong bàn tay này là do bởi loại phạm hạnh này”.
19. Người ta nói rằng ngài không bố thí vật thực đến ai cả bằng chính tay của ngài nhưng vì ngài hoan hỉ với những vật thí của người khác nên ngài đã đưa lên bàn tay của ngài và chỉ đường.
20. Vì lý do này nên bàn tay của ngài cho ra những điều mong ước, vì lý do này khiến bàn tay của ngài có mật ong chảy ra, do bởi loại phạm hạnh này khiến điều phước cho quả trong bàn tay của ngài.
21. Thưa Ngài, người mộ đạo là người đã cho ra những vật thí bằng chính bàn tay của mình, khi người ấy rời bỏ thân người, sẽ đi về chỗ nào?
22. “Tôi không biết trạng thái đi và đến của A.ngiirasa, người mà chịu đựng điều quá sức chịu đựng, nhưng tôi đã nghe ở trước mặt của Vessavana rằng Asayha đã đi cọng trú với Sakka “.
23. “Thật đầy đủ để làm những việc thiện và cho ra những vật thí thích hợp. Sau khi trông thấy bàn tay cho ra những điều mong ước này, ai mà lại không thực hành những việc phước?
24. Như vậy, khi tôi đã đi từ đây và trở lại Dvaaraka, tôi sẽ bố thí những vật thực để đem lại hạnh phúc cho tôi.
25. Tôi sẽ cho đồ ăn và thức uống, y phục và chỗ ngụ, những chỗ cho nước ở bên vệ đường, những cái giếng và những chiếc cầu ở những chỗ mà khó đi qua.
Chú giải:
11. Ở đây, BÀN TAY CỦA NGÀI (Paanite): Bàn tay phải của Ngài. HOÀN TOÀN BẰNG VÀNG (Sabba so va.n.no) có màu vàng ở khắp cả, VẬT CHỨA ÐỰNG GỒM BỘ NĂM (Pa~ncadhaaro): nó được xem là vật chứa đựng của bộ năm: bởi vì bằng năm ngón tay của nó, nó có những cái mạng đỡ vật mà được mọi người mong ước. CÓ MẬT ONG CHẢY RA (Madhussayo): Có những loại nước cốt ngọt đang chảy ra. Vì lý do này, vị ấy nói rằng, NHỮNG LOẠI NƯỚC CỐT CÓ NHIỀU HƯƠNG VỊ CHẢY RA THÀNH NHỮNG DÒNG NHỎ TỪ ÐÓ (naanaarasaa paggharanti): Nghĩa là nhiều loại nước cốt ngọt chua, hăng v.v… Chảy ra từ nó. Khi bàn tay của một vị Yakka, cho ra những điều mong ước, đang phân phát nhiều loại vật thực cứng và mềm, có chảy ra mật ong, TÔI CHO RẰNG NGÀI PHẢI LÀ Rurindada (Ma~n~ne’ han ta.m purindada.m): Tôi nghĩ rằng Ngài phải là Sakka purindada, nghĩa là tôi nghĩ rằng Ngài phải là sakka, vua của chư Thiên, là người có Ðại oai lực như vậy.
12. TÔI KHÔNG PHẢI LÀ DEVA (n’amhi devo): Tôi không phải là một Deva như là Vassavana v.v… CŨNG CHẲNG PHẢI LÀ GANDHABBA (na gandhabbo): Tôi cũng chẳng phải là Deva của hôị chúng Càn Thát bà. Cũng chẳng phải sakka purindada (na pisakko purindado) tôi cũng không phải là sakkha, vua của chư Thiên, có cái tên là Purindada vì trong quá khứ (pure) đã cung cấp những vật thí (daanassa) trong một kiếp trước. Như vậy vị ấy là gì? Vị ấy nói rằng, NGÀI NÊN BIẾT TÔI LÀ MỘT PETA, THƯA NGÀI AỊKURA (Peta.m a.nkura jaanaahi): ngài nên biết tôi là một kẻ đã sanh làm một Peta, thưa ngài A”nkura, ngài nên xem tôi là một Peta, có Ðại thần thông thực. LÀ NGƯỜI ÐÃ ÐẾN ÐÂY TỪ Bheruva (Bheruvahaa idhaagata.m): là người sau khi mang chung từ Bheruva, đã đến đây bằng sự hoá sanh của tôi trong cây đa này đây, ở giữa khu r?ng hoang này, nghĩa là kẻ sanh lên ở đây.
13. NGÀI CÓ HẠNH KIỂM NÀO. TÁNH NẾT NÀO, KHI NGÀI CÒN Ở BHERUVA? (Ki.msìlo ki.msamaacaaro bheruvasmi.m pure tuva.m): Trước kia, trong một kiếp quá khứ, khi Ngài còn trú ngụ ở trong thành Bheruva, thì Ngài có hạnh kiểm gì, tánh nết gì? sau khi thực hành theo loại hạnh kiểm nào mà có đặc tánh tránh xa những ác nghiệp của Ngài, do bởi tánh nết mà có đặc tánh hướng về sự thực hành những việc phước, nghĩa là Ngài có hạnh kiểm nào thuộc về thiện hạnh như bố thí v.v…? DO BỞI PHẠM HẠNH NÀO KHIẾN ÐIỀU PHƯỚC CHO QUẢ TRONG BÀN TAY NÀY? (Kena tebrahmacariyena pu~n~na.m paa.nimhi ijjhati): Do bởi loại phạm hạnh thù thắng nào khiến cho có quả phước như thế này bây giờ chín muồi và có hiệu quả trong bàn tay của Ngài, nghĩa là xin hãy nói cho tôi biết điều ấy. Do việc phước, ám chỉ về quả của việc phước, do sự đọc lướt của chữ thứ hai trong chữ kép. Vì hiển nhiên chính điều này nên dược gọi là “phước” ở đoạn kinh,”chính do gieo tạo những thiện nghiệp theo cách này, này các vị Tỳ kheo, nên phước này tăng trưởng v.v…”
14. NGƯỜI THỢ MAY (Tunnavàyo): Người thợ làm kim. TÔI SỐNG MỘT CUỘC SỐNG VẤT VẢ: Sukicchavutti= su.t.thu kiccha vuttiko (Phối hợp cách): tôi có một cuộc sống cực khổ vô cùng, TÔI BỊ KHỔ CỰC LỚN (kapa.no): Tôi nghèo khổ, nghĩa là tôi ở trong một trạng thái khốn khổ. TÔI CHẲNG CÓ GÌ ÐỂ BỐ THÍ (Na me vijjati Daatave): Tôi chẳng có gì xứng đáng để cho ra, chẳng có gì để cho đến những người nghèo khổ, đến những vị Sa môn và những vị Bà la môn, dầu tôi có những ý tưởng muốn bố thí những vật thực – đây là ý nghĩa.
15. XƯỞNG LÀM VIỆC (aavesana.m): Nhà, hay một phòng để làm việc. RẤT GẦN VỚI Asayha (Asayhassa uppantike): Gần nhà của đại thương nhân giàu có asyaha. MỘT NGƯỜI CÓ ÐỨC TIN (saddhassa) có đức tin về quả của các nghiệp. BẬC THẦY TRONG SỰ THỰC HÀNH BỐ THÍ (Daanapatino): về sự thực hành bố thí thì vị ấy là bậc thầy do sự chế ngự tham và do sự thù thắng của việc bố thí mà đã tiếp tục không gián đoạn. LÀ NGƯỜI ÐÃ THỰC HÀNH NHỮNG VIỆC PHƯỚC (Katapu~n~nassa): Là người thực hành những việc thuộc thiện hạnh trong quá khứ. MỘT NGƯỜI CÓ LƯƠNG TÂM (lajjino): một người có tánh nhờm gớm những ác nghiệp.
16. Ở ÐÓ (Tattha): Ðến cửa tiệm ấy của tôi. NHỮNG NGƯỜI ĂN XIN THƯỜNG HAY ÐẾN (Yaacanakaayanti): Những kẻ ăn xin thường hay đến vì muốn xin một cái gì đó từ (Asayhase.t.thi). GỒM NHIỀU LOẠI BỘ TỘC (naanaagottaa): Nhiều bộ tộc và nhiều miền khác nhau. NHỮNG KHÁCH ÐI ÐƯỜNG (Va.n.nibbakaa): những kẻ nói lời khen ngợi người khác, họ là những kẻ lang thang đi đây đó công bố tính chất chính đáng đối với một miếng cơm đáng được ca ngợi v.v… Ca ngợi giới đức, những quả báu và những việc phước của người mà bố thí. VÀ HỌ THƯỜNG HỎI TÔI (Ca ma.m tattha pucchanti): Tattha không được dịch chỉ là một tiểu từ không biến đổi; những người ăn xin ấy và những người khác thường hỏi tôi về chỗ ngụ của Asayha, là vị thương nhân giàu có. XIN CHÚC ÔNG MAY MẮN! CHÚNG TÔI NÊN ÐI ÐÂU? NHỮNG VẬT THÍ ÐƯỢC CHO Ở ÐÂU? (Kattha gacchaama bhadda.m vo kattha daana.m padiiyati): Ðiều này cho thấy cách mà họ hỏi. Ðây là ý nghĩa: xin chúc Ngài may mắn! Chúng tôi đã đến sau khi nghe rằng, “Những vật thí đã được cho ra ở đây, bởi Asayhase.t.thi . Ở đâu những vật thí được cho ra? Hay chúng tôi sẽ đi đâu- Phải đi đến đâu để chúng tôi có thể kiếm được những vật thí ấy?
17. ÐƯỢC HỎI NHƯ VẬY, TÔI BÈN CHỈ RA (Tesaaha.m pu.t.tho akhaami): Khi được hỏi như thế này bởi những người đi đường ấy về chỗ mà họ, có thể nhận được vật thực bố thí, tôi thường cung kính đưa bàn tay phải của tôi nói cho họ, biết về chỗ ngụ của Asayha khi nghĩ rằng: “Do không làm những việc phước trong quá khứ nên bây giờ tôi không thể cho ra cái gì đến những người như thế này. Tuy nhiên, tôi có thể tạo ra điều phước một cách rất ít ỏi, như hoan hỉ nói cho họ biết về cách để có được những vật thí này bằng cách chỉ cho họ ngôi nhà, nơi mà những vật thí cho ra. Vì lý do này, vị ấy nói rằng, “Tôi đưa lên cánh tay phải của tôi v.v…
18. VÌ LÝ DO NÀY KHIẾN CÁNH TAY CỦA TÔI BAN RA NHỮNG ÐIỀU MONG ƯỚC: (Tena paa.ni kaamadado): vì đã làm cho những người khác biết những vật thí của người khác, vì chỉ có hoan hỉ kèm theo sự tôn kính đối với những vật thí được làm bởi người khác, nên bàn tay của tôi ban ra những ước muốn như cây như ý. Như cây leo (Santaana), nó ban ra những điều mong ước, nghĩa là cho ra bất cứ cái gì người ta cần đến. VÌ LÝ DO NÀY KHIẾN BÀN TAY CỦA TÔI CÓ MẬT CHẢY RA (Tena paa.ni madhussavo): Nó hiện ra để phân phối những điều khả ái.
19. Người ta nói rằng, NGÀI ÐÃ KHÔNG CHO RA NHỮNG VẬT THÍ (na kira tva.m adaa daana.m) “Kira” là một tiểu từ không biến đổi về lời đồn. Tương truyền rằng Ngài đã không bố thí của cải của chính Ngài, rằng ngài đã không bố thí một vật gì đến ai cả, dầu đến Sa môn hay Bà la môn, bằng chính tay của Ngài. NHƯNG NHỜ HOAN HỶ VỚI NHỮNG SỰ BỐ THÍ CỦA KẺ KHÁC (Parassa daana.m anumodamaano): Nhưng ngài có tâm hoan hỉ với những vật thí được làm bởi những người khác và nghĩ rằng, “Ồ, ông đang ban bố những vật thí vĩ đại biết bao!”
20. VÌ LÝ DO NÀY KHIẾN BÀN TAY CỦA NGÀI BAN RA NHỮNG ÐIỀU ƯỚC MUỐN (Tena paa.ni kaamdado): “Vì lý do này mà bàn tay này của Ngài ban ra những điều mong ước theo cách này. Ồ, quả thật là kì diệu về những việc phước!” Ðây là ý nghĩa.
21. THƯA NGÀI, NGƯỜI CÓ TÂM ÐẠO LÀ NGƯỜI ÐÃ CHO RA VẬT THÍ BẰNG CHÍNH TAY CỦA MÌNH (Yo so daana.m adaa bhante passanno sakapaa.nìhi): bằng sự tôn kính, vị ấy nói với Devaputta là “Thưa Ngài, vì chỉ do sự hoan hỉ với những vật thí được làm bởi những người khác, thưa Ngài, Ðó là quả, đó là oai lực. Cái đó đã đến với Ngài. Nhưng chính Asayha, vị thương nhân giàu có, là người đã cho ra vật thí vĩ đại ấy và có tâm hoan hỉ vào lúc vị ấy cho ra những vật thí vĩ đại ấy bằng chính tay của vị ấy. “KHI VỊ ẤY TỪ BỎ THÂN NGƯỜI (So hitvaa maanusa.mdeha.m). Khi vị ấy bỏ trạng thái làm người này ở đây. VỊ ẤY ÐÃ ÐI ÐẾN CHỖ NÀO? (Disata.mgato): ở hướng nào đến chỗ nào, vị ấy đã đi; “vị ấy chấm dứt bằng loại số phận nào?”
22. NGƯỜI MÀ CHỊU ÐIỀU QUÁ SỨC CHỊU ÐỰNG (Asayha Saa hino): Vị ấy là người chịu đựng điều quá sức chịu đựng, vì vị ấy, dầu chưa phải bậc chân nhân, nhưng đã có đức tánh chịu đựng cao để làm theo pháp hành của bậc chân nhân về các vấn đề như bố thí v.v… mà không thể nào chịu đựng được bởi những người có tánh bần tiện và tham lam. CỦA A”NGIIRASA (Angiirassa) của người mà từ những chi thể của người ấy sự chói lọi phát ra. Ra sa là một cách nói ẩn dụ về “Sự rực rỡ”. Tương truyền rằng khi vị ấy trông thấy những người ăn xin đi đến thì niềm hỉ lạc lớn sanh lên trong vị ấy và sắc tướng của vị ấy trở nên sáng chói. Vị ấy thường nói như vậy khi vị ấy trông thấy chính điều này. SỰ ÐI VÀ SỰ ÐẾN (Gati.m aagati.m vaa): Tôi không biết sự đi, nghĩa làm người ấy đã đi từ đây đến định xứ nào đó, cũng không biết sự đến, nghĩa là, người ấy đã đến đây từ một chỗ đó vào giờ đó, điều này không nằm trong khả năng của tôi. NHƯNG TÔI ÐÃ NGHE NÓI TỪ TRƯỚC MẶT CỦA VESSAVANA (Suta~n ca me Vessavanassa santike): Tuy nhiên tôi đã nghe được điều này ở trước mặt của Ðại vương Vessanvana trong khi đang hầu vị ấy. RẰNG ASAYHA ÐÃ CỌNG TRÚ VỚI SAKKA (Sakkassa sahavyata.m gato asayho) : Rằng Asayyhase.t.tthi) đã cọng trú với Sakkha, vua của chư Thiên, nghĩa là vị ấy đã sanh trong cõi trời Ba mươi ba.
23. LÀM NHỮNG VIỆC THIỆN LÀ PHẢI LẼ (Ala.m eva kaatu”m kalyaana.m): Thật thích hợp và hữu lý để làm những việc gọi là khả ái, thiện, và phước. Tuy nhiên để cho thấy rằng về vấn đề này có điều dễ chịu và cởi mở cho tất cả, “và cho những vật thí là thích hợp” được nói đến. Ðiều thích hợp là cho ra những vật thí theo đúng với khả năng phương tiện của mình. Rồi vị ấy nêu ra lý do: SAU KHI THẤY BÀN TAY NÀY MÀ CHO RA NHỮNG ƯỚC MUỐN (paanikaama.da.da.m disvaa): Bởi vì không những nói cho biết con đường dẫn đến chỗ ngụ của bậc Thầy về việc thực hành bố thí sau khi đã hoan hỉ với những việc phước được làm bởi một người khác, cánh tay này làm công việc ban ra những điều mong ước cũng được trông thấy. Sau khi thấy điều này ai sẽ không làm những việc phước, là sự nâng đỡ trong kiếp sống tương lai? Sau khi đã cho thấy sự đánh giá cao của vị ấy về sự thực hành những việc phước một cách mơ hồ như thế này vị ấy nói lên câu kệ như sau: “Khi tôi đã đi khỏi đây” để cho thấy sự cam kết của vị ấy.
24. TÔI: So = so aha.m (“thể văn phạm hoán chuyển”). Hi (không được dịch) là một tiểu từ dùng để nhấn mạnh. Như vậy (Numa) là một tiểu từ về sự suy quán. KHI TÔI ÐÃ ÐI KHỎI ÐÂY. (Ito gantvaa): khi tôi đã rời khỏi vùng hoang vu này. KHI TÔI TRỞ LẠI DVAARAKA (anuppatvaana dvaaraka.m): và đã trở lại kinh đô Dvaaravati . TÔI SẼ CUNG CẤP (Pa.t.thapayissaami): Tôi sẽ ban ra.
Dạ xoa lấy làm rất hoan hỷ khi nghe A”nkura nguyện rằng vị ấy sẽ bố thí những vật thực, bèn sách tấn vị thương nhân làm những việc phước thí khi nói rằng, “Ngài nên cho ra những vật thí một cách rộng rãi, thưa Ngài. Tôi sẽ giúp ngài bằng cách sắp xếp những công việc bằng cách nào đó để những vật thí của Ngài không bị cạn kiệt”. (Khi quay qua vị Bà la môn), vị ấy nói tiếp rằng. “Trong khi ông, này ông thương nhân Bà la môn, không biết khả năng của chính mình mà dám nói rằng ông muốn mang đi một người như ta bằng cách xử dụng sức mạnh”, và sau khi khiến cho những hàng hoá của ông ta biến mất, đe doạ ông ta, doạ sẽ hại ông ta bằng sự tấn công của một Dạ xoa. Rồi A”nkura nài nỉ vị ấy bằng nhiều cách, và làm nguôi ngoai vị da xoa bằng cách bảo vị Bà la môn xin lỗi, và nhờ đó khiến cho tất cả hàng hoá của ông ta xuất hiện trở lại. Khi đêm đến, vị ấy để Dạ xoa ra đi và, trong khi tiếp tục đi trên con đường của vị ấy, trông thấy một Ngạ quỉ nọ ở gần trước mặt vị ấy, trông rất kinh khiếp, vị ấy nói lên câu kệ này để dò hỏi về nghiệp mà nó đã tạo;
26. “Vì lý do gì khiến những chi thể của ngươi méo mó và khuôn mặt của ngươi nhăn nhó? Và tại sao hai con mắt ngươi lại chảy giọt? ác nghiệp nào được làm bởi ngươi?”
Chú giải:
26. Ở đây, méo mó (Ku.na aa) khòm, cong queo, không thẳng. NHĂN NHÓ (Ku.naliikata.m): Xấu xí, méo mó, dị tật. CHẢY RÒNG (Paggaharanti): chảy ra những vật bất tịnh.
