NGẠ QUỶ SỰ · Chương 3/4
CHƯƠNG III: TIỂU PHẨM
III.I BẤT ÐÁNG QUỈ SỰ
(ABHIJJAAMANA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Mà không làm rẽ nước”. Pháp thoại này được thuyết giảng trong khi Bậc Ðạo sư đang trú ngụ ở Ve.luvana, liên quan đến một Ngạ quỉ nọ mà đã từng làm một người thợ săn.
Tương truyền rằng: ở bên kia sông Hằng, về phía tây của thành Ba la nại, khi bạn đi tới ngôi làng Vaasabha thì tại đó có một người thợ săn nọ ở trong ngôi làng tên là Culda.tthila . Anh ta thường giết Nai trong rừng, ăn phần thịt ngon nhất mà anh ta đã nướng trên lửa than, rồi bỏ phần còn lại trong một cái giỏ lá và mang khối thịt này trên một cái sào, rồi trở về làng. Khi những đứa trẻ nhỏ trông thấy anh ta ở cổng làng thì chúng chạy đến anh ta với hai bàn tay xoè ra mà nói rằng, “hãy cho con thịt! hãy cho con thịt!”. Mỗi lần như thế anh ta cho chúng một ít thịt. Rồi một hôm nọ, anh ta không kiếm được thịt. Anh ta bèn trang sức vào người bằng những bông hoa uddaala, và cũng mang nhiều bông hoa trong tay anh ta đi đến ngôi làng.
Khi những đứa trẻ nhỏ trông thấy anh ta ở cổng làng, chúng chạy đến anh ta với những bàn tay xoè ra mà nói rằng. “Hãy cho con thịt, hãy cho con thịt!” Anh ta cho mỗi đứa trong bọn chúng một nhánh hoa. Ðến đúng lúc, anh ta chết và sanh vào cõi ngạ qủi, bị trần truồng, xấu xí và trông khủng khiếp vì không biết đến đố ăn hay thức uống, ngay cả trong những giấc mơ của anh ta cũng không, và với những bó hoa uddaala được buộc vào đầu, anh ta đi bộ ngược dòng sông Hằng mà không làm rẽ nước, khi nghĩ rằng, “Ta sẽ kiếm một cái gì đó trước mặt những quyến thuộc của ta ở Cunda.t.tthila “. Lúc bấy giờ, vị quan đại thần của vua Bimbisaara, tên là Koliya, đang trở về sau khi dẹp yên cuộc dấy loạn ở vùng biên giới; sau khi đã truyền lịnh cho đoàn Tượng binh và mã binh v.v… đi trên đường bộ, chính trị ấy đi bằng thuyền xuôi dòng sông Hằng; khi vị ấy trông thấy con Ngạ quỉ ấy đang đi đến trong trạng thái ấy, bèn nói lên câu kệ này để dò hỏi:
1. “Ngươi đang đi ở đây mà không làm rẽ nước của sông Hằng; Người trần truồng, tuy nhiên nửa phần trước của ngươi thì không giống một Peta, có trang sức, mang những tràng hoa. Này Peta, ngươi đang đi đâu, và chỗ ngụ của ngươi sẽ ở nơi đâu?”
Chú giải:
1. Ở đây, MÀ KHÔNG LÀM RẼ NƯỚC (abhijjamaane), làm cho liền lạc với nhau mà không làm rẽ ra ở chỗ để bàn chân xuống. NƯỚC CỦA SÔNG HẰNG (Vaarimhi ga”ngaaya): nước của con sông Hằng. Ở ÐÂY (Idha): Tại chỗ này, TUY NHIÊN PHẦN TRƯỚC CỦA NGƯƠI THÌ KHÔNG GIỐNG NHƯ PETA . (pubbaddhapeto’va): nửa phần trước của người thì không giống như con Ngạ quỉ – Nó giống như của một chư thiên không thuộc cõi Ngạ quỉ, tại sao? CÓ TRANG SỨC, MANG NHỮNG TRÀNG HOA (maalaadhaarii ala”nkato): (Ðỉnh đầu) của ngươi có trang sức, được trang sức bằng những tràng hoa. CHỖ NGỤ CỦA NGƯƠI SẼ NẰM NƠI ÐÂU? (Kattha vaaso bhavissati): ở ngôi làng nào hay nơi nào sẽ là chỗ ngụ của ngươi, nghĩa là hãy nói cho ta biết rõ điều này.
Bấy giờ, để cho thấy điều được nói ra vào lúc bấy giờ bởi Ngạ quỉ và bởi Koliya, những người kiết tập Tam Tạng đã nói lên những câu kệ này:
2…. “Tôi đang đi đến Cunda.t.tthila “, Ngạ quỉ nói, “ở chính giữa của ngôi làng Vaasabha, trong vùng lân cận của Ba la nại”.
3. Và khi trông thấy nó, vị quan đại thần, là vị Koliya nổi tiếng, bèn cho Peta một bữa cơm lúa mạch, vật thực cùng một bộ y phục màu vàng.
4. Khi chiếc thuyền của vị ấy dừng lại, vị ấy bèn bảo người cho những thứ ấy đến người thợ cạo; khi chúng đã được cho đến người thợ cạo ngay tức thì chúng ta được trông thấy ở trên thân của ngạ qủi.
5. Nhân đó, nó được mặc vào những y phục tốt, được trang sức, và mang những tràng hoa; khi đã tin chắc rằng vật thí có lợi ích cho Ngạ quỉ ấy, do vậy người nên cho ra nhiều lần vì lòng thương tưởng đến những Ngạ quỉ”.
Chú giải:
2. Ở đây, đến Cunda.t.thila (Cunda.t.thila.m): đến ngôi làng có tên ấy. Ở CHÍNH GIỮA CỦA NGÔI LÀNG VAASABHA . TRONG VÙNG LÂN CẬN CỦA BA LA NẠI (antare vaasabha gaa.ma.m baaraanasiyaa santike): nằm nửa đường giữa ngôi làng Vaasabha và Ba la Nại.
3. VỊ KOLIYA NỔI TIẾNG (Koliya iti vissuto): bằng cái tên Koliya nổi tiếng. BỮA ĂN BẰNG LÚA MẠCH VÀ VẬT THỰC: Sattu bhatta~nca= Sattu~n c’eva bhatta~n ca (phối hợp cách). CHO…. VÀ MỘT CẶP MÀU VÀNG(Piitaka~nca yuga.m adaa): và một cặp áo quần vàng, có màu sắc vàng kim. Trong trường hợp ấy nó nên được hỏi là, ” Vị ấy đã cho cái này vào lúc nào?”
4. KHI CHIẾC THUYỀN CỦA VỊ ẤY DỪNG LẠI, VỊ ẤY SAI CHO CHÚNG ÐẾN MƯỜI THỢ CẠO (Naavaaya ti.t.thamaanaaya kappakassa adaapayi): Vị ấy cho dừng lại chiếc thuyền đang di chuyển của vị ấy và tại đó vị ấy đã trang điểm cho người hầu lo việc tắm rữa, là một Thiện Nam; Khi bộ áo quần đã được cho ra – đây là cách nên được hiểu. NGAY TỨC THÌ .Thaane = .thaanaso (thể văn phạm hoán chuyển), Ngay chính lúc ấy. CHÚNG ÐƯỢC TRÔNG THẤY THUỘC VỀ NGẠ QUỈ ẤY (petaassa dissa.tha): chúng được nhận biết là ở trên thân của Ngạ quỉ. Chiếc khố ở dưới và chiếc áo khoác hiện ra cho nó. Vì lý do này mà vị ấy nói rằng:
5. NHÂN ÐÓ, NÓ ÐƯỢC MẶC VÀO NHỮNG Y PHỤC TỐT ÐẸP, ÐƯỢC TRANG SỨC, MANG NHỮNG TRÀNG HOA (Tato suva.t.thavasanomaalaadhaarii ala~nkato): Ðược mặc vào những y phục tốt đẹp và được trang sức xinh đẹp bằng những tràng hoa mà vị ấy mang. ÐỨNG TRONG ĐỊAVỊ CHO THẤY VẬT THÍ CÓ LỢI ÍCH CHO NGẠ QUỈ ẤY (.thaane .thitassa petassa dakkhi.naa upakappatha): tuy nhiên vật thí ấy ở trong vị trí của người xứng đáng thọ lãnh những vật thí, bởi vì nó đem lại lợi ích cho Ngạ quỉ ấy, bởi vì nó sanh đến cho Ngạ quỉ dùng. DO ÐÓ, NGƯỜI NÊN CHO RA VỚI LÒNG BI MẪN DÀNH CHO NHỮNG NGẠ QUỈ THƯỜNG XUYÊN (Tasmaa dajjetha petaana.m anuka.mpakaa punappuna.m): Nghĩa là người nên cho những vật thí do lòng bị mẫn đối với những Ngạ quỉ, nhân danh những Ngạ quỉ, cho nhiều lần lập đi lập lại.