Rồi Ngạ quỷ nói lên ba câu kệ:
27. Tôi đã trông coi những vật thí trong phước xá của Angiirassa, là vị gia chủ yêu quê hương và là một người có đức tin.
28. Tôi đã trông thấy những người ăn xin ở đó đến trong trạng thái cần vật thực, Tôi bước qua một bên và nhăn mặt.
29. Vì lý do này nên tay chân của tôi bị méo mó và khuôn mặt của tôi bị nhăn nhó; Ðây là lý do khiến mắt của tôi rỉ chảy. Ðây là ác nghiệp được làm bởi tôi.
Chú giải:
27. Ở đây, CỦA A”NGIRASSA (A”ngirassassa) v.v… Ngạ quỷ dùng những thuộc tính này để khen ngợi Asayhase.t.tthi . Yêu Quê Hương (Chara.m esino): ở tại nhà, trú ngụ ở trong nhà. TRONG PHƯỚC XÁ (Daanavigge): Trong nhà nơi mà những vật thí được cho ra ở chỗ phân phát. TÔI ÐƯỢC GIAO TRÁCH NHIỆM TRÔNG COI NHỮNG VẬT THÍ (Daane adhikato ahu.m): Tôi được đặt vào địa vị trông coi những vật thí, phân phát những vật thí.
28. TÔI BƯỚC QUA MỘT BÊN (Ekamanta.m apakkamma): Khi ông ta trông thấy những người ăn xin đến xin vật thực thì người mà trông nom những vật thí không nên khỏi nhà, nơi mà những vật thí được cho ra. Ông ta ở lại ngay chính chỗ đó và đầy hỉ lạc và có sắc tướng tươi sáng, cho ra những vật thí bằng chính tay của ông ta, và bảo những người khác cho chúng một cách thích hợp. Còn tôi thì chẳng hành động theo cách này, khi đứng ở đằng xa, tôi trông thấy những người ăn xin đi đến, tôi bèn bước qua một bên và tránh mặt. Khi đã bước qua một bên, tôi nhăn nhó mặt mày, tôi nhăn nhó và cau mặt.
29. VÌ LÝ DO ẤY (Tena): Bởi vì, trong khoảng thời gian mà tôi được ông chủ chỉ định trông coi việc bố thí, tôi đã bị xâm chiếm bởi tánh bần tiện trong lúc đem cho những vật thí và đã rời khỏi nhà, nơi mà những vật thí được cho ra, nên tôi đã đạt đến trạng thái cong queo của bàn chân; Bởi vì tôi đã không cho cái mà đáng lẽ phải được cho bởi chính hai tay của tôi, nên tôi đã đạt đến trạng thái cong queo của bàn tay; Vì tôi không có những đặt tánh tươi vui mà đáng ra tôi cần phải có, nên tôi đã đạt đến trạng thái quạu cọ của mặt mày; Trong khi đó vì tôi không nhìn bằng con mắt từ ái mà đáng ra tôi phải nhìn như thế, nên tôi mới bị sắc tướng mờ tối này. Do đó, những ngón tay và những ngón chân của tôi đã trở nên cong queo, mặt của tôi trở nên méo mó, có hình tướng khó coi và nhăn nhó, và đôi mắt của tôi thì chảy ra những vật bất tịnh, có mùi hôi thối, nhơ nháy – đây là ý nghĩa.
Vì lý do này vị ấy nói rằng:
30. “Vì lý do ấy mà tay chân của tôi bị méo mó và mắt của tôi bị cau có: Ðây là lý do khiến mắt tôi bị rỉ chảy, đây là ác nghiệp được làm bởi tôi”.
Nghe qua điều này A”nkura thốt lên câu kệ này khi đến gần Ngạ quỷ.
31.”Này kẻ khốn khổ, nghiệp đã cư xử đúng với ngươi, khiến mắt ngươi cau có và mắt của ngươi rỉ chảy, bởi vì ngươi đã nhăn mặt khi trông thấy vật thí của người khác”.
Chú giải:
31. Ở đây, ÐIỀU ẤY THẬT ÐÚNG VỚI NGƯƠI (Dhammena): Ðiều đó có nguyên nhân hoàn toàn thích hợp. Ngươi te = tava (thể văn phạm hoán chuyển). NÀY KẺ KHỐN KHỔ (Kaapurisa). Ngươi là con người đáng khinh, BỞI VÌ: Ya.m= Yasmaa (thể văn phạm hoán chuyển). KHI TRÔNG THẤY VẬT THÍ CỦA NGƯỜI KHÁC: Parassa daanassa = Parassa daanasmi.m (thể văn phạm hoán chuyển), hay nói cách khác, đây là cách đọc.
A”nkura lại nói lên một câu kệ để chê trách vị thương nhân ấy, là vị thầy trong việc thực hành bố thí.
32. “Làm sao người ta lại có thể nhờ vào một người khác khi cho ra đồ ăn, thức uống, vật thực cứng, y phục và chỗ ngụ?”
Chú giải:
32. Ðây là ý nghĩa: khi cho ra một vật thí, quả thật vậy, làm sao một người có thể nhờ vào một người khác, bảo người khác làm công việc ấy? Chính người ấy nên đích thân trông coi nó và nên cho nó bằng chính tay của mình thí đúng hơn. Người ấy nên tự mình làm điều này. Nói cách khác, thí vật của người ấy có thể đi đến suy sụp trong một chỗ không thích hợp, trong khi những người xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường thì sẽ bị đói một cách đáng tiếc.
Trong khi vị ấy quở trách vị thương nhân như vậy, A”nkura bèn nói lên hai câu kệ để cho thấy cách hành động mà vị ấy sắp thực hiện.
33. “Như vậy, khi tôi đã đi khỏi đây và đã trở lại Dvaaraka, tôi sẽ cung cấp những vật thí mà sẽ đem lại hạnh phúc cho tôi.
34. Tôi sẽ cho đồ ăn và thức uống, y phục và chỗ ngụ, những chỗ chứa nước ở bên vệ đường, những giếng nươc và những chiếc cầu nơi mà người ta khó đi qua”.
Ý nghĩa vừa nói được nêu ra rồi.
Khi ấy bốn câu kệ này cũng được lồng vào bởi những vị kiết tập Tam Tạng, để cho thấy cách mà A”nkura hành động.
35. “Khi từ chỗ đó trở về và đã trở lại Daaraka, A”nkura cung cấp những vật thí mà sẽ đem lại hạnh phúc cho vị ấy.
36. Vị ấy cho ra đồ ăn và thức uống, y phục và chỗ ngụ, những chỗ chứa nước ở bên vệ đường, những giếng nước, những chiếc cầu ở nơi mà người ta khó đi qua.
37. “Ai bị đói? và ai bị thiêu đốt? Ai muốn mặc vào những y phục này? Những con bò của ai bị kiệt quệ? – Từ những con bò này người ta có thể thắng vào một con bò thiến. Ai cần dù che? và nước hoa? Ai cần hoa? Ai cần một số giày dép?”
38. Những người thợ cạo, những người nấu bếp và những người bán vật thơm luôn luôn kêu lên như vậy, cả sáng lẫn chiều, ở đó tại chỗ ngụ của A”nkura “
Chú giải:
35. TỪ ÐÓ (Tato): Từ khu rừng hoang ấy. KHI VỊ ẤY ÐÃ QUAY LUI (Nivattitvaa): Khi vị ấy đã quay trở lại. VÀ ÐÃ TRỞ VỀ Dvaaraka (Anuppatvaana dvaaraka.m): Và đã trở lại thành phố Dvaaravatii . A”NKURA CUNG CẤP NHỮNG VẬT THÍ (Daana.m pa.t.thayi ankuro): A”nkura thiết lập một cuộc bố thí gồm mọi thứ cần thiết cho con đường từ nhà kho mà được gìn giữ hoàn toàn đầy đủ bởi Yakkha MÀ SẼ ÐEM HẠNH PHÚC CHO VỊ ẤY (Ya.m ta.m assa sukhaavaha.m): là cái mà sẽ trổ quả hạnh phúc cho vị ấy trong cả hiện tại lẫn tương lai.
37. AI ÐÓI? (Ko chaato) Hãy để bất cứ ai cần ăn đến ăn bất cứ cái gì mà người ấy thích. Ðây là ý nghĩa và sẽ được áp dụng trong phần còn lại nữa. BỊ KHÔ CHÁY (Tasito): khát. MUỐN MẶC VÀO (Paridahissati) nghĩa là muốn mặc áo quần. BỊ KIỆT QUỆ (Santaani): ở trong trạng thái mệt lã. NHỮNG CON BÒ (Yoggaani): được kéo bởi những con bò đã được thắng vào những chiếc xe. HỌ CÓ THỂ THẮNG MỘT CON BÒ KÉO TỪ NHỮNG CON BÒ NẦY. (Ito yo jentu vaahana.m): Họ có thể lấy bất cứ con bò kéo nào mà họ thích từ đàn bò này ở đây và thắng nó vào. AI CẦN DÙ? (Ko chatt’icchati): Hãy để bất cứ ai cần dù thuộc loại cần bằng những cây bấc v.v…thì lấy nó – đây là y nghĩa và cũng sẽ được áp dụng cho phần còn lại. HƯƠNG THƠM (Gandha.m): Những loại hương thơm được làm từ bốn mùi hương v.v… NHỮNG BÔNG HOA (Maala.m): Những bông hoa thuộc loại được cột lại với nhau và những bông hoa không được cột như vậy. MỘT SỐ GIÀY DÉP (Upaahana.m): những loại dày dép thuộc loại như có những vật che gót chân v.v…
38. CŨNG VẬY (Iti su): Su (không được dịch) chỉ là một tiểu từ không biến đổi. Chúng công bố như vậy, nghĩa là “ai đó? và ai bị khát?” v.v… NHỮNG NGƯỜI THỢ CẠO (Kappakaa): Những người tắm thuê. NHỮNG NGƯỜI NẤU BẾP (Sadaa): Những người sửa soạn những bữa ăn. NHỮNG NGƯỜI BÁN NHỮNG VẬT THƠM (maagadhaa): Những người bán các loại nhang trầm, nước hoa. LUÔN LUÔN (Saada): suốt mọi khi, trong ngày, ngoài ngày, cả sáng lẫn chiều, họ đều rao hò kêu gọi, ở đó tại chỗ ngụ của Ankura – đây là cách nên được hiểu.
Thời gian trôi qua với sự bố thí vĩ đại được ban ra như vậy, ngôi nhà nơi mà những vật thí được cho ra chỉ trở nên thưa thớt và có những người đi đường tình cờ đến viếng vì muốn được thoả mãn. Khi Ankura trông thấy điều này, vị ấy cảm thấy không được mãn nguyện, bởi vì ý định cao cả vị ấy là cho những vật thí, bèn gọi đến người đàn ông trẻ tên là Sindhaka mà vị ấy đã chỉ định liên quan đến sự bố thí của vị ấy và nói lên hai câu kệ:
39. “A”nkura ngủ an vui” – Những người tin vào ta như vậy; nhưng ta khó ngủ, này Sindhaka, bởi vì ta không thấy những người ăn xin.
40. “A”nkura ngủ an vui” – Những người tin vào ta như vậy, Nhưng, này Sindhaka, ta khó ngủ vì những người đi đường quá ít”.
Chú giải:
39. Ở đây “AỊKURA NGỦ AN VUI” – NHỮNG NGƯỜI TIN VÀO TA CŨNG VẬY, (Sukha.m supati a”nkuro iti jaanaati ma.m jano): Công tử” A”nkura là người có danh vọng và của cải, là bậc thầy trong sự thực hành bố thí, do vị ấy đã đạt được của cải và sự bố thí thành công nên ngủ được an vui, vị ấy ngủ một cách dễ dàng và thức dậy một cách an vui” – Mọi người đánh giá cao về ta như vậy. Ta ngủ một cách khó khăn, Này Sindhuaka. TẠI SAO? VÌ TA KHÔNG THẤY NHỮNG NGƯỜI ĂN XIN (Ya.m na passaami yaacake): vì ta không thấy những người ăn xin nhận lãnh những vật thí của ta như ta mong ước, nghĩa là chính do bởi điều này.
40. NHỮNG NGƯỜI ÐI ÐƯỜNG QUÁ THƯA THỚT (Appakesu vanibbake): Những khách lữ hành quá thưa thớt, nên ta khó ngủ. – Ðây là cách nên được hiểu. Su (không được dịch) chỉ là một tiểu từ không biến đổi, ý nghĩa là khi có rất thưa thớt khách lữ hành.
Khi nghe qua điều này, Sindhaka, muốn rằng vị ấy nên làm sáng tỏ khuynh hướng cao cả của vị ấy đối với sự bố thí, bèn thốt lên câu kệ này:
41. “Nếu Sakka, chúa cõi Ba mươi ba và của tất cả thế giới, mà ban cho Ngài một đặc ân, khi chọn lựa, thì Ngài sẽ chọn đặc ân nào?”
Chú giải:
41. Ðây là ý nghĩa: nếu Sakka, chúa chư Thiên trong cõi trời Ba mươi ba và cũng là chúa tất cả thế gian, mà ban cho Ngài một đặc ân khi nói rằng, “Hãy chọn bất cứ ân huệ nào mà tâm của ngươi khao khát, này A”nkura”, ” Khi chọn lựa, khi mong ước, thì ngài muốn chọn loại đặc ân nào?”
Rồi Ankura nói lên hai câu kệ thành thực công bố ý định của vị ấy.
42-43. “Nếu Sakka, chúa của cõi Ba mươi ba, mà ban cho ta một đặc ân, thời ta sẽ chọn lấy đặc ân từ Sakka như vầy: Khi ta thức dậy vào lúc mặt trời mọc sẽ xuất hiện những vật thực chư Thiên và những người ăn xin có giới đức, trong khi ta đang bố thí thì chúng sẽ không bị hết, sau khi ta đã bố thí thì ta không cảm thấy hối tiếc và tâm của ta có lòng tịnh tín khi ta bố thí.
Chú giải:
42-43. KHI TÔI THỨC DẬY (Kaalu.t.thitassa me sato): Khi tôi dậy vào lúc sáng sớm, tinh tấn và hăng hái để cúng dường và hầu hạ những bậc xứng đáng thọ lãnh vật cúng dường và đang cần đến. VÀO LÚC MẶT TRỜI LÊN (Suriyuggamana.m papi): Vào lúc mặt trời đến. SẼ CÓ XUẤT HIỆN NHỮNG LOẠI VẬT THỰC CỦA CHƯ THIÊN (Dibbà Bhakkaa Paatubhaveyyu.m): Sẽ có sanh lên vật thực mà thuộc về cõi chư Thiên. TẤT CẢ NHỮNG NGƯỜI ĂN XIN CÓ GIỚI ÐỨC (Sìlavanto ca yaacakaa): và sẽ có những người ăn xin có giới đức và có bản tánh thiện. TRONG KHI TÔI ÐANG BỐ THÍ, CHÚNG SẼ KHÔNG CẠN HẾT (Dadato me na khiiyetha): trong khi tôi đang cho đến những người mới đến thì những vật thí của tôi sẽ không cạn hết, sẽ không khánh tận. Sau khi tôi đã cho, tôi sẽ không cảm thấy hối tiếc khi tôi thấy rằng một người nào đó không xứng đáng thọ lãnh vật thí ấy. TÂM CỦA TÔI SẼ CÓ TỊNH TÍN KHI TÔI CHO (Dada.m citta.m pasaadeyya.m): Tâm của tôi sẽ có tịnh tín trong khi tôi đang cho, tôi chỉ cho trong khi tôi có lòng tịnh tín mà thôi. TÔI SẼ CHỌN ÐẶC ÂN TỪ Sakka (Eva.m Sakkavara.m vare): Tôi sẽ chọn 5. đặc ân đó từ Sakka, chúa của chư Thiên như vầy: Những đặc ân về sức khoẻ, về những vật thí và đặc ân có những người xứng đáng thọ lãnh những vật bố thí. Về điều này câu, “Khi tôi thức dậy” ám chỉ đặc ân về sức khỏe, (Câu sẽ xuất hiện những vật thực của chư Thiên là về những vật thí, và những người ăn xin có giới đức Là những người xứng đáng thọ lãnh vật cúng dường; “và trong khi tôi cho chúng sẽ không thọ cạn hết” là đặc ân về những vật thí vô hạn; và “sau khi tôi đã cho, tôi sẽ không cảm thấy hối tiếc và tâm của tôi có lòng tịnh tín khi tôi cho” là đặc ân được làm người bố thí. Năm điều này được mong ước để chúng trở thành những đặc ân, nên hiểu những đặc ân ấy là như vậy, vì mục đích của những việc phước ấy bao gồm sự bố thí cao tột.
Khi A”nkura công bố ý định của vị ấy, thì một người đàn ông tên là Sonaka, mà đang ngồi ở đó, là nhười có tánh cẩn thận, bèn nói hai câu kệ khi muốn ngăn cản vị ấy đừng bố thí quá mức.
44. “Người không nên ban bố tất cả những vật sở hữu của mình cho người khác; Người nên vừa cho những vật thí vừa bảo vệ tài sản của mình. Do đó, của cải tốt hơn sự bố thí, những gia đình không tồn tại được do sự bố thí quá mức.
45. Không phải không cho, cũng không phải cho quá mức mà được các bậc trí khen ngợi đâu. Do đó, của cải tốt hơn sự bố thí; người nên thực hiện sự tiết độ. Ðây là cách của những kẻ cương quyết.
Muốn thử vị ấy Sindhaka, sau đó đã nói lên một lần nữa những câu kệ bắt đầu bằng, “Người không nên ban ra tất cả những sở hữu của mình.”
Chú giải:
44. Ở đây, tất cả NHỮNG VẬT SỞ HỮU CỦA MÌNH (Sabbavittaani): Tất cả những vật sở hữu và những phương tiện, gồm cả động sản và bất động sản, nghĩa là những loại của cải của mình. ÐẾN MỘT NGƯỜI KHÁC: Pare= Pa ra.mhi (Thể văn phạm hoán chuyển); Nghĩa là đại điện một người khác (parassa). NGƯỜI KHÔNG NÊN BAN RA (Na pavecche) Người không nên bố thí khi nghĩ rằng, “Những người xứng đáng thọ lãnh những vật thí là sẳn có”. Và không giữ lại cái gì. Nghĩa là người không nên biến hết tất cả tài sản của mình thành vật bị hy sinh. Người nên vừa CHO NHỮNG VẬT THÍ (Dateyya daana~n ca): Người nên dùng tất cả mọi thứ để làm vật thí; hơn nữa, người khôn nên cho những vật thí theo đúng với phương tiện của mình sau khi định gía lợi tức thu nhập và số chi tiêu. VÀ BẢO VỆ CỦA CẢI CỦA MÌNH (Dhana~n ca rakkhe). Người nên chăm sóc của cải của mình bằng cách kiếm cho được cái chưa kiếm được; hay nói cách khác, người nên bảo vệ tài sản của mình theo cách nầy, đây là nền tảng của sự bố thí vật thực.
“Một phần tư tài sản của người thì người nên hưởng, hai phần tư người nên để vào công việc, trong khi phần thứ tư thì nên đem cất, nếu không người sẽ gặp khó khăn.”