Bấy giờ vị quan đại thần Koliya, khi cảm thấy thương hại cho Ngạ quỉ ấy, đã tạo ra hình thức bố thí ấy và rồi đi xuống dòng sông và đến Ba la nại vào lúc mặt mọc. Ðức Thế Tôn, khi đã đi xuyên qua hư không để tiếp độ cho họ, đang đứng ở trên bờ sông Hằng. Vị quan đại thần Koliya xuống thuyền và, rất vui sướng, thỉnh mời đức Thế Tôn khi nói rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn cầu xin đức Thế Tôn vì lòng bi mẫn mà nhận lời mời của con để thọ thực ngày hôm nay. Ðức Thế Tôn im lặng nhận lời. Ngay tức thì vị ấy dựng lên ở một chỗ đất khả ái một nhà mát bằng những cành cây, có trang hoàng ở bên trên và có nhiều màu sắc,và rồi dâng đến đức Thế Tôn chỗ ngồi mà vị ấy đã sửa soạn ở trong đó. Ðức Thế Tôn ngồi vào chỗ ngồi đã được soạn sẵn. Rồi vị quan đại thần đi đến đức Thế Tôn, cúng dường ngài những vật thơm và những bông hoa v.v…, đảnh lễ ngài và ngồi xuống ở một bên, kể lại với đức Thế Tôn những điều mà vị ấy đã nói và câu đáp lại của Ngạ quỉ như đã được nêu ra ở trên. Ðức Thế Tôn chú nguyện rằng, “chúng Tỳ kheo hãy đến đây!” Ngay khi ngài chú nguyện câu này thì chúng Tỳ kheo, bị thúc dục bởi oai lực của Ðức Phật, đến vây quanh vị Pháp vương, như một đàn thiên Nga vàng vây quanh thiên Nga chúa Dhata ratha là chúa của những thiên Nga vàng. Ngay tức thì dân chúng kéo đến vì nghĩ rằng, “sắp có một thời thuyết pháp lớn”. Khi trông thấy cảnh này, vị quan đại thần, với lòng tịnh tín trong tâm, làm thoả mãn chúng Tỳ kheo, có đức Phật dẫn đầu, bằng thức uống và những đồ ăn gồm cả loại cứng và loại mềm. Khi Ngài đã thọ thực xong thì đức Phật, vì lòng bi mẫn đối với dân chúng, bèn tập trung vào ý nghĩ “Hãy để những ai trú ngụ trong vùng gần Ba la nại đến hội họp ở đậy”. Và tất cả các hạng người ấy, do sức mạnh về năng lực thần thông của Ngài đã kéo đến đó.
Rồi ngài khiến cho số lượng đông đảo những Ngạ quỉ hiện ra, và dân chúng nhận biết chúng bằng chính mắt của họ. Một số trong bọn chúng thì mang những tấm vải rách rưới và bị xé thành những mảnh rất nhỏ; một số thì có cái gọi là xấu hổ, được che phủ chỉ bằng tóc của chính chúng mà thôi; trong khi một số khác thì trần truồng như ngày chúng sanh ra, bị đói và khát, với da và những tấm thân của chúng teo tóp đến nỗi chỉ còn xương, đi vất vưởng chỗ này chỗ kia. Rồi đức Thế Tôn thị hiện những năng lực thần thông của Ngài để tất cả Ngạ quỉ hội họp trong cùng một chỗ, và công bố với dân chúng những ác nghiệp mà chúng tạo nên:
Những vị kiết tập Tam Tạng nói lên câu kệ này để giải thích vấn đề:
6. “Những Ngạ quỉ, một số mặc những giẻ rách, số khác che người bằng tóc của chúng, khi đi khắp để kiếm thực phẩm, ra đi các hướng.
7. Một số chạy đi cách xa nhưng đã quay lại vì không kiểm được gì, đói, một lả, bước đi lảo đảo và chìm xuống trong đất.
8. Và một số mà ngã qụy xuống ở đó, khi chìm xuống trong đất, bị hành hạ tựa như bởi ngọn lửa vì đã không làm việc phước nào trong quá khứ, chúng nói rằng:
9. “Trong quá khứ, chúng ta là những người vợ và những người mẹ trong những gia đình tốt, nhưng lại có tánh ác; dầu những vật thí ở trong tầm tay, nhưng chúng ta đã không làm chỗ nương tựa cho chính chúng ta.
10. Dầu có nhiều đồ ăn và thức uống, nhiều đến nỗi nó bị quăng đi, tuy nhiên chúng ta chẳng cho gì đến những người mà đã chứng đạt Pháp cao tột, đến những bậc đã xuất gia.
11. Chỉ muốn làm điều gì mà không nên làm, lười biếng, muốn những cái ngọt ngào và tham ăn, chúng ta là những người cho những miếng, những cục và mắng nhiếc những người thọ lãnh.
12. Những căn nhà, những người hầu ấy và những vật trang sức ấy của chúng ta – bây giờ những thứ này được thọ hưởng bởi những người khác, trong khi số phận của chúng ta là đau khổ”.
13. Họ sẽ là những người làm thúng mà bị coi khinh và những người làm xe quỉ quyệt, họ sẽ là những chiên đà la chịu khó khăn lớn, và thỉnh thoảng làm những người hầu tắm.
14. Bất cứ gia đình nào thấp kém và chịu khó khăn lớn – chỉ riêng trong số những người này họ sẽ sanh vào, đây là số phận của những người bỏn sẻn.
15. Trong khi những người bố thí, không bỏn sẻn, trong quá khứ đã làm những việc thiện, sẽ làm sung mãn thiên giới và làm sáng rực Nandana.
16. Khi họ đã vui chơi trong cung điện Vejayanta và làm hài lòng tất cả những ước muốn của họ, họ sẽ sanh lên có địa vị cao trong những gia đình giàu có khi họ mạng chung ở cõi ấy.
17. Trong căn nhà có tháp nhọn và trong các cung điện, trên chiếc giường được trải bằng lông cừu dài, với những chi thể của họ được quạt bởi những người cầm chiếc quạt bằng lông của con chim công, họ sanh đến một gia đình như vậy, biết rõ tất cả những tiện nghi của họ.
18. Ðược trang điểm, họ sống trong vòng tay của nhiều người, mang những tràng hoa; những vú nuôi hầu hạ họ vào buổi sáng và buổi chiều, cố gắng làm cho họ thư thái.
19. Nandana thanh bình và hấp dẫn này là khu vườn lớn của cõi Ba mươi ba, chỉ dành riêng cho những người đã làm những việc phước, không phải dành cho những người mà chưa làm những việc phước.
20. Ðối với những người mà chưa làm những việc phước thì không có hạnh phúc trong đời này và đời sau; trong khi đó, đối với những người mà đã làm những việc phước thí thì có hạnh phúc ngay tại đây và cả mai sau nữa.
21. Nhiều việc thiện nên làm đối với những người muốn thân cận với họ, vì những người làm những việc phước sẽ được của cải và sự vui sướng trong cõi chư thiên.
Chú giải:
6. MẶC VÀO NHỮNG MẢNH VẢI RÁCH (Saahundavaasino): Mặc vào những miếng giẻ rách và sờn. MỘT SỐ: (Eke = ekacce) (thể văn phạm hoán chuyển). CHE PHỦ BẰNG TÓC CỦA HỌ (Kesanivaasino): che lên cái gọilà xấu hổ chỉ bằng tóc của họ. ÐI TÌM KIẾM VẬT THỰC (Bhattaaya gacchanti): Bất cứ chỗ nào mà chúng đi đến, chúng đều bỏ đi để tìm kiếm vật thực khi nghĩ rằng, “Có lẽ khi chúng đã đi khỏi đây thời chúng ta có thể kiếm ở chỗ này hay chỗ kia một ít vật thực mà đã được quăng đi hay mửa ra, hay những vật bất tịnh dính theo lúc sanh con v.v…. TẢN ÐI KHẮP CÁC HƯỚNG (pakkamanti diso disa.m): tản đi từ hướng này đến hướng khác, đến một chỗ tại khoảng giữa của vô số do tuần.
7. CÁCH XA (Duure): Ðến một chỗ ở cách xa. MỘT SỐ (Eke): Một số Ngạ quỉ. CHẠY (Padhaavitvaa): Chạy để tìm kiếm vật thực. NHƯNG LẠI QUAY LẠI VÌ KHÔNG TÌM ÐƯỢC CÁI GÌ (Aladdhaa ca nivattare): Nhưng quay lại mà không kiếm được hoặc là đồ ăn hay thức uống. MỆT LẢ (Pamucchitaa): Chúng ở trong tình trạng mệt lả do bởi khổ đói và khổ khát v.v…. LẢO ÐẢO (Bhantaa): Quay cuồng lảo đảo. CHÌM XUỐNG ÐẤT (Bhuumiya.m patisumbhitaa): Chúng đứng lên trong trạng thái mệt lả ấy và té xuống đất bị héo khô như cục đất sét bị quăng bỏ.
8. Ở ÐÓ (Tattha): Chỗ mà chúng đã đi. CHÌM XUỐNG ÐẤT (Bhaamiya.m pa.tisumbhitaa): chúng té xuống đất tựa như đang rơi xuống một vực sâu vì không thể đứng được do bởi nổi khổ đói v.v… Nói cách khác ý nghĩa là chúng thất vọng, do vì chúng không kiếm được đồ ăn v.v…. Ở đó, tại chỗ mà chúng đã đi đ?n, và chúng té (pa.tisumbhitaa) xuống đất tựa như có một người đối nghịch nào đó (patimukha.m) đã đá chúng ngã xuống (Sumbhitaa), đánh ngã chúng, DO ÐÃ KHÔNG LÀM NHỮNG VIỆC THIỆN NÀO TRONG QUÁ KHỨ(pubbe akatalyaanaa): Do không làm những việc thiện nào trong kiếp quá khứ. BỊ HÀNH HẠ TỰA NHƯ BỊ THIÊU ÐỐT BỞI NGỌN LỬA (Aggidaddhaa vaa aatape): Tựa như bị thiêu đốt ngọn lửa ở một chỗ nào đó, bị hành hạ bởi mặt trời của mùa hạ, nghĩa là chúng chịu đau khổ lớn vì bị thiêu đốt bởi ngọn lửa đói và khát.
9. TRONG QUÁ KHỨ (pubbe): trong đời sống quá khứ. CÓ TÁNH ÁC (paapadhammaa): có tánh ti tiện hèn hạ do ganh tỵ và bần tiện. NHỮNG VỢ NHÀ (Gharanii): Nữ gia chủ. NHỮNG NGƯỜI MẸ CỦA GIA ÐÌNH TỐT (Kulamaataro): Những người mẹ của những đứa con trong gia đình tốt, hay những người mẹ của những người thuộc gia đình tốt. CHỖ NƯƠNG TỰA (diipa.m): chỗ chống đỡ, nghĩa là những việc phước. Chúng được gọi là chỗ nâng đỡ vì là chỗ nâng đỡ cho chúng sanh trong những cõi hạnh phúc. CHÚNG TA ÐÃ KHÔNG LÀM (Naakamha= na karimha)(thể văn phạm hoán chuyển).
10. NHIỀU (Pahuuta.m): nhiều. Ðồ ăn và thức uống: annapaanam pi = anna~n ca paana~n ca (phối hợp cách), rất nhiều đến nỗi nó bị quăng đi (api ssu avakiriyati) ssu (không được dịch) chỉ là một tiểu từ không biến đổi. Rất nhiều đến nỗi nó bị quăng đi (Api avikariiyati): dư thừa đến nỗi phải quăng đi: nghĩa là nó bị bỏ đi. ÐẾN NHỮNG NGƯỜI MÀ ÐÃ ÐẠT ÐẾN ÐỈNH CAO NHẤT (Sammaggate): đến những người mà đã bước lên một cách chân chánh, ÐẾN NHỮNG NGƯỜI MÀ ÐÃ ÐI XUẤT GIA: Pabbajite = pabba jitaaya . Ðây là vị trí cách trong tặng cách; Hay nói cách khác, nếu là vị trí cách thực sự thì ý nghĩa sẽ là “Dầu những người mà đã đạt đến đỉnh cao, những người mà đã xuất gia, ở trong tầm tay, có sẵn. TUY NHIÊN CHÚNG TA CHẲNG CHO CÁI GÌ (Na ki~nci adamhase): Bị chế ngự bởi lòng ân hận hối tiếc nên chúng nói rằng chúng đã không cho cái gì ngay một vật thí nào.
11. MUỐN LÀM ÐIỀU KHÔNG NÊN LÀM (Akammakaamaa): Muốn làm điều gì không nên làm là muốn làm những điều ác mà không nên làm bởi những người có giới đ?c, nghĩa là không có sự cố gắng chân chánh đối với các thiện pháp. THAM ĂN (Mahagghasaa): ăn nhiều. Cả hai câu nói đều chỉ cho thấy rằng dầu chúng có được vật thực thù thắng và ngọt ngào, chúng cũng chẳng cho gì đến những người cần đến và riêng mình chúng thọ hưởng nó. CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI CHO NHỮNG MIẾNG VÀ NHỮNG CỤC (aalopapi.n.dadaataaro): chúng ta là những người mà cho ra những cục cơm không lớn hơn một miếng. NHỮNG NGƯỜI THỌ LÃNH (patiggahe): Những người thọ lãnh nó. MẮNG NHIẾC (parivaasimhase) Chúng ta nói để cho thấy lòng sân hận, nghĩa là chúng ta gièm pha và nhạo báng.
12. NHỮNG CĂN NHÀ ẤY (Te gharaa): Nơi mà trước kia chúng ta làm chủ khi nghĩ rằng, “Căn nhà này là của chúng ta”, những căn nhà ấy tiếp tục đứng y như cũ, nhưng bây giờ chúng không có lợi ích cho chúng ta chút nào nữa – Ðây là ý nghĩa. VÀ NHỮNG NGƯỜI HẦU ẤY VÀ NHỮNG VẬT TRANG SỨC ẤY CỦA TA (taa ca daasiyo taan’evabha ranaani no) điều như thế sẽ được áp dụng ở đây. Ở đây chúng ta: No = a.mhaaka.m (thể văn phạm hoán chuyển); NHỮNG THỨ NÀY (Te): Những căn nhà này v.v… BÂY GIỜ ÐƯỢC HƯỞNG BỞI NHỮNG NGƯỜI KHÁC (a~n~ne paricaarenti) nghĩa là đang được thọ hưởng v.v… TRONG KHI SỐ PHẬN CỦA CHÚNG TA LÀ ÐAU KHỔ (maya.m dukkhassa – bhaagino): chúng nói bằng tự chê trách mình, khi nói rằng, “Trước kia chúng ta hoàn toàn quen thói đeo đuổi theo những trò chơi, vì không biết rằng những của cải ấy phải bị bỏ lại khi đi tiếp qua một cuộc sống mới và chúng ta sẽ làm điều mà sẽ đi theo chúng ta ở trong kiếp sau; Và bây giờ số phận của chúng ta là nỗi khổ v.v… Bây giờ bởi vì chúng sanh, dầu tái sanh trong nhân loại Sau khi mạng chung ở cõi Ngạ quỉ, theo qui luật thì, thuộc dòng thấp kém và sống một cuộc đời rất khổ nhọc do bởi dư báo nghiệp cũ ấy. Hai câu kệ bắt đầu bằng: “chúng sẽ là những người làm thúng giỏ” được nói như vậy để chứng minh vấn đề ấy.