Quả thật, vậy ba con đường này cần phải được thực hành theo bằng sự thay đổi qua lại, những người làm luật đã nói như thế. DO ÐÓ, (tasmaa): Bởi vì khi bảo vệ của cải của một người và khi tạo ra những vật thí, Người ấy đang hành động vì sự lợi ích cho cả hai đời, và bởi vì sự bố thí lệ thuộc vào của cải, do đó của cải thì tốt hơn, thù thắng hơn sự bố thí, và sự bố thí quá mức không nên thực hành – đây là ý nghĩa. Vì lý do này mà vị ấy nói rằng, “Những gia đình không còn tồn tại do bố thí quá mức. (Atippadaanena kulaa na honti). Những gia đình không tồn tại, không còn tiếp tục, nghĩa là chúng bị tiêu diệt mất, do sự thực hành bố thí quá mức khi người không biết phạm vi về của cải của mình mà sự bố thí như vậy lệ thuộc vào. Bây giờ, khi lập nên sự kiện rằng điều này được khen ngợi bởi Bậc trí tuệ, vị ấy nói lên câu kệ rằng: “Không phải không bố thí, cũng không phải bố thí quá mức”.
45. Ở đây, KHÔNG PHẢI KHÔNG BỐ THÍ CŨNG KHÔNG PHẢI BỐ THÍ QUÁ MỨC (Adaana.m atidaana~nca): không phải hoàn toàn không bố thí dầu một nắm cơm hay một vá vật thực, cũng không phải bố thí quá mức, là tánh rộng rãi mà trong đó những giới hạn vượt quá mức, làm như vậy được khen ngợi, được tán dương, bởi những bậc trí tuệ có tuệ quán và có trí tuệ đã sanh lên. Do hoàn toàn không bố thí, người ta bị mất đi hạnh phúc trong đời sau, trong khi cho quá mức thì gia đình của người sẽ không thể tiếp tục tồn tại. ÐÂY LÀ CÁCH SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI KIÊN QUYẾT (Sa dhiiradha.mmo): trong vấn đề bố thí quá mức đã được nói ở trên và sự không bố thí, đây là cách sống của những người kiên quyết, của những người bền chí và những người rành mạch về chánh hạnh và thiện hạnh – vị ấy giải thích rằng đây là con đường mà những người có trí ấy thực hành theo.
Khi qua điều này, A”nkura bèn công bố phương châm và hành động mà vị ấy sẽ thực hành bằng bốn câu kệ, để cố gắng làm cho người kia thay đổi tâm ý của mình:
46. Thưa ngài, thực ra tôi vẫn muốn tiếp tục bố thí, và nếu điều ấy là đúng thời những người xứng đáng sẽ kết hợp với tôi – như đám mưa làm đầy chỗ đất thấp, tôi sẽ làm thoả mãn tất cả những người đi đường.
47. Khi người trông thấy những người ăn xin thì sắc tướng của người trở nên tươi sáng và khi người đã cho thì thấy vui thích – đây là hạnh phúc dành cho người sống ở nhà.
48. Khi người trông thấy những người ăn xin thì sắc tướng của người sẽ trở nên tươi sáng, và khi người đã cho rồi thì sẽ thấy hoan hỉ – đây là sự thực hành thành công của sự hy sinh.
49. Ngay trước khi bố thí người nên hoan hỷ; khi đang bố thí tâm của mình nên tịnh tín; khi người đã bố thí rồi, thì người cũng được vui thích – đây là lối thực hành thành công của sự hy sinh”.
Chú giải:
46. Ở đây, QUẢ THỰC SẼ ÐÚNG HƠN (Aho vata): quả thật nó sẽ tốt đẹp. Thưa ngài (re) là một hình thức xưng hô. Rằng tôi sẽ chỉ tiếp tục bố thí: Aha.m eva da jja.m = aha.m dajja.m eva (thể văn phạm hoán chuyển). Ðây là ý nghĩa tóm tắt trong đoạn này, cho dù, như người ta nói, đây là quan điểm của những người rành mạch về chánh pháp, rằng của cải thì tốt hơn bố thí, tôi cũng muốn tiếp tục bố thí.VÀ NHỮNG NGƯỜI XỨNG ÐÁNG SẼ KẾT HỢP VỚI TÔI (Santo ca ma.m sappurisaa bhajeyyu.m): và rằng trong trường hợp mà tôi cho thì những người xứng đáng có giới đức, an tịnh và chân chánh, có thiện hạnh về thân, khẩu và ý sẽ kết hợp với tôi, sẽ đến gần tôi. NHƯ ÐÁM MƯA LÀM ÐẦY VÙNG ÐẤT THẤP (Negho ‘va ni.nna.m paripuurayanto) và quả thật đúng hơn là tôi sẽ làm thoả mãn họ, làm cho thành tựu những mong ước của tất cả những người đi đường như một đám mưa lớn trút xuống những vùng đất thấp, trên những chỗ nằm dưới thấp.
47. KHI NGƯỜI TRÔNG THẤY NHỮNG NGƯỜI ĂN XIN (Yassa yaacanake disvaa): Khi người ấy trông thấy những người ăn xin thì sắc tướng của con người yêu quê hương sẽ trở nên tươi sáng, và lòng tịnh tín sẽ sanh lên khi người ấy nghĩ rằng, ” Hầu hạ các ngài trong lúc sớm nhất sẽ thật sự là phước điền cho ta”, trong khi người ấy cho, thì người ấy sẽ được hoan hỷ tâm; người ấy sẽ được tràn ngập bởi hỷ lạc. Ðiều này (Ta.m): Cảnh tượng những người ăn xin ở đây, lòng tịnh tín này khi trông thấy nhưng người ăn xin và sự hoan hỷ sau khi đã cho những vật thích hợp.
49. NGAY TRƯỚC KHI BỐ THÍ NGƯỜI NÊN HOAN HỈ (Pubbe ‘va daanaa sumano): Ngay trước khi bố thí, từ lúc sửa soạn những vật thí trở đi, người nên hoan hỉ, người nên khởi hỉ tâm với tác ý cho ra những vật thí khi nghĩ rằng, ” Ta sẽ để xuống kho của cải mà sẽ theo ta như sự xây dựng vinh quang của ta trong đời sau. KHI BỐ THÍ, TÂM CỦA NGƯỜI NÊN TỊNH TÍN (dada.m citta.m pasaadaye): Khi cho, khi đặt vật thực vào trong tay của những người xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường, tâm của người nên tịnh tín khi nghĩ rằng, “Từ của cải mà không có giá trị, tôi đang tạo ra một vật thí có giá trị”. TRONG KHI NGƯỜI ẤY BỐ THÍ RỒI, THÌ NGƯỜI NÊN VUI THÍCH TIẾP (Datvaa attamano hoti): Trong khi người đã cho ra rồi những vật thí đến những người xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường, thì người nên vui thích, hoan hỷ, đầy hỉ lạc khi nghĩ rằng, ” Ta đã thực hiện điều mà được qui định bởi những bậc trí tuệ. ồ, điều này là thiện, điều này là thù thắng”: Ðây LÀ SỰ THỰC HÀNH THÀNH CÔNG CỦA VIỆC HY SINH (esaa ya~n~nassasampadaa): sự thành tựu trong ba tác ý mà được xem là hoan hỷ và được kết hợp bởi lòng tịnh tín trong quả của các nghiệp – Tác ý trước, đang, và sau khi cho những vật thí – đây là sự thực hành thành công, sự thành tựu của việc hy sinh; chẳng còn cách nào khác – đây là ý nghĩa.
Khi A”nkura đã công bố như vậy phương châm hành động mà vị ấy sắp thực hiện hằng ngày, vẫn duy trì sự bố thí vĩ đại, ý định của vị ấy về sự bố thí càng ngày càng được gia tăng nhiều hơn. Do bởi điều này khiến cho toàn thể vương quốc lúc bấy giờ phải dẹp qua công việc để nhường chỗ cho những lễ hội. Khi sự bố thí vĩ đại ấy đang tiến hành thì những người mà đã nhận được những phương tiện cần thiết cho cuộc sống đã bỏ mọi công việc làm ăn của họ và đi dạo quanh tuỳ thích. Do bởi điều này khiến những kho báu của hoàng gia trở nên trống rỗng và nhân đó, các vị vua sai sứ giả đến A”nkura, nói lại rằng, “vì những vật bố thí của Ngài, thưa Ngài, nền kinh tế của chúng tôi đã bị suy sụp và những kho báu của chúng tôi đã trở nên trống rỗng. Ngài nên biết giới hạn thích hợp đến chừng mức mà vật thí nên được cho ra”.
Khi nghe qua điều này, A”nkura đi đến dakkhinaapatha, và tại vùng tamil sai dựng lên một số lớn những phước xá ở một chỗ không cách xa biển, và duy trì những sự bố thí vĩ đại của vị ấy ở đó trong suốt cuộc đời còn lại của vị ấy. Vào lúc thân hoại mạng chung, vị ấy tái sanh vào cõi ba mươi ba. Những người kiết tập Tam tạng nói những câu kệ này để cho thấy sự vinh quang của những vật thí của vị ấy và sự tái sanh trong thiên giới của vị ấy:
50. Sáu chục ngàn cỗ xe chứa đầy vật thực thường xuyên được cho đến mọi người ở chỗ ngụ của A”nkura, là người có con mắt nhìn về những việc phước.
51. Ba ngàn người nấu bếp, trang sức những bông tai có cẩn ngọc, là những người trông coi những vật thí cho sự dâng hiến, nhờ A”nkura mà họ được sự nuôi mạng.
52. Sáu chục người đàn ông, là những chàng thanh niên trang sức những vòng tai có cẩn châu ngọc, chẻ củi ở chỗ bố thí vật thực vĩ đại của A”nkura .
53. Sáu chục ngàn phụ nữ, tất cả đều trang sức và có mang châu ngọc, sửa soạn nhiều loại gia vị tại chỗ bố thí vĩ đại của A”nkura .
54. Sáu chục ngàn phụ nữ, tất cả đều trang sức và có mang châu ngọc, đứng sẵn sàng với cái vá trong tay tại chỗ bố thí vĩ đại của A”nkura .
55. Vị Sát đế lỵ này đã bố thí dồi dào đến nhiều người, vị ấy đã bố thí trong một thời gian dài, ân cần, bằng sự quan tâm chu đáo và bằng chính tay của vị ấy, nhiều lần, nhiều lần.
56. A”nkura đã duy trì sự bố thí vĩ đại của vị ấy trong một thời gian dài, trong nhiều nửa tháng, trong nhiều mùa và nhiều năm.
57. Sau khi A”nkura đã thực hành sự bố thí như vậy và hy sinh như vậy trong một thời gian dài như vậy, vị ấy từ bỏ thân xác của con người và đi đến cõi ba mươi ba.
Chú giải:
50. Ở đây, SÁU CHỤC NGÀN CỖ XE (Satthivaa hassaani= vaahaana.m satthisahassaani) (phối hợp cách): Sáu chục ngàn cỗ xe chứa đầy gạo thơm v.v… được cho ra thường xuyên, ngày này qua ngày khác, đến dân chúng, đến những nhóm chúng sanh, ở chỗ ngụ của A”nkura, là người có con mắt nhìn về những việc phước, là người chuyên tâm trong việc bố thí, là người nghiêng về sự bố thí – đây là cách nên được hiểu.
51. BA NGÀN NGƯỜI NẤU BẾP (Tisahassaani sudaa hi) nhiều đến ba ngàn người nấu bếp để sửa soạn những bữa ăn và những điều này được chỉ ra ở đây chỉ là những người đầu bếp trưởng, nên hiểu là mỗi người trong những người đầu bếp này đều có vô số những người đầu bếp khác làm theo lời căn dặn của trưởng bếp. Một số người đọc, là tisahassaani suudaana.m: (thể văn phạm hoán chuyển), TRANG SỨC NHỮNG VÒNG TAI CÓ CẨN NGỌC (aamuttama.niku.n.dalaa): Mang nhiều loại bông tai được trang sức và có cẩn ngọc châu. Nhưng đây chỉ là một ví dụ, vì họ cũng được trang phục, mang những chiếc vòng và dây lưng nữa. HỌ KIẾM SỐNG ÐƯỢC LÀ NHỜ A”NÁKURA (A”nkura.m upajiivanti): Họ sống nhờ vào vị ấy, nghĩa là họ lệ thuộc vào vị ấy về việc kiếm sống của họ. LÀ NGƯỜI TRÔNG COI NHỮNG VẬT THÍ CHO SỰ HY SINH (daane ya~n~nassa vyaava.taa) là người nhiệt tâm trông coi những vật thí, trông coi hành động hy sinh, cho sự hy sinh, cho cái được gọi là sự hy sinh vĩ đại ấy.
52. NHỮNG CHÀNG TRAI CHẺ CỦI (Ka.t.tha.m phaalenti maa.navaa): Những người dân trẻ có ăn mặc gọn gàng và trang sức, chẻ, bửa củi để nấu nhiều loại vật thực cần thiết, gồm cả loại cứng và loại mềm v.v…
53. NHỮNG LOẠI GIA VỊ (Vìdha), những loại gia vị được xem là những thứ thích hợp để thêm vào vật thực. SỬA SOẠN (pi.n.denti): Ðược trộn bằng cách xay chung với nhau.
54. VỚI CÁI VÁ TRONG TAY (Dabbigaaha): Với cái muỗng lớn trong tay. ÐỨNG SẴN SÀNG (upa.t.thitaa): họ đi và đứng ở những ch? mà bữa ăn được phục vụ.
55. NHIỀU (Bahu.m): một lượng lớn, số nhiều. ÐẾN NHIỀU NGƯỜI (bahuuna.m): đến vô số. CHO (paadaasi): bố thí bằng nhiều cách khác nhau. TRONG MỘT THỜI GIAN DÀI (cira.m). Trong một thời gian lâu; Vị ấy sanh lên khi thọ mạng của con người là hai chục ngàn năm, đã bố thí dồi dào đến nhiều người trong suốt thời gian ấy. Ðể cho thấy cách mà vị ấy đã bố thí “với sự trông nom chu đáo v.v…” được nói đến. ở đây VỚI SỰ TRÔNG NOM CHU ÐÁO (sakkacca.m): Với sự tôn kính, với điều mà được cần đến và không suy tính. BẰNG CHÍNH TAY CỦA VỊ ẤY sahatthaa= sahatthena (thể văn phạm hoán chuyển): không chỉ bằng mệnh lệnh. CẨN THẬN (citti.m katvaa): Vị ấy cúng dường đến họ bằng những ý nghĩ cho ra của vị ấy có sự tôn kính và xem trọng. TRỞ ÐI TRỞ LẠI (punappuna.m): Nhiều lần, vị ấy không làm điều ấy một lần hay vài lần mà đã bố thí trong số vô trường hợp, đây là cách nên được hiểu. Bấy giờ để giải rõ đúng cái mà vị ấy đã làm niều lần, các vị kiết tập tam tạng đã nói lên câu kệ bắt đầu: (A”nkura) duy trì sự bố thí vĩ đại của vị ấy trong một thời gian dài, trong nhiều nửa tháng và nhiều tháng.
56. Ở đây, TRONG NHIỀU THÁNG (bahumaase): Trong nhiều và vô số tháng, bắt đầu bằng tháng (Citta). NHỮNG NỬA THÁNG (pakkhe): Trong nhiều nửa tháng, nửa tháng hạ huyền và nửa tháng thượng huyền của tháng. Trong NHIỀU MÙA VÀ NHIỀU NĂM (uttusa.m vaccharaani ca): Trong nhiều mùa như xuân hạ v.v… Và trong nhiều năm, mỗi năm bắt đầu bằng tháng citta; đây là đối cách mang ý nghĩa một thời gian dài liên tục. TRONG MỘT THỜI GIAN DÀI (diigha.m antara.m): Trong một thời gian dài, trong khi đã giải thích rồi rằng, “vị ấy đã bố thí trong một thời gian dài”, nói về sự duy trì việc bố thí của vị ấy trong một thời gian dài, câu kệ bắt đầu rằng, “Ankura đã duy trì sự bố thí vĩ đại của vị ấy trong một thời gian dài, trong nhiều nửa tháng và nhiều tháng” được lập lại để nhấn mạnh rằng vị ấy đã duy trì sự bố thí ấy trong một thời gian dài không gián đoạn – Ðây là cách nên được hiểu.
57. NHƯ VẬY (eva.m): Theo cách đã giải thích. ÐÃ CHO VÀ ÐÃ THỰC HÀNH SỰ HY SINH (datvaa yaasitvaaca): Những điều này đều giống nhau như một về ý nghĩa: Ðã bố thí bằng cách cho ra những vật thí đến những người xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường và, lại nữa, thực hành những sự hy sinh bằng sự hy sinh vĩ đại cho đến tất cả những ai cần đến nhiều như họ mong muốn theo cách đã giải rõ, nghĩa là vị sát đế lỵ này đã cho ra một cách dồi dào đến nhiều người. VỊ ẤY BỎ THÂN XÁC CỦA CON NGƯỜI VÀ ÐI ÐẾN CÕI BA MƯƠI BA (So hitvaa maanusa.m deha.m taavatimsuupago ahu): Vào lúc kết thúc đời sống, A”nkura từ bỏ trạng thái làm người và đi về với thiên chúng trong cõi ba mươi ba bằng sự tái sanh.
Trong khi vị ấy đang thọ hưởng sự vinh quang của chư Thiên sau khi đã sanh vào trong cõi ba mươi ba như vậy, trong thời của Ðức Thế Tôn của chúng ta có một chàng trai tên là Indaka, là người với lòng tịnh tín trong tâm, đã cúng dường một muỗng vật thực đến Trưởng lão Anuruddha khi Ngài đang đi khất thực. Ðến lúc vị ấy chết, do oai lực của việc phước đã gieo vào phước điền, được tái sanh trong cõi ba mươi ba, làm một vị chư Thiên có oai lực và đại thần thông, chiếu sáng rực rỡ và vượt trội hơn vị chư Thiên A”nkura về mười thuộc tính như tướng mạo chư Thiên v.v… Vì lý do này, có lời nói rằng:
58. Sau khi cho một muỗng vật thực đến anuruddha, Indaka bỏ thân xác của con người và đến cõi ba mươi ba.
59. Về mười cách, Indaka sáng chói hơn A”nkura: Là dung sắc, giọng nói, vị, hương thơm và vật xúc chạm, tất cả đều khả ái với tâm.
60. Về thọ mạng và danh tiếng, nước da, sự hạnh phúc và quyền lực- Như vậy Indaka sáng chói hơn A”nkura .
Chú giải:
59. Ở đây, VỀ TƯỚNG MẠO (ruupe): Về vấn đề liên quan đến hình tướng, nghĩa là về sự thù thắng của hình tướng của vị ấy. GIỌNG NÓI (sadde) v.v… Ðiều tương tự cũng được áp dụng như vậy vào những chữ nầy.
60. VỀ SỰ TRƯỜNG THỌ (aayunaa): Về thọ mạng. Nhưng không phải rằng thọ mạng của các vị chư Thiên được nói đến là một khoảng thời gian dài có xác định chăng? Ðiều ấy đúng nhưng chỉ là một quy luật chung vì, quả thật vậy, cái chết đến với một vài vị chư Thiên một cách yểu thọ vì không có những phương tiện v.v… Tuy nhiên, Iídaka sẽ sống đủ ba Ko.ti và sáu chục ngàn năm nữa. Vì lý do này mà có lời nói rằng “Vị ấy vượt trội hơn về sự trường thọ”. VỀ DANH VỌNG (yasasaa): sự thù thắng về tuỳ tàng đông đảo của vị ấy. VỀ NƯỚC DA (va.n.nena): Sự thù thắng về sắc thân của vị ấy. VỀ QUYỀN UY (aadhipaccena): Về quyền tối cao.