13. Ở đây, NHỮNG NGƯỜI ÐAN GIỎ MÀ (Venii vaa): Những người đan giỏ do sự sanh, nghĩa là chúng sẽ làm những người đan tre, những người làm trúc sậy. Chữ mà (vaa) có ý nghĩa về liên hệ đại danh từ. BỊ XEM THƯỜNG (Ava~n~naa): Ðáng bị xem thường, ý nghĩa là đê tiện, một cách đọc là Ðáng khinh (Va.m bhanaa), nghĩa là những người mà bị ép uổng bởi những người khác. NHỮNG NGƯỜI LÀM XE (ratthakaarii): Những người làm yên cương và áo giáp. QUỈ QUYỆT (Dubbhikaa): quỉ quyệt đối với bạn bè của chúng, là những người đi ép uổng bạn bè của chúng CHIÊN ÐÀ LÀ (Ca.n.daalii): sanh làm những người Chiên Ðà la: CHỊU VẤT VÃ LỚN (Kapa.naa) nghèo khổ, là những người đạt đến trạng thái cực kì bi thương. NHỮNG NGƯỜI HẦU TẮM (Nahaamilii): sanh làm những người thợ cạo; Chúng sẽ làm như vậy nhiều lần lập đi lập lại trong tất cả các chỗ. Ðây là cách nên được hiểu; nghĩa là chúng sẽ sanh vào trong những gia đình thấp hèn trong những kiếp liên tục.
14. CHỈ RIÊNG TRONG NHỮNG NGƯỜI NÀY CHÚNG SẼ SANH VÀO (Tesu tesveva jaayanti): Bất cứ gia đình nào khác, như là những người thợ săn và những người hốt rác v.v… Mà chịu sự vất vả lớn, và bị khinh rẻ thậm tệ, là những số phận thống khổ vô cùng, chính trong những gia đình thấp hèn này, chúng, là những kẻ mà đã sanh trong cõi Ngạ quỉ do bởi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn, phải sanh vào khi chung mạng chung ở đó. Vì lý do này mà vị ấy nói rằng, “Ðây là số phận của những kẻ bỏn sẻn,”, số phận của những người mà đã không làm những việc phước sau khi đã được cho thấy như vậy, bảy câu kệ bắt đầu bằng, “Trong khi những người bố thí không có lòng bỏn sẻn, là những người trong quá khứ đã làm những việc thiện”. Ðược nói đến để cho thấy số phận của những người mà đã làm những việc phước.
15. Ở đây, SẼ LÀM SUNG MÃN THIÊN GIỚI (Saggan te paripuurenti): những người bố thí ấy là những người mà trong quá khứ, trong kiếp sống quá khứ của họ, đã làm những việc thiện, thoả thích trong những việc phước như bố thí v.v… Sẽ làm đầy, sẽ làm sung mãn thiên giới, cõi Devaloka, có sự thù thắng về sắc đẹp của họ, và có sự thù thắng về tuỳ tùng của họ. VÀ LÀM SÁNG RỰC Nandana (Obhaasenti ca Nandana.m) tuy nhiên họ không hoàn toàn làm đầy hết thảy nó vì có cây như ý v.v… Cũng chiếu sáng bằng hào quang riêng của chúng; nhưng chúng sáng chói hơn và lấn áp hào quang này bởi sự rực rỡ về y phục và những vật trang sức của chúng và do bởi hào quang từ chính thân của chúng, và làm sáng chói khu rừng Nandana .
16. LÀM HÀI LÒNG NHỮNG MONG ƯỚC CỦA CHÚNG (kaamakaamino): tự chúng thọ hưởng đ?n thoả thích trong các dục lạc theo sự chọn lựa của riêng chúng. TRONG NHỮNG GIA ÐÌNH CÓ ĐỊAVỊ CAO (Uccaakukesu): trong những gia đình có địa vị cao như sát đế lỵ v.v… GIÀU CÓ (Sabhoge su): có của cải lớn. KHI CHÚNG MẠNG CHUNG TỪ ÐÓ (tato cutaa): Khi chúng mạng chung từ cõi ấy, từ cõi chư thiên ấy.
17. TRONG MỘT NGÔI NHÀ CÓ THÁP NHỌN VÀ TRONG CUNG ÐIỆN (Kuu.taagaare ca paasaade): cả trong ngôi nhà có tháp nhọn và trong cung điện nữa. VỚI CÁC CHỖ TRÊN THÂN CỦA CHÚNG ÐƯỢC QUẠT (Viijita”ngaa): Với những tấm thân của chúng được quạt. BỞI NHỮNG NGƯỜI CẦM QUẠT BẰNG LÔNG ÐUÔI CỦA CON CHIM CÔNG. (Marohatthehi): Bởi những người cầm những chiếc quạt được trang sức bằng lông đuôi của con chim công. KHI BIẾT TẤT CẢ NHỮNG TIỆN NGHI CỦA ÐỜI SỐNG (Yasassino): có những đoàn tuỳ tùng, chúng vui chơi thoả thích – đây là ý nghĩa.
18. CHÚNG ÐI TỪ VÒNG TAY NÀY ÐẾN VÒNG TAY KHÁC (A”nkato a”nka.m gacchanti): Ngay trong thời thơ ấu của chúng được bồng ẫm từ vòng tay này đến vòng tay khác của những quyến thuộc và những vú nuôi của chúng, không phải bò lết trên mặt đất – đây là ý nghĩa. HẦU HẠ CHÚNG (upatitthanti); Chăm sóc chúng. CỐ GẮNG CHÌU THEO NHỮNG TIỆN NGHI CỦA CHÚNG (Sukhesino): muốn cho chúng được thanh nhàn; họ hầu hạ chúng; che chở cho chúng tránh khỏi những điều bất tiện nhỏ nhặt nhất, khi tự hỏi, “có phải quá lạnh không? có phải quá nóng không? – Ðây là ý nghĩa.
19. KHÔNG PHẢI DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI MÀ CHƯA LÀM NHỮNG VIỆC PHƯỚC (Nay ida.m akatapu~n~naana.m): Không có những điều gây ra sự sầu muộn, khu rừng Nandana này, thảnh thơi, hấp dẫn và khả ái, là một công viên lớn của cõi Ba mươi ba, của những vị chư thiên trong cõi Ba mươi ba, thường xuyên dành cho những người mà đã làm những việc phước, không phải dành cho những người mà chưa làm những việc phước, nghĩa là nó không thể có được bởi chúng.
20. Ở ÐÂY (idha): Ðiều này được nói đến liên quan đến sự kiện rằng, đặc biệt trong cõi người mới có thể làm những việc phước, hay nói cách khác, ở đây (idha) trong chính đời sống này, SAU NÀY (Parattha): trong kiếp sống kế tiếp.
21. CỦA CHÚNG (Tesa.m): với những vị chư thiên đã được nêu ra ở trên. CỦA NHỮNG NGƯỜI THÍCH KẾT HỢP (Sahayakaamaana.m): Bởi những người muốn sống chung với họ. ÐƯỢC CUNG CẤP BỞI NHỮNG CỦA CẢI (Bhoga sama”ngimo): có những của cải, nghĩa là chúng vui thích với năm dục lạc chư thiên của chúng, là của cải của chúng.
Phần còn lại tự nó đã rõ ràng.