Khi A”nkura và Indaka thọ hưởng sự vinh quang của chư Thiên sau khi tái sanh trong cõi trời ba mươi ba như vậy thì Ðức Thế Tôn của chúng ta, vào hạ thứ bảy sau khi chứng đắc nhất thiết trí, đã thị hiện song thông vào đêm trăng tròn của tháng Aasaalhii, ở dưới gốc cây Ga.ndamba gần cổng của thành Saavatthi . Ðúng lúc, Ngài đi bằng ba bước chân, đến cõi ba mươi ba và ngồi trên tảng đá Pa.n.dukambala ở dưới chân của cây San hô, để thuyết giảng Abhidha.mma . Khi chiếu sáng rực rỡ như mặt trời mới mọc ở trên núi Yugandhara, Ngài chiếu ra hào quang từ chính thân của Ngài, vượt trội ánh sáng của những vị chư Thiên đi chung và những vị Brahma đã hội họp ở đó t? mười ngàn thế giới. Ngài trông thấy Indaka ngồi ở gần bên, và A”nkura ngồi ở cách xa mười hai do tuần, và nói lên câu kệ này với mục dích giải thích tầm quan trọng về pháp thành tựu nơi những bậc xứng đáng thọ lãnh vật cúng dường:
“Một sự bố thí vĩ đại đã được cho bởi ngươi, này A”nkura, trong một thời gian dài. Người lại ngồi quá cách xa – hãy đến trước mặt của Như Lai”.
Khi nghe qua điều này, A”nkura bèn bạch rằng, “Bạch Ðức Thế Tôn, con đã cho ra nhiều vật thực trong một thời gian dài, và dầu con đã duy trì sự bố thí vĩ đại ấy, nhưng vì không có được những bậc xứng đáng thọ lãnh những lễ vật cúng dường, giống như hạt giống được gieo vào thửa ruộng có đất cằn cỗi, nên không có quả báu dồi dào. Nhưng đối với Indaka, dầu vị ấy chỉ cho một vật thí gồm một muỗng vật thực, bởi vì vị ấy có được người xứng đáng thọ lãnh vật cúng dường, nên có trổ sanh, như hạt giống được gieo trên đám ruộng phì nhiêu, quả phước vô cùng dồi dào này. Những vị kiết tập Tam tạng nói những câu kệ này để minh hoạ quan điểm này:
61. Khi Ðức Phật, bậc cao quí nhất trong nhân loại, đang ngụ ở trên núi đá Pa.nduka.mpala ở dưới chân của cây san hô trong cõi ba mươi ba, Những vị chư Thiên từ mười ngàn thế giới đã đến tụ họp và tỏ sự tôn kính đến Ðức Phật khi Ngài lưu lại trên đỉnh núi.
63. Chẳng có vị chư Thiên nào vượt trội Ðức Phật về sắc tướng – Ðức Phật trội hơn tất cả những vị chư Thiên ấy, riêng Ngài chiếu sáng rực rỡ.
64. Vào lúc ấy, A”nkura ở cách xa mười hai do tuần trong khi Indaka, sáng chói hơn Vị ấy, đang ở gần bên Ðức Phật.
65. Ðức Phật, khi nhìn vào cả Iíkura và Indaka, bèn nói những lời này để đề cao những bậc đáng thọ lãnh vật cúng dường.
66. “Một sự bố thí vĩ đại được cho ra bởi ngươi, này A”nkura, trong một thời gian dài. Vậy mà Ngươi đã ngồi quá cách xa, hãy đến trước mặt Như lai”.
67. Bị thúc dục bởi Bậc đã tu chứng, A”nkura bèn đáp lại rằng, “những vật thí ấy có lợi ích gì cho con đâu? Chúng không có được những bậc xứng đáng thọ lãnh vật thí,
68. Trong khi đó, vị yakkha Indaka này đã cho ra một vật thí có phần nhỏ bé, thế mà sáng chói hơn chúng con như mặt trăng sáng trội các vì sao.
69. Cũng như nhiều hạt giống được gieo trên đám ruộng khô cằn, nó không cho kết quả dồi dào cũng không làm hài lòng người gieo.
70. Cũng vậy, nhiều vật thí, khi được đặt vào trong những người có hạnh kiểm nghèo nàn, thì không cho kết quả dồi dào, cũng không làm hài lòng người cho.
71. Và cũng như, khi hạt giống ít mà được gieo trên một đám ruộng phì nhiêu và có những đám mưa thích hợp tưới xuống, thì kết quả làm hài lòng người gieo.
72. Cũng vậy, có quả lớn khi việc phước, dầu nhỏ nhặt nhất, được làm đối với những người có bản tánh như có giới đức và có đức tánh khác…”
Chú giải:
61. Ở đây: Ở CÕI BA MƯƠI BA (taavati.mse): trong cõi Ba mươi ba. Ở TRÊN NÚI ÐÁ PANDUKAMBALA (silaaya.m pa.n.dukampale): Khi Ðức Phật, là bậc cao quí nhất trong nhân loại, đang ngụ ở trên chiếc ngai bằng đá tên là Pa.n.duka.mpala – đây là cách nên được hiểu.
62. CÁC VỊ CHƯ THIÊN ÐÃ HỘI HỌP TỪ MƯỜI NGÀN THẾ GIỚI (dasasu lokadhaatuusi sannipatitvaana devataa): Các vị chư Thiên thuộc cõi dục và các vị chư Thiên thuộc cõi Brahmaa đã hội họp cùng với những vị chư Thiên trong mười ngàn cakkavaala (thế giới sa bà) để tỏ sự tôn kính đến Ðức Phật, Ðức Thế Tôn, và với mục đích để nghe pháp, vì lý do này mà có lời nói rằng “Và tỏ sự tôn kính đến Ðức Phật khi Ngài đang lưu trú ở trên đỉnh của ngọn núi”. Nghĩa là trên đỉnh của ngọn núi Sineru .
64. LÚC BẤY GIỜ A”NKURA Ở CÁCH XA MƯỜI HAI DO TUẦN (Yojanaani dasa dve A”nkuro’ ya.m tadaa ahu): Lúc bấy giờ, vào lúc mà vị ấy xoay mặt về phía Bậc Ðạo sư, A”nkura có hạnh kiểm như đã nêu ra ở trên, ở cách xa mười hai do tuần, nghĩa là vị ấy đang ngồi ở một chỗ cách chỗ mà Bậc Ðạo sư đang ngồi mười hai do tuần.
67. Bị xúi dục bởi Bậc đã tu chứng (codito bhaavitattena): Bị thôi thúc bởi Ðức Phật toàn giác, bởi bậc có tâm tu tập bằng sự trau dồi các thánh đạo và tu tập Mười pháp Ba la mật. Những câu kệ bắt đầu bằng, “Những vật thí ấy có lợi ích gì đối với con?” Ðược nói bởi A”nkura để trả lời Bậc Ðạo sư. Ở đây, CHÚNG KHÔNG CÓ ÐƯỢC NHỮNG BẬC XỨNG ÐÁNG THỌ LÃNH NHỮNG VẬT CÚNG DƯỜNG (dakkhineyyena su~n~nata.m): “bởi vì những vật thí của con lúc bấy giờ không có được, trống rỗng, thiếu kẻ xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường, do đó những vật thí ấy có lợi ích gì đối với con?” Vị ấy nói, khi coi thường những vật thí của chính vị ấy.
68. YAKKHA (yakkho): Devaputta. ÐÃ CHO Dajjaa=Datvaa (thể văn pham hoán chuyển) SÁNG CHÓI HƠN CHÚNG CON (atirocati a.mhehi) vị ấy chiếu sáng rực rỡ, vượt trội ánh sáng của những kẻ như con: Hi (không được dịch) chỉ là một tiểu từ không biến đổi. Nghĩa là vị ấy chiếu sáng rực rỡ, sáng chói và vượt trội hơn chúng con. Vị ấy đã nói gì? “Như mặt trăng sáng trội hơn các vì sao?”
69. CÓ ÐẤT KHÔ CẰN (Ujjangale): Ðó là một mảnh đất cứng; một số nói rằng nó có nghiã là “đất phèn”. ÐƯỢC TRỒNG (ropita.m): Ðược gieo, hay được xới lên rồi trồng lại. KHÔNG LÀM HÀI LÒNG (na pi toseti): Chẳng làm hoan hỷ, hay không có sự hoan hỷ nào được tạo ra do bởi quả thiện của nó.
70. CŨNG VẬY (tath’eva): Nghĩa là cũng như, khi dầu có nhiều hạt giống được trồng trong một thửa ruộng có đất phèn, không cho kết quả dồi dào, không đem lại nhiều kết quả, không làm hài lòng người gieo trồng, dầu cho có nhiều vật thí cũng vậy, khi được đặc vào trong những người có hạnh kiểm nghèo nàn, trong những người không có giới, thì không đem lại nhiều quả báu, cũng không làm hài lòng người bố thí.
71. CŨNG NHƯ, KHI ÍT HẠT GIỐNG DẦU ÐƯỢC TRỒNG TRÊN ÐẤT PHÌ NHIÊU (yathaa pi bhaddake): ý nghĩa nên hiểu là điều trái ngược với đều đã được nói trong hai câu kệ trước – đây là cách nên được hiểu. VÀ NHỮNG ÐÁM MƯA THÍCH HỢP ÐƯỢC BAN XUỐNG (Sammaadhaara.m pavecchante): Và những đám mưa tưới xuống một cách thích hợp, nghĩa là khi trời mưa xuống từng năm, mười hay mười lăm ngày.
72. NHƯ CÓ NHỮNG ÐỨC TÁNH (Gunava.ntesu): Như chuyên tâm vào những đức tánh tốt như các tầng thiền v.v… ÐẾN NHỮNG BẬC CÓ BẢN TÁNH NHƯ VẬY (taadisu): Ðến những người đã đạt đến những đặc tính như có tánh chất thiện v.v.. HÀNH ÐỘNG (Kaara.m) được nêu ra với sự méo mó về giống tánh, nghĩa là một sự lợi hành. Vị ấy đã nói về loại lợi hành nào? Một hành động phước.
73. Những vật thí cho ra có sự phân biệt thời cái được cho ra có quả báo lớn. Khi những vật thí được cho ra với sự phân biệt thời những người bố thí sẽ đi đến cõi trời.
74. Bố thí với sự phân biệt được Ðức Sugata tán dương. Cái mà được cho đến những Bậc xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường ở đây trong đời này thì có quả báu lớn như hạt giống được gieo trên thửa ruộng màu mỡ.
Chú giải:
73. Ở đây, VỚI SỰ PHÂN BIỆT: Viceyya=Vicinitvaa (thể văn phạm hoán chuyển): Khi một người đã biết chắc bằng trí tuệ rằng người thọ lãnh vật thí được nêu ra là phước điền. Phần còn lại thì tự chúng đã rõ ràng hết rồi.
Khi bắt đầu bằng câu kệ rằng, “Một sự bố thí vĩ đại được cho ra bởi ngươi”, Ngạ quỉ sự về A”nkura này được nêu lên bởi Bậc Ðạo sư ở cõi ba mươi ba trước mặt các vị chư Thiên trong mười ngàn, nhằm mục đích giải thích tầm quan trọng của việc có được những bậc xứng đáng thọ lãnh những vật cúng dường. Khi Ngài đã thuyết tụng AbhiDhamma ở đó trong ba tháng và đã làm lễ Ðại Tự Tứ vị Deva ấy của những vị chư Thiên đã đi xuống từ cõi trời ấy, được vây quanh bởi những hội chúng chư Thiên, đến thành phố Sankassa . Ðúng lúc, Ngài đến tại Saavatthi và trong khi đang ngụ ở Jetavana, Ngài giảng giải chi tiết giữa tứ chúng nhằm mục đích giải thích tầm quan trọng của việc có được những bậc xứng đáng thọ lãnh những lễ vật cúng dường, bài pháp bắt đầu từ, “mục đích ấy mà nhờ đó chúng ta đang đi”, và đưa giáo pháp đến đỉnh cao bằng thời pháp về tứ đế. Vào lúc kết thúc của thời Pháp ấy, tuệ quán về diệu pháp đã sanh lên trong vô số ngàn Ko.ti chúng sanh.
-ooOoo-
[2.5]
II.10 UẤT ÐA LA MẪU QUỈ SỰ
(UTTARAMAATU PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Một vị Tỳ kheo mà đã đi để nghỉ trưa”. Ðây là Ngạ quỉ sự về mẹ của Uttara . Ðây là phần giải thích về ý nghĩa của nó.
Khi Hội kiết tập tam tạng lần thứ nhất đã được tổ chức tại chỗ nhập Niết bàn của Bậc Ðạo sư, Ðại Ðức Mahaa Kaccaayana đang ngụ cùng với mười hai vị Tỳ kheo trong một khu rừng nọ không cách xa thành Kosa.mbi . Lúc bấy giờ, một vị tư tế quan của vua Udena, là người trước kia đã trông coi những công việc của vị ấy trong thành phố ấy, đã chết. Bởi vậy đức vua cho gọi đứa con trai của ông ta đến, là một chàng thanh niên tên là Uttara, và bổ nhiệm cậu ta vào chức vụ quản đốc khi nói rằng, “Bây giờ ngươi phải trông coi những công việc mà trước kia cha của ngươi đã trông coi”. “Thưa vâng”, Cậu ta đáp lại. Vào một hôm nọ, cậu ta đi đến khu rừng, đem theo một số thợ mộc để kiếm một số gỗ về sửa sang thành phố. Trong khi ở tại đó, vị ấy đi đến chỗ ngụ của vị Trưởng lão đáng kính Mahaakacchaayana và trông thấy Trưởng lão đang ngồi một mình ở đó và đang mặc những chiếc y được làm bằng vải vụn từ đống rác. Ðầy lòng tịnh tín khi trông thấy riêng oai nghi này của Ngài, vị ấy đảnh lễ Trưởng lão, nói lời chào hỏi thân mật, và rồi ngồi xuống ở một bên. Rồi Trưởng lão thuyết pháp cho vị ấy. Khi đã nghe qua pháp, vị ấy có đầy lòng tịnh tín đối với Tam bảo và, khi đã được an trú trong tam qui, bèn mời Trưởng lão, khi nói rằng, “Bạch Ðại Ðức, xin Ngài hãy bi mẫn mà nhận lời mời của con đến Ngài và Chư Tăng để đến thọ thực trong ngày hôm sau”.
Trưởng lão nhận lời bằng cách im lặng. Rồi vị ấy rời khỏi chỗ ấy, đi đến thành phố và báo tin cho những thiện tín khác biết, khi nói rằng, “Tôi đã mời Trưởng lão trong ngày hôm sau. Các bạn cũng nên đến nhà của tôi nơi mà những vật thí sẽ được cho ra”. Vào lúc sáng sớm của ngày hôm sau, vị ấy sai sửa soạn vật thực loại cứng và loại mềm, sai công bố rằng đã đến giờ và rồi đi ra để đón tiếp Trưởng lão khi ngài đang đi đến với mười hai vị Tỳ kheo. Vị ấy đảnh lễ họ và mời họ vào nhà. Khi Trưởng lão và các vị Tỳ kheo đã ngồi trên những chỗ ngồi đã được soạn sẵn với những đồ trải đắc giá và thích hợp, vị ấy cúng dường đến các Ngài vật thơm, những bông hoa, hương trầm và đèn nến; và làm thoả mãn các Ngài bằng đồ ăn và thức uống thượng vị. Ðầy lòng tịnh tín và với hai tay chấp lại trong thái độ tôn kính, vị ấy lắng nghe lời tuỳ hỷ của các Ngài.
Khi Trưởng lão đang đi, sau khi sự phúc chúc cho bửa thọ thực đã được thực hiện, vị ấy cầm lấy bát Trưởng lão và, khi đi theo các Ngài, rời khỏi thành phố. sau khi đã thỉnh Trưởng lão quay lui, vị ấy thỉnh cầu Trưởng lão rằng, “bạch Ngài, Ngài nên viếng thăm nhà con thường xuyên”, và rồi trở về sau khi biết được Trưởng lão đã nhận lời mời. Khi hầu hạ Trưởng lão như vậy, vị ấy được an trú trong giáo giới của Trưởng lão và chứng đắc quả thánh Tu đà hườn. Vị ấy sai dựng lên một phước xá, khiến cho tất cả quyến thuộc của vị ấy được tìm thấy đức tin trong giáo pháp. Tuy nhiên, mẹ của vị ấy, có tâm bị che mờ bởi lòng bỏn xẻn và hay chửi mắng vị ấy như vầy, “Cầu cho đồ ăn và thức uống này mà mày đã cho đến các vị Sa môn như vậy, trái nghịch với ước muốn của tao, sẽ biến thành máu nhơ cho ngươi trong kiếp sau!” Tuy nhiên bà ta, đã bỏ ra một cành thoa bằng lông đuôi của con chim công để dâng cúng nó trong ngày đại nhựt của tịnh xá ấy. Khi bà ta chết và tái sanh trong cõi Ngạ quỉ và do quả phước của vật thí bằng cái thoa từ lông đuôi của con chim công nên tóc của bà ta đen, mướt, xoắn ở đuôi tóc, mịn và dài. Khi nữ quỉ đi xuống dòng sông Hằng nghĩ rằng ta sẽ uống nước”, thì dòng sông ấy biến thành máu. Trong năm mươi lăm năm nàng đi lang thang, bị đói và khát.
Rồi một hôm nọ nàng trông thấy Trưởng lão Ka.nkhaarevata đang ngồi trên bờ sông để nghỉ trưa. Nữ quỉ đi đến Trưởng lão trong khi che mình bằng mái tóc dài và xin Ngài một ít nước. Liên quan đến điều này, lời nói sau đây được nói đến, hai câu kệ cuối đã được lồng vào ở đây bởi những vị kiết tập Tam tạng:
1. “Con Nữ Ngạ quỉ trông xấu xí và ghê sợ ấy đi đến một vị Tỳ kheo mà đã đi nghĩ trưa và đang ngồi ở trên bờ sông hằng.
2. Tóc của nàng rất dài, xõa xuống đến đất. Ðược che phủ bởi tóc của nàng, nàng nói với vị Sa môn như vầy.
Chú giải:
1. Ở đây, TRÔNG GHÊ SỢ (Bhiirudassanaa): Trông khủng khiếp, trông rất dữ tợn. Một cách đọc khác là trông như Rudra (Ruddadassanaa), nghĩa là trông ghê tởm và tối.
2. TÓC XỎA XUỐNG ÐẤT: yaava bhummaa valampare= Yaava bhuumitaava alambanti (cách phối hợp trong thể văn pham hoán chuyển) Trước là “vị Tỳ kheo” và sau đó là “vị Sa môn” cả hai chữ đều được nói liên quan đến vị Trưởng lão Ka.nkhaarevata . Nữ Ngạ quỉ ấy đi đến Trưởng lão và để xin vị ấy nước, bèn nói lên câu kệ này:
3. Trong năm mươi lăm năm từ khi tôi chết, tôi không biết là đã ăn hay đã uống nước như thế nào xin hãy cho tôi một ít nước, thưa Ngài tôi bị khô khát vì thiếu nước.
Chú giải:
3. Ở đây, TÔI KHÔNG BIẾT LÀ ÐÃ ĂN (Nàbhijaanaami bhitta.m vaa): Suốt khoảng thời gian dài ấy tôi không biết là đã ăn hay là đã uống nước, nghĩa là tôi chưa hề ăn hay uống. Bị khô khát (Asitaa): bị khát. VÌ THIẾU NƯỚC (Paaniyaaya): “thưa Ngài, xin hãy cho tôi một ít nước, vì tôi đã đi lang thang để tìm kiếm nước”. Ðây là cách nên được hiểu.
Từ đây trở đi là những câu kệ nói về cuộc vấn đáp qua lại giữa Trưởng lão và nữ Ngạ quỉ:
4. “Nước mát của sông hằng chảy xuống từ Hi mã lạp sơn – ngươi có thể lấy một ít ở đây mà uống. Tại sao lại xin nước ở nơi ta?”
5. “Thưa Ngài, nếu chính tôi lấy nước từ sông hằng thời nó sẽ biến thành máu dành cho tôi. Ðó là lý do khiến tôi xin nước”.
6. “Ác nghiệp nào được làm bởi ngươi do thân, khẩu hoặc ý? Do kết quả của ác nghiệp nào khiến nước biến thành máu dành cho ngươi?”
7. “Thưa Ngài, con trai của tôi là Uttara, có đức tin và là một Thiện nam đã chống lại ý muốn của tôi, nó ban cho những vị Sa môn những y phục và những vật thực, những vật dụng và những chỗ ngụ.
8. Nhưng tôi, bị khuấy động bởi lòng bỏn sẻn, đã nguyền rủa nó như vầy, “Cầu cho những chiếc y và vật thực bố thí, những vật dụng và những chỗ ngụ mà mày ban đến cho những vị Sa môn, chống lại ý của tao.
9. Cầu cho điều này hãy biến thành máu dành cho ngươi trong kiếp sau, này Uttara!” chính do kết quả của nghiệp ấy khiến cho sông hằng trở thành máu dành cho tôi”.
Chú giải:
4. Ở đây, TỪ HIMAALAYA (Himavantato): Từ vua của các núi có tên gọi là Himalaya vì những số lượng tuyết bao la của nó (Himassa). CHẢY XUỐNG (sandati): Ði từ. TỪ ÐÂY (Etto): Từ nơi đây, từ sông hằng vĩ đại này. TẠI SAO? (kim): Vị ấy chỉ ra rằng, vì lý do nào khiến ngươi xin nước từ nơi ta? Hãy đi xuống sông hằng mà uống nhiều chừng nào mà ngươi thích.
5. NÓ BIẾN THÀNH MÁU DÀNH CHO TÔI (Lohita.m me parivattati): Do bởi ác nghiệp khiến nước, khi nó chảy, trở thành máu dành cho tôi, trở thành, hoá thành, biến thành máu. Nước trở thành máu ngay khi nàng chạm tay vào nó.
7. TRÁI NGHỊCH ƯỚC MUỐN CỦA TÔI (mayha.m Akaamaaya): Trái nghịch với những ý thích của tôi. Ban cho (Pavecchati): Bố thí. NHỮNG VẬT DỤNG (Paccaya.m): Những vật dụng dành cho người bệnh.
9. ÐIỀU NÀY (eta.m): “Cầu cho những vật dụng này, như y phục v.v… mà ngươi ban ra, mà ngươi cho đến các vị Sa môn – cầu xin cho điều này trở thành máu dành cho ngươi trong kiếp sau, này Uttara ạ!” Chính do kết quả của điều này, do ác nghiệp được làm bởi lời nguyền rủa này, đây là cách nên được hiểu.
Rồi Ðại Ðức Revata đã cho một số nước đến Chư Tăng nhân danh nữ ngạ quỉ, đi khất thực và lấy vật thực mà vị ấy đã gom được đem dâng đến chư Tăng. Vị ấy lượm những miếng vải từ đống rác v.v… rửa sạch chúng rồi kết thành những tấm nệm và tấm thảm, và cho đến các vị Tỳ kheo. và bằng cách này, nữ Ngạ quỉ ấy đạt đến sự vinh quang của chư Thiên. Nàng đi đến Trưởng lão và cho Trưởng lão thấy sự vinh quang của chư Thiên mà nàng đã đạt được. Trưởng lão giải thích vấn đề ấy với tứ chúng mà đã đến trước mặt Trưởng lão và rồi ban ra một thời pháp thoại. Dân chúng, đầy xúc động, nhờ đó được thoát khởi bợn nhơ của lòng ích kỷ và lấy làm hoan hỷ trong những thiện pháp như bố thí v.v…
Quỉ sự này nên được xem là đã được kết thúc trong bản sưu tập này tại hội kiết tập lần thứ hai.
-ooOoo-
II.11 TƯ NGẠ QUỈ SỰ
(SUTTA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Trong quá khứ tôi đã cho một vị Tỳ kheo, một người đã xuất gia”, Ðây là Ngạ quỉ sự về sợi chỉ. Câu chuyện đã bắt nguồn như thế nào?
Tương truyền rằng, trên bảy trăm năm trước khi Bậc Ðạo Sư của chúng ta ra đời, ở trong một ngôi làng nọ không cách xa thành (Savatthi), có một chàng trai nọ đã hộ độ một vị Phật Ðộc Giác. Khi anh ta đến tuổi Trưởng thành, người mẹ kiếm về cho anh ta một đứa con gái của một gia đình tốt từ dòng dõi có địa vị ngang hàng, nhưng chính ngày mà cậu ta sắp kết hôn thì chàng trai, khi đã đi chung với một số bạn bè để tắm, bị một con rắn cắn chết. Người ta còn nói rằng chính vì cậu ta bị một con dạ xoa nhập vào. Dầu cậu ta đã làm nhiều việc thiện bằng sự hộ độ ấy của cậu ta đến Ðức Phật Ðộc giác, tuy nhiên, vì cậu ta luyến ái với cô gái nên phải sanh làm một Vimaanapeta, nhưng có thần thông và oai lực lớn. Khi muốn đem cô gái vào trong cung điện của mìmh, vị ấy tự nghĩ rằng. “Bây giờ bằng cách nào để nàng có thể làm một việc phước, để sống và hưởng những khoái lạc của tình yêu với ta ở đây trong chính cuộc sống này? Trong khi vị ấy đang suy xét cách để nàng có thể sống trong sự vinh quang của ái lạc thần tiên thì trông thấy một vị Phật Ðộc Giác đang làm y. Vị ấy đi đến trong hình tướng của con người và đảnh lễ Ngài, rồi hỏi rằng: “Bạch Ngài, Ngài có cần chỉ không?” “Chúng ta đang làm những chiếc y, này thiện nam”, Ðức Phật Ðộc giác đáp lại. Vị ấy chỉ về ngôi nhà của cô gái mà nói rằng, “Thôi được, Ngài nên đi và xin một ít chỉ ở tại chỗ đó”. Ðức Phật Ðộc giác đi đến đó và đứng ở cửa nhà.
Khi nàng trông thấy Ðức Phật Ðộc giác đang đứng ở đó, nàng nhận ra rằng Bậc Ứng cúng đang cần một ít chỉ từ nàng và, với lòng tịnh tín trong tâm, đã dâng đến Ngài một cuộn chỉ. Rồi vị chư thiên trong lốt người ấy đi đến nhà của cô gái, xin phép mẹ của nàng và sống với nàng trong vài ngày. Ðể giúp đỡ mẹ của nàng, vị ấy bỏ đầy tiền và vàng trong tất cả những cái hũ trong nhà của họ và viết tên của vị ấy ở trên tất cả chúng, khi nói rằng, “Của cải này đã được cho bởi các vị chư thiên thì sẽ không ai có thể lấy được”, rồi dẫn cô gái vào trong cung điện của vị ấy. Mẹ của nàng, khi đã có được nhiều của cải này, bèn cho đến những quyến thuộc của mình, đến những người nghèo khổ và những người vô gia cư v.v… Và chính bà ta cũng dùng nó. Khi bà ta đang lâm chung, bà ta nói với những quyến thuộc rằng, “Nếu con gái của tôi đến thì hãy chỉ cho nó của cải này” Và rồi chết.
Rồi bảy trăm năm sau khi Ðức Thế Tôn của chúng ta xuất hiện trong thế gian và lăn bánh xe chánh pháp, và đến đúng lúc đang trú ngụ ở Saavatthi, sự bất mãn sanh đến cho người đàn bà đang sống với vị phi nhân. Nàng nói với vị ấy rằng, “Thưa lang quân, hãy đem em trở lại với căn nhà của chính em”, và rồi nói lên những câu kệ này:
1. “Trong quá khứ tôi đã cho đến một vị Tỳ kheo, đến một người xuất gia, số chỉ mà vị ấy đã đến xin tôi. Do kết quả của điều ấy, phước báu dồi dào được thọ lãnh và nhiều Ko.ti y phục đã xuất hiện dành cho tôi.
2. Cung điện của chàng được trải ra bằng những bông hoa và trông khả ái, nó có vô số bức tranh và được hầu hạ bởi những người đàn ông và đàn bà. Tôi xử dụng nó và tự mặc y phục, tuy nhiên nhiều vật sở hữu vẫn không hết.
3. Do kết quả của việc phước ấy, hạnh phúc và khoái lạc được thọ lãnh ở đây. Khi tôi lại đi đến cõi người một lần nữa, tôi sẽ quyết tâm làm những việc phước. Xin hãy đem tôi đi, thưa lang quân”.
Chú giải:
1. Ở đây, ÐẾN MỘT VỊ TỲ KHƯU, ÐẾN MỘT NGƯỜI ÐÃ XUẤT GIA (pabbajitassa Bhikkhuno): điều này được nói đến liên quan đến Ðức Phật Ðộc giác. Vị ấy là người xuất gia trong ý nghĩa cao tột, vì vị ấy đã từ bỏ những bợn nhơ của dục trần v. V… trong chính tâm của vị ấy, không dư sót. Vị ấy xứng đáng được gọi là ” Tỳ kheo” vì vị ấy đã đoạn trừ những phiền não (Bhinnakilesattaa). SỢI CHỈ (Sutta.m)! chỉ bông gòn. VỊ ẤY ÐÃ ÐẾN (Upagamma): Vị ấy đi đến nhà của tôi. XIN TÔI (Yaacitaa): Vị ấy xin tôi bằng cách đi khất thực, khi xử dụng oai nghi về thân, có thể nhận ra được để gợi cho biết rằng, “Các bậc thánh đứng chỉ biểu lộ rằng đây là sự xin ăn của những bậc Thánh”. CỦA CẢI ÐÓ (Tassa): của vật thí về cuốn chỉ ấy. KẾT QUẢ LÀ QUẢ BÁU DỒI DÀO ÐÃ NHẬN ÐƯỢC (Vipaako vipulapha ‘upalabbhati): Kết quả là quả phước dồi dào về phước điền cao cả nhất, phước điền vĩ đại nhất, bây giờ đã nhận được. NHIỀU (bahuu): Vô số. Những Koti y phục: Vattha kotiyo = Vatthaana.m kotiyo (phối hợp cách), nghĩa là vô số trăm ngàn loại y phục khác nhau.
2. NÓ CÓ VÔ SỐ BỨC TRANH (Anekacitta.m): Nó có nhiều loại tác phẩm về tranh hoạ hay nó được trang hoàng bằng vô số châu báu như Ngọc trai, ngọc thạch v.v… ÐƯỢC HẦU HẠ BỞI NHỮNG NGƯỜI ÐÀN ÔNG VÀ ÐÀN BÀ (naranaarii sevita.m) được phục vụ bởi những người đàn ông và đàn bà như là những người hầu. TÔI DÙNG LẤY NÓ (Saaha.m bhu~njaani): Tôi hưởng dụng cung điện này. MẶC VÀO MÌNH (Paarupaami): Mặc vào, mang vào, bất cứ cái gì tôi muốn giữa vô số Koti y phục. NHIỀU CỦA CẢI (bahuutavittaa) nhiều của cải thuộc về những vật dụng cần thiết của đời sống, thuộc về của cải lớn và tài sản lớn. VẪN KHÔNG HẾT (Na ca taava khiiyati): Tuy nhiên, những của cải ấy, không suy giảm, không kiệt tận.
3. VÌ VẬY, DO KẾT QUẢ CỦA CHÍNH HÀNH ÐỘNG ẤY (Tass’a eva kammassa vipaaka.m anvayaa). Do vậy, do bởi, do chính riêng việc phước của vật thí bằng cuốn chỉ ấy mà hạnh phúc và hỉ lạc đang trổ sanh bao gồm cái đáng ưa thích, đã thọ lãnh được ở đây, trong cung điện này. KHI ÐÃ TRỞ LẠI CÕI NGƯỜI MỘT LẦN NỮA (gantvaa puna-m-eva maanusa.m): khi đã đi đến cõi người lại một lần nữa, “TÔI QUYẾT TÂM LÀM NHỮNG VIỆC PHƯỚC (Kaahaami pu~n~naami): tôi sẽ làm những việc phước mà sẽ đem lại hạnh phúc đặc biệt dành cho tôi, hay những điều mà từ đó sự vinh quang đạt được bởi tôi – đây là ý nghĩa. HÃY ÐEM TÔI ÐI, THƯA LANG QUÂN (Nay’eyyaputta ma.m): Nghĩa là hãy mang tôi đi (Naya= Nehi, thể văn phạm hoán chuyển) đến cõi người, thưa lang quân.
Khi nghe qua điều này, vị phi nhân ấy, không muốn đi vì do lòng ái luyến và cũng thương hại cho nàng, bèn thốt lên câu kệ này:
4. “Ðã bảy trăm năm từ khi em đến đây. Em sẽ già và tại đó sẽ bịnh lão, và tất cả những quyến thuộc của em có lẽ đã chết rồi. Em sẽ làm gì khi từ đây em đi đến chỗ đó?
Chú giải:
4. Ở đây, BẢY (Satta): đây là một thuộc ngữ có sự lượt bỏ của biến tố hay một cách nói đặc biệt trong thể công cụ. HẰNG TRĂM NĂM Vassasataa = vassasatato (thể văn phạm hoán chuyển): là trên bảy trăm năm từ khi em đến cung điện này, nghĩa là bảy trăm năm kể từ khi em đến đây. EM SẼ GIÀ VÀ TRỞ NÊN CAO TUỔI (jji.n.naa ca vu.d.dhaa ca tahim bhavissati): em đã giữ gìn hình tướng trẻ trung của em trong suốt bấy lâu nay do năng lực của nghiệp ấy, mà nhờ đó em tồn tại ở đây bằng vật thực và nhiệt độ của chư Thiên. Nhưng khi em đã đi khỏi đây, do hết nghiệp ấy và do vật thực và nhiệt độ của loài người, em sẽ già và tăng cao tuổi trong cõi ấy. VÀ NHỮNG QUYẾN THUỘC CỦA EM KHI ẤY ÐÃ CHẾT HẾT RỒI (Sabbe ca te kaalakataa ‘va ĩaatakaa): Trong đó, m?t thời gian dài như vậy đã trôi qua rồi, tất cả những quyến thuộc của em ắc đã chết hết rồi. Do đó em sẽ làm gì khi em đi đến chỗ ấy, đi đến cõi người ấy, từ đây, từ cõi Devaloka này? hãy lại đây, hãy sống cuộc sống còn lại của em ngay tại đây – đây là ý nghĩa.
Khi vị ấy đã nói như vậy, nàng bèn nói mà không tin điều mà vị ấy đã nói, và thốt lên câu kệ này:
5. “Chỉ có bảy năm kể từ khi đến đây, em có được hạnh phúc thần tiên. Khi em đã trở lại cõi người một lần nữa, em quyết định làm những việc phước. Hãy đem em đi, thưa lang quân.
Chú giải:
5. Ở đây, CHỈ CÓ BẢY NĂM KỂ TỪ KHI EM ÐẾN ÐÂY (Satt’eva vassaani idhaagataaya me) thưa lang quân, xem ra đối với em chỉ có bảy năm đã trôi qua kể từ khi em đến đây. Nàng nói theo cách này vì nàng không nhận biết rằng nhiều thời gian đã trôi qua.
Khi Nàng đã nói như vậy, vị Vimaanaapeta ấy bèn khuyên nàng bằng nhiều cách, “Em sẽ không sống ở đó trên bảy ngày kể từ bây giờ. Sẽ có một số của cải được cho bởi ta và do mẹ em cất. Hãy cho nửa số của cải này đến các vị sa môn và Bà la môn với ước muốn rằng, em có thể sanh lên ngay tại đây,” Khi đã nói điều này, vị ấy bèn nắm lấy tay nàng và đặt nàng ở giữa ngôi làng của nàng, khi nói cho nàng biết rằng nàng nên sách tấn những người khác, mà cũng đến đó, làm những việc phước theo khả năng của họ, và rồi vị ấy ra đi. Vì lý do này mà có lời nói rằng:
6. Vị ấy cầm chắc cánh tay của nàng và dẫn nàng về, sắp già và yếu đuối, khi nói rằng, “Nàng hãy bảo những người khác mà cũng đến đây rằng, “Hãy làm những việc phước, rồi hạnh phúc sẽ nhận được”.
Chú giải:
6. Ở đây, VỊ ẤY (So): Vị Vinaamapeta . NÀNG (ta.m): Người đàn bà: NẮM CHẮC CÁNH TAY (gahetvaana pa sayyha baahaaya.m): Nắm chắc cánh tay của nàng tựa như dùng sức. DẪN NÀNG VỀ (Paccaanayitvaana): Lại dẫn nàng đến ngôi làng nơi mà nàng đã sanh ra và đã lớn lên. SẮP GIÀ (Theri.m): Như một người đàn bà sắp già, nghĩa là già và lớn tuổi. YẾU ÐUỐI (Sudubbala.m): yếu đuối vì tuổi tác và tình trạng lụ khụ của nàng. Người ta nói rằng ngay khi nàng rời khỏi cung điện ấy thì nàng trở nên già cao tuổi, bị chi phối bởi tuổi già, đã sống qua thọ mạng của nàng và đã ở cuối kiếp sống của nàng. NÀNG NÊN NÓI (vajjesi = vaadeyyaasi) (Thể văn phạm hoán chuyển). Ðể cho nàng thấy điều nào sẽ phải nói, “Những người khác mà cũng đã đến” v.v… Ðược nói đến. Ðây là ý nghĩa: “Này em yêu, em nên làm những việc phước và em nên bảo những người khác, nên sách tấn những người khác mà đã kéo đến đây để thăm em, rằng, “Thưa các bạn kính mến, cho dù cái đầu cuả các bạn và y phục của các bạn bị cháy sáng, các bạn cũng không biết điều này và hãy làm những việc phước, như bố thí v.v… Vì khi những việc phước đã được làm rồi, thì hạnh phúc là quả của chúng chắc chắn sẽ nhận được, đừng sanh tâm nghi ngờ gì về điều này cả!”
Khi vị ấy đã nói lên điều này và đã đi khỏi chỗ đó, người đàn bà đi đến chỗ ngụ của những quyến thuộc của nàng và cho họ biết nàng. Nàng lấy của cải mà họ dâng đến và, khi cho những vật thí đến các vị Sa môn và Bà la môn, bèn sách tấn tất cả mọi người mà đi đến trước mặt nàng, bằng câu kệ này:
7. “Những Peta và những con người cũng vậy đã được tôi trông thấy khi họ đi đến chỗ ưu bi do không làm điều gì tốt đẹp, cũng như các vị chư thiên và nhân loại là giống loại an trú trong hạnh phúc, sau khi làm những việc phước mà quả sẽ được thọ hưởng là hạnh phúc”.