Khi những Ngạ quỉ ấy đã cho biết chung chung như vậy về số phận của những nghiệp được làm bởi chúng và số phận của những việc phước, đức Thế Tôn bèn thuyết pháp một cách chi tiết, thích hợp với những căn tánh của những người đã hội họp ở đó, dẫn đầu là vị quan đại thần Koliya, có tâm đã được làm xúc động nhờ thời pháp ấy. Vào lúc kết thúc của thời pháp này, tuệ quán sanh lên trong Tám mươi bốn ngàn chúng sanh.
-ooOoo-
III.2 QUỈ SỰ VỀ SAANUVAASI
(SAANUVAASI PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Vị Trưởng lão của thành phố Ku.n.di “. Pháp thoại này được thuyết giảng khi Bậc Ðạo sư đang ngụ ở Ve.luvana, liên quan đến những quyến thuộc quá vãng của Trưởng lão đáng kính Saanuvaasi
Tương truyền rằng đã lâu trong quá khứ, tại Ba la nại, đứa con trai của vua Kitava đang trở về sau khi vui chơi ở một chỗ vui chơi nọ trong vườn ngự uyển, khi ấy vị ấy trông thấy vị Phật Ðộc Giác Sunetta đang rời khỏi thành phố sau khi đã khất thực trở về. Say sưa với ngã mạn về uy quyền và bị ô nhiễm trong tâm, vị ấy suy nghĩ, “làm sao mà tên đầu trọc ấy dám đi qua mà không chào ta!” Hoàng tử xuống khỏi lưng voi và, khi vị ấy nói với Ngài rằng, “Ta tự hỏi không biết ngươi có kiếm vật thực gì không?” Vị ấy giựt cái bát khỏi tay của ngài, ném nó xuống đất và làm vỡ nó. Rồi trêu chọc Ngài khi Ngài đứng như thế nhìn với lòng thanh tịnh, mắt nhìn xuống, thanh thoát, an nhàn và tràn ngập lòng bi mẫn, không bị nhiễu loạn vì đã đạt đến pháp chứng như thực trong tất c? mọi tình huống. Hắn bỏ đi và nói lời hiểm độc do tánh độc ác được đặt không đúng chỗ của hắn, “cái gì ngươi không biết rằng ta là con trai của vua Kitava chăng? Ngươi có thể làm gì đến ta mà chỉ đứng nhìn như thế?” Nhưng ngay khi hắn đang bỏ đi thì một sức nóng mãnh liệt phát lên trong người của hắn giống như sức nóng của ngọn lửa địa ngục. Với thân bị hành hạ dữ dội, bị những cảm thọ đau đớn cùng cực, hắn chết và sanh trong Ðại Ðịa ngục Aviiji . Ở đó, hắn bị luộc trong tám mươi bốn ngàn năm khi hắn đứng quay quanh trong nhiều cách, khi thì xoay bên phải, khi thì xoay về bên trái, khi thì ngẩn mặt lên và cúi mặt xuống. Rồi khi hắn mạng chung ở cõi đó, hắn lại chịu khổ đói và khát v.v… trong thời gian vô hạn định ở cõi Ngạ quỉ. Khi hắn mạng chung từ cõi ấy, hắn lại tái sanh trong ngôi làng của những người chài lưới gần thành phố Ku.n.di trong suốt thời gian của đức Phật này. Có sanh đến cho hắn khả năng nhớ lại những kiếp quá khứ. Khi nhớ lại bằng phương tiện này về nỗi thống khổ mà trước kia hắn đã chịu trong quá khứ thì hắn thường không đi, do sợ những ác nghiệp là bắt cá chung với những quyến thuộc của hắn, cho dù hắn đã trưởng thành. Khi họ đang đi thì hắn lại trốn vì không muốn giết cá. Trong khi hắn đi thì hắn làm hư những cái lưới hoặc nắm lấy những con cá còn sống và thả chúng xuống nước. Những quyến thuộc của hắn, không tán thành những hành động của hắn, đã tống cổ hắn ra khỏi nhà của họ. Tuy nhiên, một người anh của hắn lại đem lòng thương hại hắn. Bấy giờ vào thời ấy, Ðại Ðức aananda đang ngụ ở trên núi Saanuvaasin gần thành phố Ku.n.di và đứa con trai của người chài lưới ấy mà đã bị phủ nhận bởi những quyến thuộc của anh ta, đang đi rảo quanh ở chỗ này chỗ nọ, rồi đến tại chỗ ấy và đi đến Trưởng lão vào lúc Ngài đang thọ thực. Khi Trưởng lão hỏi anh ta, thì Ngài nhận ra rằng anh ta cần vật thực, bèn cho anh ta một bữa ăn và, khi bữa ăn đã xong, Trưởng lão biết ra toàn thể vấn đề. Khi Trưởng lão biết rằng, chỉ cần một thời Pháp mà anh ta đã có lòng tịnh tín trong tâm, bèn hỏi rằng, “anh có muốn xuất gia không, này anh bạn?” Anh ta bèn đáp lại rằng, “Vâng, thưa Ngài, con muốn xuất gia”. Khi Trưởng lão đã cho anh ta xuất gia thì Ngài đi với anh ta đến trước mặt Bậc Ðạo sư. Rồi Bậc Ðạo sư nói với Trưởng lão rằng: “Này Ànanda, ngươi có lòng thương tưởng đối với vị sadi này”. Bởi vì vị sadi chưa làm việc thiện nào nên vị ấy sẽ nhận được ít ỏi vật thực; bởi vậy, Bậc Ðạo sư, để giúp đỡ anh ta, bèn khuyên anh ta hãy châm đầy những hũ nước để chư Tăng dùng. Khi trông thấy điều này thì thiện tín bèn cung cấp thường xuyên cho anh ta nhiều vật thực. Ðến đúng lúc anh ta thọ Ðại giới và chứng đắc đạo quả A la hán và sau khi trở thành một vị Trưởng lão, trú ngụ ở trên núi Saanuvaasim cùng với mười hai vị Tỳ kheo. Dầu có đến năm trăm quyến thuộc của anh ta, do không tích lũy những thiện nghiệp và chỉ tích lũy những ác nghiệp như lòng bỏn sẻn v.v…, họ đã chết và tái sanh trong cõi Ngạ quỉ. Tuy nhiên, mẹ và cha của anh ta lại không chịu đi đến trưởng lão, bởi vì họ lúng túng khi nghĩ rằng, “Ðây là người mà trước kia chúng ta đã quăng ra khỏi nhà của chúng ta”, bèn sai người anh đi – là người mà đã có lòng thương tưởng saanuvaasin . Người kia hiện ra cho thấy khi Trưởng lão đi vào làng khất thực; khi quì bằng đầu gối phải ở trên đất và chấp tay đảnh lễ, Ngạ quỉ nói những câu kệ bắt đầu bằng, “Bạch Ngài, cha mẹ của Ngài”. Tuy nhiên năm câu kệ bắt đầu bằng “vị Trưởng lão của thành phố Ku.n.di v.v…” được lồng vào bởi những vị kiết tập Tam tạng, với mục đích cho thấy văn cảnh của chúng:
1. “Vị Trưởng lão của thành phố Ku.n.di, là người sống ở trên núi Saanuvasin tên là Po.t.thapaada là một vị Sa môn, các căn đã được tu tập.
2. Mẹ, cha và anh của vị ấy đã đi đến kiếp sống đau khổ trong cõi Yama (Diêm vương). Khi đã làm những ác nghiệp, họ đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ.
3. Rơi vào kiếp sống đau khổ, bị kim chích vào mình, mệt mỏi, trần truồng và gầy ốm, kinh sợ, ở trong tình trạng khiếp đảm lớn và có bàn tay dính đầy máu, chúng thường không để lộ chính mình.
4. Người anh của vị ấy, sửng sờ, trần truồng và một mình ở trong một con hẻm, cong xuống đất ở cả bốn chỗ, lộ hình ra ở trước mặt của Trưởng lão.
5. Nhưng Trưởng lão không quan tâm và đi qua trong im lặng; bởi vậy, nó báo cho Trưởng lão biết rằng, “Tôi là anh của Ngài, đã sanh làm một Ngạ quỉ.