Chú giải:
7. Ở đây, DO ÐÃ KHÔNG LÀM (akatena): do đã không tạo ra, do đã không tự thân tích lũy. ÐIỀU GÌ TỐT ÐẸP (Saadhunaa): Những nghiệp thiện. KHI HỌ ÐI ÐẾN ƯU BI (Viha~n~nanti): Khi họ gặp phải đau khổ. MÀ QUẢ SẼ ÐƯỢC THỌ HƯỞNG LÀ HẠNH PHÚC (Sukhavedaniiya.m): Những việc phước đem lại kết quả hạnh phúc ÐỨNG VỮNG TRONG HẠNH PHÚC (sukhe .thitaa): an trú trong hạnh phúc; một cách đọc khác là: Ðược nuôi dưỡng trong hạnh phúc”. (Sukhedhitaa): Nghĩa là chúng lớn lên và hưng thịnh theo bởi hạnh phúc. Ðây là ý nghĩa ở chỗ này: cũng như những Ngạ quỉ, và loài người cũng vậy, được trông thấy bởi tôi là đang đi đến chỗ ưu bi, gặp phải sự khổ của đói và khát v.v… Và chịu sự đau khổ lớn do đã không làm điều gì có tánh chất thiện và do đã làm điều gì có tánh chất bất thiện, cũng vậy loại chúng sanh thuộc về chư thiên và nhân loại được tôi trông thấy, đã được an trú trong hạnh phúc sau khi làm những nghiệp mà quả sẽ được thọ hưởng là hạnh phúc, do đã làm những thiện nghiệp và do không làm nghiệp bất thiện. Ðiều này được trông thấy bởi tôi bằng chính mắt của tôi. Do đó, hãy chuyên tâm thực hành vào các việc phước, tránh xa những điều ác.
Khi đã sách tấn họ như vậy, nàng tổ chức một cuộc bố thí lớn dành cho các vị Sa môn và Bà la môn, kéo dài trong bảy ngày. Vào ngày thứ bảy, nàng chết và tái sanh trong cõi Ba mươi ba. Các vị Tỳ kheo nêu lên vấn đề với đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết giảng chánh pháp cho hội chúng đã hội hợp ở đó. Ngài đã giải thích chi tiết về lợi ích lớn và quả báu lớn của những vật thí được dâng đến… Chư Phật Ðộc Giác. Khi nghe qua Pháp thoại này, họ được thoát khỏi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn và lấy làm thoả thích trong những việc phước như bố thí v.v…
-ooOoo-
II.12 VÔ NHĨ KHUYỂN CẨU QUỈ SỰ
(KA.N.NAMU.N.DA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Những bậc thang của ngươi bằng vàng”. Câu chuyện này được nói đến trong khi Bậc Ðạo sư đang ngụ ở Saavatthii, liên quan đến nữ Ngạ quỉ Ka.n.na Mu.n.da .
Tương truyền rằng cách đây đã lâu, trong thời kỳ của đức Phật Kassapa, tại kinh đô Kimbilaa có một vị Thiện Nam nọ, là bực thánh Tu đà huờn và có cùng một đức tin với năm trăm vị Thiện Nam khác. Vị ấy siêng năng làm những việc phước như trồng những vườn cây khả ái, đắp đê, làm cầu v.v… Và trong khi đang ngụ ở đó, v? ấy cho dựng lên một Tinh xá dành cho chư Tăng và thỉnh thoảng đi với họ đến tinh xá ấy. Những người vợ của họ cũng là những tín nữ và trong khi, thỉnh thoảng, đi đến đó trong sự hoà hợp với nhau và, mang theo những vật thơm, những tràng hoa và dầu xức… dọc đường họ muốn nghỉ chân ở những khu vườn khả ái và những nhà nghĩ v.v… trước khi tiếp tục đi. Rồi một hôm nọ, một số tên lừa đảo đang ngồi với nhau ở một trong những nhà nghỉ, chú ý đến sắc đẹp của họ khi họ bỏ đi sau khi đã nghỉ ở đó, và đã đem lòng ái luyến những nữ nhân ấy. Khi chúng nhận biết rằng những nữ nhân ấy có giới hạnh, chúng bắt đầu nói chuyện với nhau khi tự hỏi rằng, “Ai có thể làm nứt rạn giới của một người nào đó trong nhóm nữ nhân này?” “Tôi có thể”, một người trong bọn chúng nói lên. Chúng đánh cuộc rằng, “Chúng ta đánh cuộc một ngàn đồng. Nếu anh không làm được điều ấy thời anh phải nộp cho chúng tôi một ngàn đồng”.
Khi cố gắng bằng vô số cách, do bởi lòng tham được tiền và sợ thua cuộc, anh ta chơi đàn vii.na bảy dây, tạo ra những tiếng nhạc du dương, khi họ đi đến nhà nghỉ. Khi hát những bản nhạc mang tánh chất khiêu dâm với giọng hát ngọt ngào của anh ta, bằng âm thanh của bản nhạc ấy, anh ta đã khiến cho một người đàn bà nọ trong bọn họ làm rạn nứt giới hạnh của nàng, rồi tà dâm với nàng và được một ngàn đồng từ những tên lưu manh ấy. Những người mà thua một ngàn đồng bèn thuật lại vấn đề ấy với chồng của nàng. Vì không tin họ, nên vị ấy hỏi nàng rằng: “Cô có làm như những người này nói không?” “Tôi không biết điều gì như thế cả”, nàng phủ nhận. Thấy anh ta không tin nàng, nàng bèn chỉ về một con chó mà đang đứng gần đó và thề rằng, “nếu em làm một điều gì ác như thế này, thì xin cho con chó bị đứt tai ấy ăn thịt của em ở bất cứ nơi nào mà em sanh ra”. Dầu năm trăm nữ nhân ấy biết rằng nàng là một kẻ tà dâm, khi được hỏi rằng, “cô ta đã có phạm một ác nghiệp như thế hay không?” họ nói dối rằng,
“Chúng tôi không biết như thế đâu”, và thề rằng, “Nếu chúng tôi biết điều này thời xin cho chúng tôi làm những nô lệ của nàng trong tất cả những kiếp sống mai sau”.
Bấy giờ người đàn bà tà dâm trở nên gầy mòn ốm yếu do bị dằn vặt bởi lương tâm cắn rứt và, chẳng bao lâu sau thì chết. Nàng sanh làm một vimaanapetii ? trên bờ hồ Ka.n.namu.n.da, là một trong bảy cái hồ lớn của núi Himaalaaya, chúa của các núi, và ở bên ngoài quanh khắp cung điện của nàng có sanh lên một hồ sen thích hợp để cho nàng hưởng quả của các nghiệp của nàng. Khi năm trăm nữ nhân còn lại chết, họ sanh làm những nô lệ của nàng do bởi lời thề của họ. Do quả của những việc phước được làm trước kia, nàng thọ hưởng sự vinh quang thần tiên ở đó suốt ngày, nhưng vào lúc nửa đêm, bị thúc dục bởi những năng lực của những ác nghiệp của nàng, nàng đứng dậy khỏi chiếc giường của nàng và đi đến bờ của hồ sen. Khi nàng đi đến đó, thì một con chó đen có cỡ bằng con voi trẻ, có hình tướng ghê sợ, hai tai bị đứt, những cái răng nanh dài lồi ra, nhọn và trông dữ tợn, và đôi mắt của nó mở rộng và giống như những cục than cháy đỏ của gỗ Acacia, lưỡi của nó thè ra như một tia chớp không bị đứt đo?n, những cái móng nhọn và trông dữ tợn, và lông bờm xờm, dài một cách dị hợm, nhân đó nó đến và vật nàng xuống đất, hùng hổ xé xác nàng như người bị đói quá mức. Khi nó đã ăn thịt nàng đến chỉ còn một bộ xương, nó dùng những cái nanh của nó tha nàng đi và ném nàng vào trong hồ sen rồi biến mất. Khi bị ném vào trong đó, ngay tức thì nàng trở lại hình tướng bình thường của nàng, và sau khi trèo đến cung điện của nàng. nàng lại nằm trên chiếc giừơng. Tuy nhiên, những người khác thì phải chịu khổ do phải làm nô lệ cho nàng mà thôi.
Chúng tiếp tục sống ở đó theo cách này cho đến khi năm trăm mươi năm đã trôi qua, nhân đó chúng trở nên bất mãn vì chúng tiếp tục thọ hưởng sự vinh quang của thần tiên như vậy mà không có sự hiện diện của người đàn ông nào. Bấy giờ, ở đó có một con sông chảy ra từ hồ Ka.n.namu.n.da và chảy vào sông Hằng sau khi đi ngang qua một khe núi. Gần chỗ ngụ của họ là một khu rừng giống như một khu vườn khả ái được trang điểm bởi nhiều trái cây của chư Thiên, những cây xoài mít v.v… Chúng suy nghĩ như vầy, “bây giờ, nếu chúng ném những trái xoài này xuống con sông thì chắc chắn sẽ có một người nào đó trông thấy nó và đi đến do muốn được những trái như vậy, và rồi chúng ta có thể vui chơi với người đàn ông ấy. Và chúng đã làm đúng điều này. Một số trái xoài mà chúng ném được bắt lấy bởi những vị Ðạo sĩ, một số bởi những người thợ rừng và một số dính vào bờ sông. Tuy nhiên có một trái trôi theo dòng nước của Sông Hằng, và đúng lúc đến tại xứ Ba la nại.
Lúc bấy giờ, vua của xứ Ba la nại đang tắm ở trong dòng sông Hằng bên trong vòng đai lưới bằng đồng, và trái ấy, trôi đi theo dòng nước, đúng lúc trôi đến và dính vào cái lưới bằng đồng ấy. Khi những quân hầu của Ðức vua trông thấy trái xoài của chư thiên đồ sộ ấy và có đầy màu sắc, hương vị. Họ dâng trái xoài ấy đến Ðức vua. Ðức vua lấy một phần và để thử nó, bèn cho nó đến một tên cướp đang bị giam ở trong tù, chờ ngày xử trảm, ăn nó. Khi anh ta đã ăn nó rồi, anh ta bèn nói rằng, “Tâu bệ hạ, trước kia chưa bao giờ thần được ăn một trái xoài như vậy; theo thần nghĩ, đây chắc là một trái xoài của chư thiên”. Ðức vua cho anh ta một lát xoài nữa, và khi anh ta đã ăn nó thì tóc bạc của anh ta và những nét nhăn biến mất, và anh ta trở nên vô cùng hấp dẫn về sắc tướng, giống như người vẫn còn trong thời thơ ấu của mình. Khi đức vua trông thấy điều này, vị ấy đầy ngạc nhiên và tò mò, ăn trái xoài và được tánh thanh lịch về thân. Vị ấy hỏi những quân hầu của mình rằng, “những trái xoài như vậy được tìm thấy ở đâu?” “Người ta đồn rằng nó ở trên núi Himaalaya, là vua của các núi, tâu bệ hạ”, quân hầu nói và khi được hỏi, “có thể đi hái chúng đem về được không?” chúng nói rằng, “Những người thợ rừng chắc biết, tâu bệ hạ”. Ðức vua cho gọi những người thợ rừng đến, nói cho họ biết vấn đề và rồi hỏi ý kiến của họ. Vị ấy cho một ngàn Kahaapana đến một người thợ rừng nghèo khổ và sai anh ta đi khi nói rằng, “Hãy đi nhanh và đem về trái xoài như thế này cho ta”.
Anh ta trao một ngàn Kahaapana cho vợ và các con, lấy những thứ dự trữ cho chuyến hành trình và đi ngược dòng sông Hằng, hướng về hồ Ka.n.namu.n.da . Khi anh ta đã đi khỏi những con đường đi của loài người, anh ta trông thấy một đạo sĩ ở một chỗ nằm bên dưới hồ Ka.n.namu.n.da xa sáu chục Do tuần. Khi đi dọc theo con đường được mô tả bởi vị ấy, anh ta lại trông thấy một đạo sĩ ở một chỗ xa hơn ba mươi do tuần. Khi đi dọc theo con đường được mô tả bởi vị đạo sĩ nầy, anh ta lại trông thấy một Ðạo sĩ nữa ở một chỗ xa hơn ba mươi do tuần. Khi đi dọc theo con đường được mô tả bởi vị ấy, anh ta lại trông thấy một Ðạo sĩ khác ở một chỗ xa mười lăm do tuần và nói cho vị ấy biết lý do về chuyến đi của mình. Ðạo sĩ khuyên anh ta rằng: “Từ đây đi tiếp, anh sẽ rời khỏi con sông Hằng to lớn này và đi theo một con sông nhỏ ngược dòng cho đến khi anh trông thấy một khe núi, khi đó anh sẽ cầm một cây củi đang cháy dở và đi vào lúc đêm tối. Khi con sông không chảy vào lúc đêm tối thì đây là thời gian thích hợp để anh đi tiếp. Khi anh đã đi được vài do tuần, anh sẽ trông thấy những trái xoài”. Anh ta làm đúng điều này và khi mặt trời mọc, anh ta đến rừng xoài vô cùng hấp dẫn ấy; ở đó vang dội những bài ca của những đàn chim thuộc nhiều loại và được tô điểm bởi những khóm cây và những nhánh trải ra của chúng oằn xuống dưới thấp do sức nặng của những trái xoài mà chúng mang. Quang cảnh thật lộng lẫy với những chùm hào quang của những loại ngọc báu.
Khi những thiếu nữ phi nhân ấy trông thấy anh ta đang đi đến ở một khoảng xa, chúng chạy đến anh và nói rằng, “Người đàn ông này thuộc về của tôi!, người đàn ông này thuộc về của tôi!”. Tuy nhiên khi anh ta trông thấy họ, thì anh ta lấy làm sợ hãi, vì anh ta không phải là người đã làm những việc phước để được thọ hưởng sự vinh quang của thần tiên ở đó với chúng, và khi kêu to, bèn chạy đi và thuật lại biến cố ấy với Ðức vua sau khi anh ta đi đến Ba la nại. Khi đức Vua nghe qua điều này thì vị ấy đầy mong ước được trông thấy mỹ nhân ấy và được ăn những trái xoài ấy. Bởi vậy, vị ấy giao vương quốc cho những vị quan cố vấn đặc biệt của mình, và khi lấy cớ là đi săn, bèn đi theo con đường được chỉ bởi người thợ rừng. Ðược theo hầu bởi một nhóm tuỳ tùng, vị ấy để quân hầu của mình ở một chỗ cách xa vài do tuần và tiếp tục dẫn người thợ săn đi và. Ðến đúng lúc, vị ấy cũng cho anh ta quay lui từ đó và đi vào khu rừng xoài khi mặt trời đang mọc lên.
Khi những thiếu nữ trông thấy vị ấy như một vị chư thiên mới sanh lên, họ bèn đi ra để đón tiếp vị ấy. Rồi khi nhận ra rằng, đó là vua, họ khởi lên tình cảm rạc rào và lòng kính trọng. Họ tắm cho đức vua thật chu đáo và trang điểm cho vị ấy một cách xinh đẹp bằng những y phục, vật trang sức, tràng hoa, vật thơm và dầu xức của chư thiên, rồi dẫn vị ấy lên cung điện của họ. Ở đó, họ cho vị ấy ăn vật thực của chư thiên có những hương vị hảo hạng, hầu hạ vị ấy theo những sở thích của vị ấy.
Rồi sau một trăm năm đã trôi qua, đức vua thức dậy vào lúc nửa đêm và, trong khi đang ngồi, trông thấy nữ Petii bị nghiệp tà dâm ấy đang đi đến bờ của hồ sen. Vị ấy đi theo nàng vì muốn khám phá xem nàng có thể đang đi đâu vào giờ ấy trong đêm, và trông thấy nàng bị ăn thịt bởi con chó khi nàng đi đến đó. Vị ấy suy gẫm vấn đề ấy trong ba ngày mà vẫn không hiểu được chuyện gì, rồi quyết định rằng chắc đó là kẻ thù của nàng và quyết định giết chết con chó, bắn nó bằng một cây tên nhọn. Rồi vị ấy nhận chìm nàng vào trong hồ, khi đó vị ấy trông thấy rằng nàng đã lấy lại hình tướng xưa cũ của nàng, vị ấy bèn hỏi nàng về những biến cố ấy bằng những câu kệ này:
1. “Những bậc thang của ngươi bằng vàng và được rải ra bằng cát vàng; có những hoa súng trắng ở đó thật khả ái, thơm dịu dàng và khiến tâm được vui thích;
2. Ðược che mát bằng nhiều loại cây và tràn ngập bởi tất cả các loại hương thơm; được che phủ bằng nhiều loại sen, được phủ lên bằng những sen trắng,
3. đầy mê ly, chúng thoảng đưa mùi thơm khả ái khắp quanh khi được quạt bởi làn gió nhẹ; có vang dội những tiếng kêu của loài thiên Nga và cò, vang dội tiếng kêu của những con ngỗng hồng.
4. Có nhiều đàn chim xúm lại và đầy những bản nhạc của những đàn chim ấy; những khóm cây mang nhiều loại trái và những rừng cây mang nhiều loại hoa.
5. Giống như một thành phố như thế này thì không tìm thấy được trong nhân loại. Và nàng có nhiều cung điện được làm bằng bạc và bằng vàng, làm loé mắt, chúng chiếu sáng khắp bốn hướng.
6. Những người này mà là những người hầu của nàng, đó là năm trăm nô lệ của nàng; chúng mang những chiếc vòng tay và vòng đeo cổ, và đầu của chúng được trang sức bởi những tràng hoa đội đầu bằng vàng.
7. Có nhiều chiếc giường của nàng, được làm bằng bạc và bằng vàng, và được phủ lên những tấm da của non sơn Dương, được khéo trưng bày và trải bằng những tấm lông cừu dài.
8. Khi nàng đã đi nghỉ ở trên đó, nàng có dồi dào tất cả gì nàng mong ước, tuy vậy vào lúc nửa đêm đến, nàng thức dậy khỏi chỗ đó và đi ra.
9. Nàng đi đến chỗ khả ái và đứng trên đám cỏ xanh mướt bao quanh toàn thể hồ sen ấy.
10. Nhân đó có một con chó bị mất tai cắn xé từng chi thể của nàng, và khi nó đã ăn thịt nàng, nó khiến cho nàng chỉ còn bộ xương, rồi nàng chìm vào trong hồ sen và thân của nàng lại giống y như trước.
11. Rồi với những chi thể được phục hồi, trông xinh đẹp và diễm kiều, nàng mặc vào y phục và đi đến trước mặt ta.
12. Bây giờ ác nghiệp nào được bỏi nàng bằng thân, khẩu, ý? Do kết quả của nghiệp nào khiến cho con chó không có tai ăn thịt các chi thể của nàng?”
Chú giải:
1. Ở đây, NHỮNG BẬC THANG CUẢ NÀNG BẰNG VÀNG (Sova.n.nasopanaphalakaa): Những bậc thang của nàng được làm bằng vàng. VÀ ÐƯỢC TRẢI BẰNG CÁT VÀNG (Sova.n.navaalukasanthataa): Ðược trải khắp quanh bằng cát, được làm bằng vàng. Ở ÐÓ (Tattha): ở hồ sen ấy. NHỮNG HOA SÚNG TRẮNG Boga.n .dhivaa= soga.n.dhikaa (thể văn phạm hoán chuyển) YÊU KIỀU (Vagguu), xinh đẹp, lấp lánh. HƯƠNG THƠM NGỌT NGÀO (Suciga.ndhaa): Với mùi hương khả ái.