6. Thưa Ngài, mẹ và cha của Ngài đã đi vào kiếp sống đau khổ của yama . Khi đã làm những ác nghiệp, họ đã đi khỏi đây và đến cõi của những Ngạ quỉ.
7. Khi đã đi đến kiếp sống đau khổ, bị kim chích mệt mỏi, trần truồng và gầy ốm, kinh sợ, bị kinh hãi lớn và có bàn tay dính máu, họ không chịu hiện ra.
8. Ngài có lòng thương xót, hãy thương xót. Khi Ngài đã bố thí, hãy hồi hướng cho chúng tôi; vì chính do những vật thí đã được cho ra bởi Ngài mà những bàn dính máu được nuôi sống”.
Chú giải:
1. Ở đây VỊ TRƯỞNG LÃO CỦA THÀNH PHỐ Ku.n.di (Ku.n.dinagariyo thero): Vì Trưởng lão đã sanh ra và lớn lên trong thành phố có cùng tên âý. Một cách đọc khác là Ku.n.dikanaagaro thero, nhưng nó có nghĩa tương tự. LÀ NGƯỜI TRÚ NGỤ Ở TRÊN NÚI SAANUVAASI.N (SAANUVASINIVASINO): là người ngụ ở núi mang tên ấy. TÊN LÀ PO.T.THAPAADA (PO.T.THAPAADO TI NAMENA): Ðược biết đến bởi cái tên Po.t.thapaada . MỘT VỊ SA MÔN (Sama.no): đã làm vắng lặng tất cả điều ác. VỚI CÁC CĂN ÐÃ ÐƯỢC PHÁT TRIỂN (Bhaavitindriyo). với các căn như Tín căn v.v… đã được tu tập qua sự trao đổi bằng thánh đạo, nghĩa là một vị A la hán.
2. CỦA VỊ ẤY (Tassa): của Trưởng lão Saanuvaasi.n ấy. ÐÃ ÐI ÐẾN KIẾP SỐNG ÐAU KHỔ (Duggataa): đã đi đến một trạng thái đau khổ.
3. BỊ KIM CHÍCH (suucik’a.t.taa): bị đau đớn, bị hành hạ bởi những tấm thân thối tha, xấu xí. Một cách đọc khác là đã đi đến cây kim” (Sucigataa): Chúng bị giáng xuống, bị bức bách bởi cơn đói và cơn khát khiến có cái tên là “Cây kim” (Suucikaa), mang ý nghĩa rằng chúng bị đâm chích. Một số người khác đọc là “có cuống họng như cây kim” (suucika.n.thaa), nghĩa là miệng của chúng mở ra như những cái lỗ xâu kim. MỆT MỎI (Kilantaa): Mệt mỏi về thân và tâm. TRẦN TRUỒNG (Naggino): không mặc quần áo, hình tướng trần truồng. GẦY ỐM (Kisaa): với những tấm thân gầy ốm, bởi vì chúng mang những tấm thân chỉ còn da và xương mà thôi. BỊ KHIẾP ÐẢM (uttasantaa) do bởi nỗi sợ hãi bị chê trách, khi nghĩ rằng, “Vị Sa môn này là con trai của chúng ta”. TRONG NỖI SỢ HÃI LỚN (Mahaataasaa): chúng đầy sợ hãi bởi vì những nghiệp được làm bởi chúng trong quá khứ. CHẲNG DÁM ÐỂ LỘ RA (Na dassenti) chúng không dám để lộ chính mình, không dám đi và đối diện với vị ấy. CÓ BÀN TAY MÁU (Kuruurino): có hành động tàn bạo.
4. ANH CỦA VỊ ẤY (Tassabhaataa) Anh của Trưởng lão Saanuvaasi.n . SỮNG SỜ: Vitaritvaa = Viti.n.no (thể văn phạm hoán chuyển), nghĩa là đầy nỗi sợ hãi và run rẩy vì nỗi sợ bị chê trách. Một cách đọc hoán chuyển là vội vã (vituritvaa): trong sự vội vã, nghĩa là đang vội vã. TRÊN MỘT CON HẺM (Ekapathe): Trên một con đường nhỏ vắng. MỘT MÌNH (Ekako): một mình, không có ai đi chung. CONG XUỐNG Ở BỐN CHỖ (catuku.n.diko bhaavitvaana): vị ấy di chuyển thân mình quanh quẩn bằng tứ chi được cong xuống. – tựa và đi ngang ở trên hai bàn tay và hai đầu gối, nghĩa là khi đã trở thành như thế, nó hành động theo cách này để cho cái đáng xấu hổ được che phủ từ đằng trước. HIỆN HÌNH CHO TRƯỞNG LÃO TRÔNG THẤY (Therassa dassayii’tuma.m): làm cho chính hắn có thể trông thấy được, để cho người hắn được trông thấy, đối với Trưởng lão.
5. CHẲNG QUAN TÂM (Amanasikatvaa): không chú ý (amanasikaritvaa, thể văn phạm hoán chuyển), không chú ý, xem kẻ kia như thế nào. Bởi vậy nó (So ca): Bởi vậy con Ngạ quỉ ấy. TÔI LÀ ANH CỦA NGÀI, ÐÃ SANH LÀM MỘT NGẠ QUỈ (bhaataa petaagato aha.m) Hắn báo tin cho Trưởng lão biết rằng, “tôi là anh của Ngài, trong kiếp quá khứ. Bây giờ tôi đến đây là một Ngạ quỉ rồi.” Ðây là cách nên được hiểu. Ba câu kệ bắt đầu bằng “mẹ và cha của Ngài” Ðược nói đến để cho thấy cách mà hắn báo cho Trưởng lão biết về điều này.
6. Ở đây MẸ VÀ CHA CỦA NGÀI: Maataa pitaa ca te = tava maataa pitaa ca (thể văn phạm hoán chuyển).
8. XIN HÃY NHỦ LÒNG BI MẪN (Anukampasssu): Xin hãy giúp đỡ chúng con, xin hãy ân cần đến. HỒI HƯỚNG PHƯỚC ẤY CHO (anvaadisaahi): Chuyển phước ấy. Ðến chúng tôi: No = a.mhaaka.m (thể văn phạm hoán chuyển). ÐƯỢC CHO BỞI NGÀI: Tava dinnena= tayaa dinnena (thể văn phạm hoán chuyển).
Rồi những vị kiết tập Tam Tạng đọc những câu kệ này để cho thấy cách hành động được thực hiện bởi Trưởng lão, khi vị ấy nghe qua điều này:
9. “Khi Trưởng lão và mười hai vị Tỳ kheo đã đi khất thực, họ hội họp ở cùng một chỗ với mục đích san sẽ bữa ăn.
10. Trưởng lão nói với tất cả họ rằng, “Hãy cho đến tôi cái đã được thọ lãnh; tôi sẽ đổi nó thành bữa ăn cho chư Tăng vì lòng bi mẫn đối với quyến thuộc của tôi.”
11. Họ trao nó cho Trưởng lão và Trưởng lão mời chư Tăng. Khi đã cho ra, Trưởng lão bèn hồi hướng phước thí ấy đến cho mẹ, cha và anh của Ngài khi nói rằng, “xin cho phước thí nầy dành cho những quyến thuộc của tôi, xin những quyến thuộc của tôi được hạnh phúc”.
12. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này thì vật thực hiện ra, sạch sẽ, hảo hạng, được khéo sửa soạn, và được thêm gia vị bằng nhiều loại hương vị, nhân đó người anh của vị ấy hiện ra, đẹp trai, mạnh khoẻ và an vui, khi nói rằng, “vật thực này có nhiều, thưa ngài, nhưng xem ra chúng tôi vẫn còn trần truồng. Thưa Ngài, xin hãy tự mình cố gắng bằng cách nào đó để chúng tôi có thể có được những y phục”.
14. Trưởng lão lượm về tất cả những miếng vải từ những đống rác. Khi vị ấy đã biến những miếng vải thành một chiếc y, vị ấy cho nó đến chư Tăng từ bốn phương.
15. Khi đã cho rồi, Trưởng lão bèn hồi hướng nó cho mẹ, cha anh của Trưởng lão, khi nói rằng, “Xin cho phước thí này thấu đến những quyến thuộc của tôi. Xin cho những quyến thuộc của tôi được hạnh phúc.”
16. Ngay khi vị ấy hồi hướng những phước thí này thì những y phục hiện ra, nhân đó người anh của vị ấy, ăn mặc những y phục xinh đẹp, hiện ra trước mặt Trưởng lão. Khi nói rằng:
17. “Nhiều y phục như ở trong toàn cõi của Vua Nanda – Còn nhiều hơn thế nữa thưa Ngài, là những y phục và những đồ trải của chúng tôi.
18. Bằng vải lụa và vải len, vải lanh và vải chỉ. Chúng có nhiều và đắt giá, chúng còn thòng xuống từ trên trời.
19. Và chúng tôi chỉ mặc vào cái chúng tôi ưa thích. Xin hãy tự cố gắng, thưa Ngài, bằng cách nào đó để chúng tôi có thể có được nhà ở.
20. Khi Trưởng lão đã dựng lên một thảo am, vị ấy dâng nó đến tứ phương Tăng. Khi đã cho rồi, Trưởng lão hồi hướng phước ấy cho mẹ, cha và anh của Ngài khi nói rằng: “Xin cho những phước thí này thấuu đến những quyến thuộc của tôi. Xin cho những quyến thuộc của tôi được hạnh phúc!”
21. “Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này thì những căn nhà hiện ra – những nhà ở có tháp nhọn được chia ra thành những ngăn đều nhau.
22. Cái giống như những căn nhà của chúng tôi ở đây thì không được tìm thấy trong nhân loại; những căn nhà như của chúng tôi ở đây giống như những căn nhà được tìm thấy trong cõi chư thiên.
23. Chói lọi, chúng chiếu sáng khắp bốn hướng. Xin hãy tự mình cố gắng, thưa Ngài, bằng cách nào đó để chúng tôi có thể có được nước”.
24. Khi Trưởng lão đã chăm đầy một lu nước, Ngài cho nó đến Tứ phương Tăng. Khi đã cho rồi, Trưởng lão bèn hồi hướng nó đến mẹ, cha và anh của Ngài khi nói rằng “Xin cho phước thí này thấu đến quyến thuộc của tôi! Xin cho những quyến thuộc của tôi được hạnh phúc!”
25. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này, thì nước hiện ra – những hồ sen khéo hiện bày sâu và có bốn góc, khéo hiện bày
26. Với nước trong vắc và những bờ hồ xinh đẹp, mát và thơm ngát, được che phủ bằng hoa sen và hoa súng, nước có đầy những phấn sen.
27. Khi họ đã tắm và uống nước trong đó, họ lại hiện ra trước mặt của Trưởng lão, khi nói rằng, “Nước này có nhiều, thưa Ngài, nhưng những bàn chân của chúng tôi bị nứt nẻ đau đớn.
28. Khi dạo đi đây đó, chúng tôi đi khập khiểng trên sỏi và trên cỏ Kusa có gai nhọn. Xin hãy tự mình cố gắng, thưa Ngài, bằng cách nào đó để chúng tôi có thể có đủ phương tiện đi lại”.
29. Khi Trưởng lão đã có được một đôi giày, vị ấy bèn dâng nó đến Tứ phương Tăng. Khi đã cho rồi, Trưởng lão bèn hồi hướng phước thí này đến cha mẹ và anh của vị ấy khi nói rằng, “Xin cho phước thí này đến những quyến thuộc của tôi! Xin cho những quyến thuộc của tôi được hạnh phúc!”
30. Ngay khi vị ấy hồi hướng phước thí này thì những Ngạ quỉ đi đến bằng xe kéo, khi nói rằng, “Thưa Ngài, Ngài đã thể hiện lòng bi mẫn bằng vật thực và y phục này,
31. Nhà này và vật thí về nước uống – cả những cái này và vật thí về xe này. Thưa Ngài, chúng tôi đã đến để đảnh lễ bậc hiền trí có lòng bi mẫn đối với Thế gian”.
Chú giải:
9. Ở đây KHI TRƯỞNG LÃO ÐÃ KHẤT THỰC RỒI (Thero caritvaa pi.n.daaya): Trưởng lão đã đi khất thực. VÀ MƯỜI HAI VỊ TỲ KHƯU KHÁC (Bhikkhuu A~n~ne, ca dvaadasa): và mười hai vị Tỳ kheo khác mà đang sống chung với Trưởng lão, hội họp lại trong cùng một chỗ. Nếu Có người hỏi rằng, “Với mục đích gì?” Với mục đích ăn chung. (Bhattavissaggakaara.naa): Với mục đích độ thực, để ăn vật thực.
10. ÐẾN HỌ (te): Ðến những vị Tỳ kheo ấy. KHI ÐÃ ÐƯỢC THỌ LÃNH (Yathaa laddha.m): bất cứ cái gì thọ lãnh được. HÃY CHO: dadaadha = dedha (thể văn phạm hoán chuyển).
11. HỌ TRAO ÐẾN (Niiyaatayi.msu): Họ cho. THỈNH MỜI CHƯ TĂNG (Sa.ngha.m nimantayi): Mời mười hai vị Tỳ kheo để cho vật thực ấy bằng lối phân biệt nó là dành cho Chư Tăng. HỒI HƯỚNG (anvaadisi): chỉ định; chỉ đến người mà vị ấy hồi hướng phước thí ấy trong trường hợp ấy, Ðến me, cha và anh của vị ấy khi nói rằng, “Xin cho cái này thấu đến những quyến thuộc của tôi! Xin cho những quyến thuộc của tôi được hạnh phúc” Ðược nói đến.
12. NGAY KHI VỊ ẤY ÐÃ HỒI HƯỚNG CÁI NÀY: Samanantaraanuddi.t.the= Uddi.t.tha samanantara.m eva (phối hợp cách): VẬT THỰC HIỆN RA (Bhojana.m uppajjhatha) Vật thực hiện ra dành cho những Ngạ quỉ ấy. Thuộc loại nào? Chúng nói, “Sạch sẽ” v.v… ÐƯỢC GIA THÊM NHIỀU HƯƠNG VỊ (Ane Karasaya~njana.m): Ðược sửa soạn bằng những món cà ri có nhiều loại hương vị; hay nói cách khác, có nhiều hương vị và có nhiều món cà ri. NHÂN ÐÓ (tato): sau khi thọ lãnh được vật thực. ANH CỦA VỊ ẤY HIỆN RÕ RA (Uddassayii bhaataa): Ngạ quỉ mà đã từng làm anh của vị ấy hiện ra trước mặt Trưởng lão. ÐẸP TRAI, MẠNH KHOẺ VÀ AN VUI (Va.n.navaabalavaa sukhii): Nhờ nhận được vật thực ấy bằng cách ấy, ngay tức thì nó trở nên có sắc đẹp, có sức mạnh và hạnh phúc.
13. NHIỀU VẬT THỰC, THƯA NGÀI (Pahuuta.m bhojana.m bhante): Do oai lực về vật thí của Ngài, thưa Ngài, nhiều vật thực được thọ lãnh bởi chúng tôi. NHƯNG HÃY XEM CHÚNG TÔI VẪN CÒN TRẦN TRUỒNG (passa naggaamhase ): Tuy nhiên, hãy quan sát rằng chúng tôi vẫn còn trần truồng. DO ÐÓ THƯA NGÀI, XIN NGÀI HÃY TỰ MÌNH CỐ GẮNG HÀNH ÐỘNG BẰNG CÁCH NÀO ÐÓ ÐỂ CHÚNG TÔI CÓ THỂ ÐÓ ÐƯỢC NHỮNG Y PHỤC. (Yaathaa vattha.m labhaamhase): Hãy tự mình cố gắng hành động như thế nào để chúng tôi có thể có được những y phục, nghĩa là xin hãy nhiệt tâm theo cách này.