2. TRÀN NGẬP BỞI TẤT CẢ NHỮNG LOẠI HƯƠNG THƠM (Naanaagandhasamiiritaa): tỏa khắp bởi những làn gió thơm, do bởi nhiều loại hương thơm say đắm. ÐƯỢC TRẢI LÊN BẰNG NHỮNG SEN TRẮNG (Pu.n.dariikasamotataa): được phủ lên bằng những sen trắng.
3. LÀM SAY ÐẮM, CHÚNG THOẢNG ÐƯA HƯƠNG THƠM KHẮP QUANH (Surabhisampavaayanti): khắp hồ sen có toả ra mùi hương khả ái – đây là ý nghĩa. VANG DỘI NHỮNG TIẾNG KÊU CỦA LOÀI THIÊN NGA VÀ CÒ (Ha.msakoĩcàbhirudaa): Ðầy những tiếng kêu của con thiên nga và cò.
4. ÐƯỢC KÉO ÐẾN BỞI NHỮNG ÐÀN GỒM NHIỀU LOẠI CHIM (Naanaadijaga.naaki.n.naa): Ðầy những đàn chim đủ loại; VÀ ÐẦY NHỮNG BẢN NHẠC CỦA ÐÀN CHIM ẤY (Naanaasaraganaayutaa): và đầy sự cộng hưởng cuả nhiều loại chim khác nhau. NHỮNG CÂY MANG NHIỀU LOẠI TRÁI (naanaaphaladharaa): Mang nhiều loại trái cây, có những nhánh bị oằn cong liên tục bởi sức nặng của nhiều trái. VÀ NHIỀU RỪNG CÂY MANG NHIỀU LOẠI HOA (Naanaapubbhadharaavanaa) nghĩa là nhiều rừng cây mà cho nhiều loại hoa đẹp mê say, “những rừng cây” (yanaa) được nêu ra với sự méo mó về giống tánh.
5. CÁI GIỐNG NHƯ MỘT THÀNH PHỐ THÌ KHÔNG CÓ TRONG NHÂN LOẠI (na manussesu iidisa.m nagara.m): cái giống một thành phố như thành phố này của nàng thì không được tìm thấy trong nhân loại, nghĩa là nó không được biết đến trong cõi người. ÐƯỢC LÀM BẰNG BẠC (ruupiyaamayaa): được làm bằng loại đồng xu bằng bạc. CHÓI LỌI (daddalhamaanaa): Vô cùng rực rỡ, CHÚNG CHIẾU SÁNG (aabhenti): chúng chiếu sáng ra khắp cả bốn hướng: sama~ntà caturo disaa= samantato catasso pi disaa (thể văn phạm hoán chuyển).
6. NHỮNG NGƯỜI NÀY LÀ CỦA NÀNG: yaa temaa = yaa te imaa (phối hợp cách). Những nữ hầu (paricaarikaa): Những người làm công việc phục vụ. CHÚNG (tà): Những nữ hầu ấy MANG NHỮNG VÒNG XUYẾN VÀ NHỮNG VÒNG ÐEO CỔ (kambukaa yuradharaa): được trang sức bởi những vòng đeo tay và những cái vòng bằng vỏ xa cừ. ÐẦU CỦA CHÚNG ÐƯỢC TRANG SỨC BẰNG NHỮNG VÒNG HOA BẰNG VÀNG (ka~ncanaa velabhusitaa): Những búi tóc của chúng được trang sức bằng những sợi dây thòng bằng vàng.
7. ÐƯỢC CHE PHỦ BẰNG DA CỦA CON SƠN DƯƠNG KADALÌ (kadalinigasa~nchannaa): Ðược trải lên trên bằng tấm trải làm bằng da của con sơn dương kadalii . ÐƯỢC KHÉO SỬA SOẠN: sajjaa=sajjitaa (thể văn phạm hoán chuyển): Thích hợp để nằm ngủ . ÐƯỢC TRẢI BẰNG LỚP LÔNG CỪU DÀI (co.nakasanthakaa): được trải bằng tấm thảm lông cừu dài.
8. Ở TRÊN ÐÓ (yattha): ở trên chiếc giường ấy. KHI NÀNG ÐÃ ÐI NGHỈ: Vaasuupagataa=vaasa.mupagataa (Phối hợp cách) nghĩa là khi nàng đã nằm xuống để ngủ. KHI NỬA ÐÊM ÐẾN (Sampattaaya a.d.dharattaaya): Khi nửa đêm đã đến. Từ đó (tato) từ chiếc giường ấy.
9. HỒ SEN ẤY: pakkhara~n~naa = pokkharaniyaa (thể văn phạm hoán chuyển). LỤC (harite) Xanh lục. Có đầy cỏ (Saddale): được phủ bằng cỏ non. TƯƠI SÁNG (subhe): Sạch sẽ hay nói cách khác đó là cách để xưng hô với nàng, “hỡi nàng rực rỡ của ta” Nàng đi và đứng, và lưu lại, này cưng, trên bờ cỏ xanh mà hoàn toàn bao quanh hồ sen ấy – đây là cách nên đuợc hiểu.
10. KHÔNG CÓ TAI (ka.n.namu.n.do): Có tai bị rách, có tai bị đứt. NÓ ÐÃ ĂN THỊT NÀNG: Khaayitaa aasi= Khaaditaa ahosi (thể văn phạm hoán chuyển). BIẾN NÀNG THÀNH MỘT BỘ XƯƠNG (a.t.thisa.nkhalikaa kataa) biến nàng thành chỉ còn bộ xương mà thôi. GIỐNG Y NHƯ TRƯỚC (yathaa pure): Giống như trước khi nàng bị con chó ăn thịt.
11. Khi ấy (tato): Sau khi nhận chìm vào trong hồ sen. VỚI CÁC CHI THỂ ÐƯỢC PHỤC HỒI (angapacca”ngaa): được phục hồi hoàn toàn trong tất cả các chi thể. ÐẸP (sucaaruu): rất khả ái. Trông kiều diễm (piyadassanaa): trông dễ thương (ÐI ÐẾN) (yaasi): Ðến.
Khi được hỏi như vậy bởi đức vua, Petii ?y bèn thốt lên năm câu kệ để kể lại câu chuyện về nàng cho vị ấy nghe từ đầu:
13. Tại Kimbilaa có một gia chủ, là một Thiện nam có đức tin; thiếp là vợ của vị ấy, nhưng lại có ác hạnh và ngoại tình.
14. Chồng của thiếp nói điều này với thiếp trong khi thiếp thông dâm như vậy, “Ðiều này không thích hợp cũng không hay”. Ðó là chuyện nàng đã gian dâm phản bội lại ta bằng cách ấy”.
15. Thiếp đã nói một lời dối trá kinh khủng khi thiếp thề rằng, “Em đã không ngoại tình chống lại anh bằng thân hoặc bởi ý”.
16. Nếu em ngoại tình chống lại anh hoặc bằng thân hoặc bằng ý, thì xin cho con chó không có tai ấy ăn thịt các chi thể của em”.
17. Chính do kết quả của ác nghiệp ấy và do bởi sự kiện rằng thiếp đã nói dối, nên đã bảy trăm năm qua thiếp bị ăn thịt từng chi thể bởi con chó không có tai ấy.
Chú giải:
13. Ở ÐÂY TẠI Kimbilaa (Kimbilaaya.m): Trong thành phố có cùng tên ấy. NGOẠI TÌNH (aticaarinii): Khi một người vợ đã phạm tội đối với chồng của nàng thì người đàn bà ấy được gọi là ngoại tình do bởi tánh hạnh của nàng.
14. CHỒNG CỦA TÔI NÓI ÐIỀU NÀY VỚI TÔI TRONG KHI TÔI ÐANG NGOẠI TÌNH (Ðây là cách nên được hiểu) “Ðiều này không thích hợp” v.v… Cho thấy cách mà vị ấy nói ra. Ở ÐÂY, ÐIỀU NÀY KHÔNG THÍCH HỢP (N’eta.m channa.m): Ðiều này không hợp pháp, ÐIỀU NÀY KHÔNG NHƯ THẾ (n’eta.m patiruupa.m) chỉ là hình thức đồng nghĩa với điều này. Bằng cách này (ya.m): bằng hành động ngoại tình ấy. NGOẠI TÌNH (aticaaraasi= aticarasi) (thể văn phạm hoán chuyển): Hay nói cách khác, riêng chữ sau mới đọc mà thôi, nghĩa là nàng đã ngoại tình chống lại ta theo cách này, sự tà dâm của nàng trong trường hợp ấy – điều này không thích hợp cũng không hợp lý.
15. KINH KHỦNG (ghora.m): ghê tởm. LỜI THỀ (sapatha.m): Lời thề. THỀ abhaasissa.m = abhaasim (thể văn phạm hoán chuyển).
17. CỦA NGHIỆP ẤY (tassa kammassa): Của ác nghiệp ấy, của nghiệp về ác hạnh ấy, VÀ DO BỞI SỰ KIỆN RẰNG TÔI ÐÃ NÓI DỐI (musaavaadassa ca): Và do sự kiện rằng tôi đã nói dối rằng “Tôi đã không ngoại tình”. CẢ HAI (ubhaya.m) do kết quả của cả hai. TÔI ÐÃ CHỊU (anubhuuta.m): nghĩa là tôi đã chịu khổ cho đến bây giờ. TỪ KHI (yato): Từ khi tôi làm ác nghiệp ấy.
16. NẾU TÔI: Sacaaha.m=sace aha.m (phối hợp cách) CHỐNG LẠI ANH ta.m= tva.m (thể văn phạm hoán chuyển).
Khi nàng đã nói như vậy, nàng bèn nói lên hai câu kệ để tán dương sự phục vụ mà vị ấy đã đem đến cho nàng:
18. Và Ngài, tâu bệ hạ, đã đến đây vì thiếp và đã giúp đỡ nhiều; thiếp đã được thoát khỏi con chó không tai ấy và không còn sầu khổ; chẳng có gì để sợ từ bất cứ hướng nào.
19. Thiếp xin cúi mình trước bệ hạ, tâu bệ hạ, và chúc bệ hạ. Mãi thọ hưởng tất cả những dục lạc của phi nhân, tâu bệ hạ, hãy vui chơi với thiếp”.
Chú giải:
19. Ở đây TÂU BỆ HẠ (deva): nàng đang xưng hô với đức vua. KHỎI CON CHÓ KHÔNG CÓ TAI: ka.n.namu.n.dassa= ka.n.namu.n.dato (thể văn phạm hoán chuyển) Ðây là sở hữu cách mang ý nghĩa về cách công cụ.
Rồi đức vua chán cuộc sống ở đó và cho biết ý định muốn ra đi của vị ấy. Khi nghe qua điều này petì ấy, do bởi sự luyến ái của nàng với đức vua, bèn nói lên câu kệ bắt đầu rằng,: “Thiếp xin cúi mình trước Ngài, tâu bệ hạ”, Và nài nỉ hãy ở lại ngay tại đây. Nhưng đức vua, quyết chí ra đi, bèn nói câu kệ kết thúc, để công bố ý định của vị ấy:
20. Ta đã thọ hưởng những dục lạc này của phi nhân và đã vui chơi với nàng. Hỡi con người may mắn của ta, ta xin nàng, hãy nhanh chóng đem ta trở lại.
Chú giải:
20. Ở đây, TA XIN NÀNG (taaha.m= ta.m aha.m) (phối hợp cách). HỠI CON NGƯỜI MAY MẮN CỦA TA (subhage): Nàng là người có quan hệ đến sự may mắn. HÃY ÐEM TA VỀ (patinayaahima.m): Xin hãy đem ta trở lại kinh đô của ta. Phần còn lại hoàn toàn rõ ràng
Khi Vimaanapetii ấy đã nghe qua những lời mà đức vua đã phải nói thì nàng không thể chịu sự chia ly của họ. Với tâm bối rối và đau đớn vì sầu khổ, thân của nàng run rẩy, cho dù nàng đã nài xin bằng nhiều cách, nàng cũng không thể thuyết phục Ðức vua ở lại đó. Nàng đưa đức vua đến kinh đô, mang theo nhiều châu báu có giá trị và dẫn vị ấy lên cung điện và, sau khi nàng khóc lóc và ta thán, nàng bèn trở lại chỗ ngụ riêng của nàng. Bấy giờ đức vua, đã trông thấy điều này, đầy xúc động, vị ấy thực hành những việc phước như bố thí v.v.. Và được sanh về thiên giới. Rồi khi Ðức Thế Tôn của chúng ta đã xuất hiện trong thế gian và lăn bánh xe chánh pháp và đến lúc đang trú ngụ ở Saavatthi, Ðại Ðức Moggallaana, vào một hôm nọ khi đi rảo quanh trên những ngọn núi, trông thấy người đàn bà ấy với tuỳ tùng của nàng và hỏi nàng về nghiệp mà nàng đã tạo. Nàng bèn kể lại mọi chuyện với Trưởng lão kể từ đầu. Trưởng lão nêu lên vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ngài lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Mọi người, sau khi có được sự xúc động này, bèn từ bỏ những ác nghiệp và thực hành những việc phước như bố thí v.v… Thoả thích trong chánh pháp và được sanh về Thiên giới.
-ooOoo-
II.13 UẤT BA LỢI QUỈ SỰ
(UBBARII PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Này Brammaadatta, có một vị vua”. Bậc Ðạo sư, trong khi đang ngụ ở Jetavana, đã kể lại quỉ sự Ubbarii này, liên quan đến một vị Thiện nam nọ.
Tương truyền rằng tại Saavatthi, có một người chồng của tín nữ nọ đã chết và nàng, sầu muộn vì nỗi khổ chia ly giữa hai vợ chồng, thường đi đến chỗ thiêu xác của người chồng và khóc lóc ta thán cho vị ấy. Khi Ðức Thế Tôn trông thấy rằng nàng có đủ duyên lành để chứng đắc quả thánh Tu Ðà Huờn, tâm của Ngài bị kích thích bởi lòng bi mẫn, bèn đi đến nhà của nàng và ngồi ở chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Nàng tín nữ đi đến Ðức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống ở một bên. Rồi Bậc Ðạo sư hỏi nàng rằng, “Này tín nữ, có phải nàng đang than khóc đó không?” Khi nàng nói rằng, “Thưa vâng, bạch Ðức Thế Tôn, con khóc than vì phải chia ly với người con yêu dấu”, Ngài bèn kể lại một biến cố trong quá khứ, khi muốn diệt trừ ưu bi cho nàng:
Cách đây đã lâu, tại kinh đô Kapila trong Vương quốc Pa~ncaala, có một vị vua tên là Cu.lani- brahmadatta . Vị ấy từ bỏ những lối sống lầm lạc và chuyên tâm làm việc vì lợi ích cho mọi người trong xứ sở, cai trị vương quốc mà không vi phạm mười pháp của một vị vua. Vào một dịp nọ, khi muốn nghe điều gì đang được nói ở trong vương quốc của mình, vị ấy giả dạng làm một người thợ may, rời khỏi kinh đô mà không có ai đi theo và đi dạo quanh từ ngôi làng này đến ngôi làng khác, từ châu quận này đến châu quận khác. Khi vị ấy trông thấy rằng toàn thể Vương quốc được thoát khỏi những tên đạo tặc và không bị cưỡng bách, và mọi người đang sống trong những thời kỳ thân ái – Quả thật vậy, đến nổi họ để những cánh cửa nhà của họ mở tung – vị ấy trở về một cách vui sướng.
Khi vị ấy đang đi đến kinh đô, vị ấy đi vào nhà của một thiếu phụ mà đã sống một kiếp sống đau khổ trong một ngôi làng nọ. Khi nàng trông thấy vị ấy, nàng bèn nói rằng, “Này ông là ai, thưa ông, và ông từ đâu đến?” “Tôi là một người thợ may, thưa bà, và tôi đang đi rảo quanh để làm những công việc may vá, để kiếm tiền công. Nếu bà có công việc may vá nào thời hãy cho tôi một tí vật thực và một ít tiền thù lao, rồi tôi sẽ làm những công việc ấy cho bà. “Chúng tôi không có công việc nào cần làm cả, cũng không có vật thực và tiền thù lao. Ông sẽ phải làm việc cho một người khác, thưa ông”. Bà ta nói. Trong khi đang sống ở đó trong một vài ngày, vị ấy trông thấy đứa con gái của bà ta mà có tướng may mắn trong tương lai và có phước, và hỏi mẹ của nàng, “Ðứa con gái này đã lấy ai chưa hay vẫn còn độc thân? Nếu nàng chưa kết hôn với ai thời hãy gả nàng cho tôi, vì tôi có thể cung cấp cho bà mọi phương tiện của một đời sống thoải mái”. “Tốt lắm, thưa ông”, Bà ta đáp lại và gả đứa con gái của bà ta cho vị ấy. Vị ấy sống với nàng trong vài ngày và rồi cho nàng một ngàn Kahaapana, khi nói rằng, “Anh sẽ trở lại chỉ trong vài ngày, này cưng; đừng tuyệt vọng”, và đi về kinh đô.
Ðức vua sai san bằng và trang hoàng con đường giữa kinh đô dến ngôi làng và rồi đi đến đó trong vẻ uy nghi vĩ đại của một vị vua. Vị ấy đặt cô con gái trên đống Kahaapana, tắm cho nàng bằng nước Vàng và bạc, ban cho nàng cái tên là Ubbarii và đặt nàng vào địa vị Chánh hậu. Vị ấy cho ngôi làng đến những quyến thuộc của nàng và dẫn nàng về kinh đô bằng vẻ uy nghi long trọng của vua chúa. Khi thọ hưởng những khoái lạc tình yêu với nàng vị ấy trải qua một triều đại thanh nhàn chừng nào vị ấy còn sống, và rồi khi hết thọ mạng thì băng hà. Khi đức vua chết và những nghi thức mai táng vị ấy đã được cử hành, tâm của Hoàng hậu bị đâm thủng bởi mũi tên của ưu bi, vì sự chia ly của họ, bèn đi đến chỗ thiêu xác của vị ấy; ở đó, nàng cúng dường trong nhiều ngày bằng những vật thơm và những bông hoa v.v… Tán dương những ân đức của Ðức vua và sau đó đi vòng quanh hoả đài của vị ấy theo chiều bên phải, khóc lóc và ta thán như người bị điên:
Bấy giờ vào thời ấy, Ðức Thế Tôn của chúng ta là bồ tát và vị ấy đã xuất gia, sống cuộc đời của một ẩn sĩ và chứng đắc các thiền chứng và các thắng trí. Trong khi đang cư ngụ trong một khu rừng nọ ở một vùng lân cận của Himaalaya, bằng thiên nhãn của đạo sĩ, đạo sĩ trông thấy ubbarii đang bị đâm thủng bởi mũi tên của ưu bi. Ðạo sĩ đi xuyên qua hư không và rồi, khi làm cho mọi người trông thấy mình, đạo sĩ đứng trong hư không và hỏi mọi người mà đang đứng rãi rác ở chỗ này chỗ nọ, “đây là hoả đài của ai? và vì ai mà người đàn bà này khóc, ta thán rằng, “Hỡi Bramadatta, hỡi Brammmmadatta?” Khi nghe qua điều này, những người dân bèn nói rằng, “Thưa Ngài, đây là ubbarii, là vợ của Brahmaadatta, là người mà, từ khi vị ấy băng hà, đã đi đến hoả đài của vị ấy, khóc than, ta thán và gọi tên của vị ấy “Brahmaadatta “.
1. Có một vị Vua tên là Brahmadatta, là chúa của những người đánh xe Pa~ncaala . Rồi sau nhiều ngày và nhiều đêm, vị vua ấy đã chết.
2. Người vợ Ubbarii của vị ấy đi đến hoả đài của vị ấy và khóc lóc; vì không còn trông thấy brahmaadatta ở đâu nữa, nàng khóc than rằng, “Hỡi brahmaadatta “
3. Bấy giờ có một ẩn sĩ nọ đi đến đó, là một hiền trí có giới hạnh vẹn toàn, và ở đó vị ấy hỏi những người mà được gặp ở đó, rằng,
4. “Ðây là hoả đài của ai mà tràn ngập tất cả những loại hương thơm như vậy? Ðây là vợ của ai mà khóc cho một người chồng đã đi xa khỏi đây, là người, khi không còn trông thấy brahmadatta ở đâu nữa, khóc lóc rằng, “Hỡi Brahmaddatta?”
5. Và những người mà có mặt ở đó, những người mà được gặp ở đó, bèn giải thích rằng, “Thưa bậc hữu phúc, đó là vợ của Brahmadatta, thưa Ngài.”
6. Hoả đài này là của vị ấy, đang tràn ngập tất cả những loại hương thơm; và đây là vợ của vị ấy đang khóc lóc cho một người chồng mà đã đi xa khỏi đây, là người mà không còn trông thấy Brahmadatta ở đâu nữa, đang khóc lóc rằng, “Hỡi Brahmadatta “
Chú giải:
1. Ở đây CÓ (Ahu = Ahosi; thể văn phạm hoán chuyển). CỦA NHỮNG NGƯỜI PA~NCÀLA (pa~ncaalaana.m): Của những dân cư của vương quốc Pa~ncaala; hay chỉ là của vương quốc Pa~ncaala vì dầu đó chỉ là một nước, nó được chỉ rõ bởi cách nói số nhiều “của những người Pa~ncaala ” vì nó mang tên của những vị hoàng tử thuộc nước ấy. CON BÒ CHÚA CỦA NHỮNG NGƯỜI ÐÁNH XE (rathesabho): Như một con bò chúa trong những người đánh xe, nghĩa là người đánh xe vĩ đại:
2. ÐẾN HOẢ ÐÀI CỦA VỊ ẤY (tassa aa.laahana.m): đến chỗ mà xác của Ðức vua đã được hoả táng.
3. ẨN S~N (isi): Vị ấy là một ẩn sĩ do vì vị ấy đã cố gắng (esanaa) để đạt được những pháp chứng như các tầng thiền v.v… Ở ÐÓ (tattha): đến chỗ mà Ubbarii đang đứng, nghĩa là đến chỗ thiêu xác, ÐI ÐẾN: aagacchi= agamaasu (thể văn phạm hoán chuyển). CÓ GIỚI ÐỨC VẸN TOÀN (sampannacara.no): nghĩa là vị ấy vẹn toàn về giới đức, vị ấy có và hoàn hảo về mười lăm pháp chứng này mà được phân loại là thuộc giới hạnh: Vị ấy đã được thành tựu về giới đức, đã kiểm soát các căn cuả vị ấy, biết tiết độ trong sự ăn uống, chuyên cần trong pháp tinh tấn, có bảy pháp thù thắng và có thể chứng đắc bốn tầng thiền sắc giới. MỘT HIỀN TRÍ (muni): hiền trí là người thông minh (munaati), là người biết rõ điều gì đem lại lợi ích cho chính mình và cho những kẻ khác. VÀ Ở ÐÓ VỊ ẤY HỎI NHỮNG NGƯỜI ẤY (te ca tattha apucchittha): Vị ấy hỏi những người ở tại chỗ ấy. LÀ NHỮNG NGƯỜI ÐƯỢC GẶP Ở ÐÓ (ye tattha susamaagataa): Những người đã đến ở chỗ này chỗ kia trong nghĩa trang ấy. Su (không được dịch) chỉ là một tiểu từ không biến đổi. Một cách đọc hoán chuyển là; “Những người mà được gặp ở đó” (ye tatthaasu”m samaagataa), LÀ NƠI: aasuô= ahesu.m (văn thể hoán chuyển).
4. TRÀN NGẬP CÁC LOÀI HƯƠNG THƠM (Naanaagandhamerita.m): mà được tràn ngập khắp nơi và thơm ngát nhiều loại hương. TỪ ÐÂY (ito): Từ cõi người. ÐÃ ÐI XA (Duuragata.m): Vị ấy ám chỉ về sự kiện rằng vị ấy đã đi sang thế giới bên kia rồi. KHÓC THAN RẰNG, “HỠI BRAHMAADATTA ” (brahmadattaa kandati): Nàng cầu khẩn vị ấy bằng cách kêu than và công bố tên của vị ấy như vậy: “Hỡi Brahmadatta”.
5. LÀ BRAHMADATTA, THƯA BẬC HỮU PHƯỚC, LÀ CỦA BRAHMADATTA, THƯA NGÀI (brahmadattassa bhaddante brahmadattassa maarisa): Hỡi bậc Ðại hiền trí có thân và tâm tuyệt hảo, đây là hoả đài của vua Brahmadatta và đây là vợ của vị vua brahmadatta ấy: Cầu xin cho brahmadatta nhận được phước của Ngài, hỡi bậc hữu phước, vì chính do sự quan tâm đến những hạnh phúc của họ từ những vị Ðại ẩn sĩ như Ngài mà có hạnh phúc và lợi ích cho những người ở thế giới bên kia – Ðây là ý nghĩa.
Khi Ðạo sĩ nghe qua những lời của họ, do lòng bi mẫn, vị ấy bỏ đi đến trước mặt Ubbarii và nói lên câu kệ này với mục đích diệt trừ ưu bi của nàng:
7. “Tám mươi sáu ngàn người mang tên Brahmadatta đã được thiêu ở chỗ thiêu xác này. Vì ai trong những người này mà nàng khóc than vậy?”.
Chú giải:
7. Ở đây, TÁM MƯƠI SÁU NGÀN cha.laasiitisahassaani: Về số lượng có tám chục cộng thêm sáu ngàn nữa: CÓ TÊN BRAHMADATTA (Brahmadattassa naamakaa): có tên Brahmadatta ấy. VÌ NGƯỜI NÀO TRONG NHỮNG NGƯỜI NÀY KHIẾN NGƯƠI KHÓC? (tesa.m ka.m anusocasi): Vị ấy hỏi, “vì vị Brahmadatta nào trong tám mươi sáu ngàn vị Brahmadatta khiến ngươi khóc than? vì người nào khiến ưu bi của ngươi sanh lên?”
Khi nàng đã được hỏi như vậy bởi vị ẩn sĩ, Ubbarii bèn nói lên câu kệ nầy để chỉ rõ vị Brahmadatta mà nàng ám chỉ về:
8. Vị vua mà là con trai của Cuu.laani, là con bò chúa trong những vị Pa~ncaala vương. Chính vì vị ấy khiến tôi khóc than, thưa Ngài, chồng của tôi là người đã ban cho tôi tất cả mọi điều mong ước của tôi.
Chú giải:
8. Ở đây, ÐỨA CON TRAI CỦA CUU.LANI (cuu.laniputto): Ðứa con trai của vị vua có tên ấy: LÀ NGƯỜI ÐÃ BAN CHO TẤT CẢ MỌI ÐIỀU MONG ƯỚC CỦA TÔI (SABBAKAAMADA.M): là người cho tôi tất cả cái gì mà tôi muốn; hay nói một cách hoán chuyển, là người mà hằng cho tất cả chúng sanh điều gì mà họ muốn.
Khi Ubbarii đã nói như vậy, vị ẩn sĩ lại nói lên hai câu kệ:
9. Tất cả các vị vua đều có cái tên là Brahmadatta ; tất cả đều là con trai của cù.lani và là chúa của những người Pa~ncaala vương.
10. Ngươi đã làm chánh hậu lần lượt của tất cả; tại sao ngươi bỏ những người trong quá khứ ấy mà chỉ khóc than cho người cuối cùng này thôi vậy?
Chú giải:
9. Ở đây, TẤT CẢ ÐỀU LÀ (sabbe’va’hesu.m): Tất cả những người, mà có số lượng đến tám mươi sáu ngàn, đều là những vị vua có cùng tên brahmadatta, là những đứa con trai của cù.lani và là những vị chúa trong số những vị vua Pa~ncaala ; Những điều kiện sanh làm một vị Vua này đây v.v… trong họ chẳng có gì khác biệt cả, ngay cả trên một quan điểm.
10. NGƯƠI ÐÃ LÀM CHÁNH HẬU (Mehesita.m akaarayi): và đối với tất cả họ, ngươi đã lần lượt giữ địa vị chánh hậu và hoàng hậu, nghĩa là ngươi đã đạt đến địa vị ấy. TẠI SAO? (kasmaa): Vị ấy hỏi, trong tất cả những người ấy, không có người nào trong họ có điểm khác biệt về vai trò làm chồng của họ hay về những đặc tánh cá nhân của họ, tại sao, vì lý do gì, ngươi lại bỏ những vị vua quá khứ ấy, và chỉ khóc than cho vị vua cuối cùng này thôi?
Khi nghe qua điều này, Ubbarii đầy xúc động, một lần nữa lại nói lên câu kệ này với vị ẩn sĩ ấy:
11. Thưa Ngài, có phải chính tôi là người đàn bà trong thời gian lâu dài ấy? Tôi là người mà Ngài nói đến là đã làm người đàn bà thường xuyên trong luân hồi chăng?
Chú giải:
11. Ở đây, CHÍNH TÔI: aatume = attani (thể văn phạm hoán chuyển). CÓ PHẢI TÔI LÀ NGƯỜI ÐÀN BÀ? (itthibhuutaaya): Có phải tôi đã đi vào kiếp sống làm một người đàn bà chăng? TRONG THỜI GIAN LÂU DÀI ẤY: Diigharattaaya= diigharatta.m (thể văn phạm hoán chuyển). Ðây là ý nghĩa có phải chính tôi là người đàn bà, có phải chỉ tôi là người đàn bà trong suốt thời gian ấy hay có phải tôi đã đi vào kiếp sống làm một người đàn ông chăng? TÔI MÀ NGÀI ÐÃ NÓI VỀ LÀ ÐÃ LÀM MỘT NGƯỜI ÐÀN BÀ: yassà me itthibhuutaaya = yassaa mayha.m itthibhuutaaya (thể văn phạm hoán chuyển); Tôi là một người mà Ngài đã nói về, nghĩa là, Ngài kể lại, thưa Ðại hiền trí, là đã làm một người đàn bà như vậy, là đã làm chánh hậu thường xuyên trong vòng luân hồi. Một cách đọc hoán chuyển là “ồ, chính tôi nhớ lại rằng tôi là một người đàn baa (Aamo ittbibhuutaaya). Ở đây, TÔI NHỚ RA (aa) là một tiểu từ chỉ về sự hồi tưởng. CHÍNH TÔI (tumo): Do chính tôi (saya.m); Ðiều này được nhớ lại, được biết đến bởi tôi. RẰNG TÔI LÀ MỘT NGƯỜI ÐÀN BÀ (itthibhuutaaya): Rằng tôi đã đi vào kiếp sống sanh làm một người đàn bà – có sự sanh lên liên tục như vậy trong một thời gian quá khứ. Tại sao? bởi vì chính tôi là người mà Ngài nói về, Thưa đại hiền trí, là đã làm một người đàn bà thường xuyên trong vòng luân hồi Khi nói rằng, đối với lần lượt tất cả, ngươi đã làm một chánh hậu- Ðây là cách nên được hiểu.
Khi nghe qua những lời này, Ðạo sĩ bèn nói lên câu kệ này, để cho thấy rằng trong luân hồi không có định luật nào như vậy rằng một người đàn bà chỉ là một người đàn bà mà thôi và một người đàn ông chỉ là một người đàn ông mà thôi:
12. Nàng đã làm một người đàn bà, nàng đã làm một người đàn ông, Nàng cũng sẽ đi vào bào thai của loài thú. Giới hạn của quá khứ lâu dài này sẽ không được trông thấy như vậy.
Chú giải:
12. Ở đây, NÀNG ÐÃ LÀM MỘT NGƯỜI ÐÀN BÀ, NÀNG ÐÃ LÀM MỘT NGƯỜI ÐÀN ÔNG (ahu itthi ahu puriso): Ðôi khi nàng là một người đàn bà và đôi khi nàng cũng là một người đàn ông. Nhưng đó không tuyệt đối là một vấn đề chỉ là một người đàn bà hay đàn ông không thôi, hơn nữa, bởi nàng cũng đã từng đi vào bào thai của loài thú, đôi khi nàng cũng sanh làm cầm thú và nàng cũng đi vào bào thai của những con thú khác. GIỚI HẠN CỦA QUÁ KHỨ LÂU DÀI NẦY KHÔNG ÐƯỢC TRÔNG THẤY NHƯ VẬY (eva.m eta.m atiitaana.m pariyanto na dissati: Giới hạn của quá khứ lâu dài của những kiếp sống – Có kiếp nàng sanh làm đàn ông, có kiếp làm đàn bà, có kiếp nàng làm thú – không thấy như vậy được, (cho dù) đối với những người cố gắng hết sức để nhìn bằng con mắt của trí tuệ. Nhưng điều này không áp dụng riêng cho ngươi đâu: Quả thật vậy, giới hạn của các kiếp sống của những chúng sanh đã trôi lăn trong vòng luân hồi thì không được trông thấy, không được lột trần ra được. Vì lý do này mà Ðức Thế Tôn nói rằng, “Này các Tỳ kheo, không thể nhận biết được đâu là khởi điểm của vòng luân hồi; Ðiểm đầu tiên nhất không được tỏ lộ về sự trôi lăn, về vòng luân hồi, về những chúng sanh bị che mờ bởi vô minh và bị trói buộc bởi ái dục”.
Khi nàng đã nghe thời pháp như vậy, được giảng dạy bởi vị Ðạo Sĩ ấy, mà trong đó vị ấy làm sáng tỏ ảnh hưởng của những nghiệp và sự vắng mặt của bất cứ giới hạn nào của vòng luân hồi, đầy xúc động trong tâm của nàng khi nghe nói về vòng luân hồi và với lòng tịnh tín trong tâm của nàng đối với pháp, mũi tên ưu bi của nàng biến mất và nàng nói lên những câu kệ này để cho biết lòng tịnh tín của nàng và cõi lòng không ưu bi của nàng:
13. Tôi quả thật bị cháy nóng, giống như ngọn lửa được châm bằng thục tô; nhưng bây giờ, tất cả mọi sầu khổ của tôi đã được dập tắt, tựa như tôi đã được tưới lên người bởi nước.
14. Quả thật vậy, mũi tên là ưu bi cho người chồng của tôi mà đã tràn ngập cõi lòng của tôi.
15. Với mũi tên đã được rút ra, tôi trở nên an tịnh và mát mẻ; Từ khi nghe Ngài, thưa Ðại hiền trí, tôi không còn ưu bi hay than khóc nữa.
Ý nghĩa của những câu này cũng giống như ý nghĩa đã được nêu ra ở trên. Rồi Bậc Ðạo sư nói lên bốn câu kệ để cho thấy cách cư xử của Ubbarii, là người mà (bấy) giờ đã có sự xúc động trong tâm của nàng:
16. Khi nàng đã nghe qua những lời này của vị ấy, lời nói khéo thuyết của vị Sa môn ấy, nàng mang y và bát rồi ra đi sống cuộc đời không nhà.
17. Và nàng, là người từ đời sống gia đình, ra đi sống đời không nhà, trau dồi tâm từ ái dẫn đến tái sanh trong cõi phạm thiên.
18. Khi đi lang thang từ làng này đến làng nọ, qua các phố chợ và các kinh đô; Uruvelaa là tên của ngôi làng mà nàng đã chết.
19. Sau khi đã trau dồi tâm bác ái để được sanh vào cõi phạm thiên và sau khi loại trừ những ý nghĩ của một nhữ nhân, nàng đi đến cõi Brahmaloka (Phạm thiên giới).
Chú giải:
16. Ở đây, CỦA VỊ ẤY (tassa): Của đạo sĩ ấy. Lời nói khéo thuyết giảng subhaasita.m (thiện ngôn) = Su.t.thu bhaasita.m (phối hợp cách), nghĩa là giáo Pháp.
17. NGƯỜI ÐÃ XUẤT GIA (pabbajitaa): Người khoác vào đời sống của kẻ không nhà. TÂM TỪ ÁI (metta citta.m): Tâm câu hữu với từ. Ngài nói về các tầng thiền được chứng đắc do bởi tâm từ. ÐỂ ÐƯỢC SANH VÀO CÕI Brahmaloka (Brahmalok uupapittiyaa): Và trong việc trau dồi tâm từ ái, nàng đã làm như vậy để được sanh vào cõi phạm thiên, không nhằm mục đích thành lập nền tảng cho tuệ quán. Quả thật vậy, trước khi Ðức Phật xuất hiện, những vị Ðạo sĩ và những người xuất gia mà trau dồi các tâm brahmavihaara (tứ vô lượng tâm) v.v.. Ðã làm như vậy chỉ trong chừng mức đạt đến sự ưu việt của kiếp sống mà thôi.
18. TỪ LÀNG NÀY ÐẾN LÀNG NỌ (gaamaa gaama.m): Từ ngôi làng này đến ngôi làng khác.
19. SAU KHI ÐÃ TRAU DỒI (aabhaavetvaa): Sau khi đã phát triển, sau khi đã làm cho sanh lên; một số người đọc là Abhaavetvaa, tiếp đầu ngữ A chỉ là một tiểu từ không biến đổi đối với chúng mà thôi. SAU KHI LOẠI BỎ NHỮNG TƯ TƯỞNG CỦA NỮ NHÂN (itthicitta.m viraajetvaa): Sau khi đoạn trừ những tư tưởng, những khuynh hướng và những ước muốn của phái nữ, tâm của nàng xa lìa trạng thái của nữ tánh. NÀNG ÐI ÐẾN CÕI BRAHMALOKA (brahmaalokuupagaa): Nàng là người đã đến cõi Brahmaloka do sự tái sanh. Phần còn lại tự nó rất rõ ràng vì đã được giải thích ở trên rồi.
Khi Bậc Ðạo sư đã kể lại Pháp thoại này và đã diệt trừ ưu bi cho nàng tín nữ ấy, sau đó Ngài thuyết pháp cho nàng về Tứ đế, và vào lúc kết thúc của thời pháp ấy, nàng tín nữ được an trú trong quả Thánh Tu-đà-hườn. Thời pháp ấy đem lại lợi ích cho hội chúng đã hội họp ở đó.
Phần trình bày về quỉ sự Ubbarii đã kết thúc – Như vậy phần trình bày ý nghĩa của phẩm thứ hai, Uất-ba-lợi phẩm mà được tô điểm bởi mười ba câu chuyện trong những chuyện Ngạ quỉ này của bộ Khuddaka Nikaaya đã kết thúc.
-ooOoo-
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.