14. TỪ ÐỐNG RÁC (Sa.nkaarakuu.tato): từ đống rác này và đống rác nọ. LƯỢM (Uccinitvaana): Ði tìm lượm. NHỮNG MIẾNG GIẺ (Nantake): Những mảnh giẻ bị quăng bỏ mà đã bị rách ở các viền; Chúng được gọi là những mảnh giẻ bởi vì chúng bao gồm những miếng nhỏ. Bấy giờ, Trưởng lão làm một chiếc y bằng những thứ này và cho nó đến chư Tăng. Vì lý do này mà người ta nói rằng, “Khi vị ấy đã biến những miếng giẻ thành một chiếc y, vị ấy cho đến tứ phương Tăng”. Ở ÐÂY VỊ ẤY CHO NÓ ÐẾN TỨ PHƯƠNG TĂNG (sa”nghe catuddise adaa); vị ấy cho nó đến hàng chư tăng từ bốn hướng đến. Ðây là vị trí cách trong ý nghĩa của tặng cách.
17. CHÚNG LÀ NHỮNG Y PHỤC (Pa.ticchadaa) Bởi vì trong trường hợp này Ngạ quỉ đã mặc vào người (pa.ticcchaadayati) những y phục ấy.
21. NHỮNG CHỖ NGỤ LÀ NHÀ CÓ NÓC NHỌN (Ku.taagaarani vesana): Những chỗ ngụ là những căn nhà có tháp nhọn và những căn nhà mà khác với những căn nhà này được biết đến là những chỗ ngụ. Ðiều này được nêu ra với sự méo mó về giống tánh. ÐƯỢC CHIA RA (vibhattaa): chia thành những hình thể có tính chất đều đặn, hình chữ nhật, dài, đường vòng v.v… THÀNH NHỮNG PHẦN BẰNG NHAU (Bhaagaso mitaa): Thành những phần đã được đo sẵn.
22. Của chúng tôi: No = A.mhaaka.m (thể văn phạm hoán chuyển. + Ở ÐÂY (idha): trong cõi của Ngạ quỉ này. TRONG SỐ NHỮNG VỊ CHƯ THIÊN (apidibbesu): Api (Không được dịch) chỉ là một tiểu từ không biến đổi. Trong những lãnh thổ của những vị chư Thiên, nghĩa là trong những cõi chư Thiên.
24. CÁI LU NƯỚC (Karaka.m) Một cái lu bình thường. ÐỔ ÐẦY (puuretvaa): Ðổ đầy nước.
26. NƯỚC ÐẦY NHỮNG PHẤN SEN (Vaariki~njakkhapuuritaa) Ðầy trên mặt nước ấy được phủ đầy khắp bằng những sợi tơ nhụy của những hoa sen và những bông hoa súng v.v….
27. Bị Nứt Nẻ (phalanti): chúng loét ra, nghĩa là những mé của những gót chân của chúng bị nứt ra.
28. ÐI LANG THANG ÐÂY ÐÓ (aahi.n.damaanaa): đi lang thang đây đó. CHÚNG TÔI ÐI KHẬP KHIỂNG (Kha~njaama): chúng tôi đi trong dáng điệu cà nhót ở chỗ này chỗ kia. TRÊN SỎI VÀ TRÊN CỎ KUSA CÓ GAI NHỌN (Sakkhare kusalanthake): trên những mảnh đất đầy những viên sỏi và cỏ Kusa có gai nhọn, nghĩa là giẫm lên sỏi và cỏ kusa có gai nhọn. MỘT CHIẾC XE (yaana.m): bất cứ loại phương tiện chuyên chở nào như xe kéo hay kiệu võng v.v…
29. Một chiếc giày (Sipaa.tika.m): Một chiếc giày một đế.
30. ÐI ÐẾN BẰNG XE KÉO (Rathena – m – aagamu”m = Rathena aagacchi.msu (thể văn phạm hoán chuyển); Những chữ đọc nối tiếp cho xuôi tai bởi chữ ma.
31. CẢ HAI (ubhaya.m): Bởi cả hai vật thí – Bởi vật thí bằng bốn món vật dụng gồm vật thực v.v… Và bởi cùng vật thí này gồm xe thuyền. Vật thí gồm những loại thuốc chữa bệnh cũng bao gồm trong vật thí về nước ở đây. Phần còn lại hoàn toàn tự rõ ràng rồi vì nó đã được nêu ra ở trên rồi.
Trưởng lão nêu lên vấn đề ấy với đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên khi nói rằng, “cũng giống như những Ngạ quỉ ở đây, cũng vậy trong kiếp sống ngay trước của ngươi, ngươi cũng đã làm một Ngạ quỉ chịu nhiều thống khổ”, và khi được thỉnh cầu bởi Trưởng lão, Ngài bèn kể lại quỉ sự sợi chỉ và thuyết giảng chánh pháp cho hội chúng đã hội họp ở đó. Khi đã nghe qua thời pháp này, dân chúng, đầy xúc động, trở nên có những xu hướng về những việc phước như bố thí v.v…
-ooOoo-
[3.2]
III.3 TẠO XA QUỈ SỰ
(RATHAKAARA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Có cột bằng ngọc bích, rực rỡ, chiếu sáng”. Pháp thoại này được thuyết giảng trong khi Bậc Ðạo sư đang ngụ ở Savatthi, liên quan đến một nữ Ngạ quỉ nọ.
Tương truyền rằng cách đây đã lâu, trong thời của đức Thế Tôn Kassapa, có một người đàn bà nọ có hạnh kiểm tốt và tìm thấy đức tin trong giáo Pháp do sự thân cận với bạn lành. Nàng dựng lên một chỗ ngụ, trông rất khả ái, được khéo làm cân đối bằng những bức vách có trang hoàng, những cột trụ, những bậc thang và nền nhà. Nàng thỉnh các vị Tỳ kheo ngồi ở đó, dâng cúng vật thực thượng vị đến các Ngài và dâng thảo am đó đến chúng Tỳ kheo. Ðúng lúc nàng chết và, do bởi nghiệp ác khác biệt, nàng sanh làm một vimaanapetii gần hồ rathakaa ra trên vùng Himaalaya, chúa của các núi. Do năng lực của thiện nghiệp về việc bố thí ấy đến chư Tăng nên có sanh lên, ở giữa hồ ao, và được trang sức bởi khu rừng như Nandana, một cung điện cao vút được làm toàn bằng những báu vật, và ở tất cả các mặt thì cực kỳ hấp dẫn, mê ly và khả ái, trong khi chính nàng thì có nước da màu vàng ròng, trông xinh đẹp khả ái và hấp dẫn lạ thường. Nàng sống ở trong đó, hưởng sự vinh quang của chư thiên, nhưng cô đơn chẳng có người nam nào. Bất mãn sanh lên trong nàng vì sống mà không có người đàn ông nào trong trong thời gian lâu dài ấy. Nàng trở nên bất mãn và suy nghĩ rằng, “Ta sẽ bày một mẹo!”, Nàng thả vào trong con sông một số xoài chín của chư thiên. Mọi chuyện nên được hiểu theo cùng cách như đã được kể lại trong quỉ sự Ka.n.nnamu.n.da . Tuy nhiên ở đây, một chàng trai là dân cư của thành Ba la Nại, trông thấy một trong những trái xoài ấy ở trong sông Hằng. Ðến đúng lúc, anh ta lên đường để tìm kiếm xem nó từ đâu đến, và trông thấy con sông ấy; và bằng cách đi theo con sông này, đã đến tại chỗ ngụ của nàng. Khi nàng trông thấy anh ta nàng bèn dẫn anh ta vào trong chỗ ngụ của nàng, đón chào anh ta và mời anh ta ngồi. Khi trông thấy sự thù thắng của nàng, anh ta bèn nói lên những câu kệ này để dò hỏi về nó:
1. “Có cột bằng ngọc bích, lấp lánh, rực rỡ và có vô số những bức tranh, đó là cung điện mà nàng đã ngự lên và nàng nghỉ ở đó, hỡi Devii có đại oại lực, trông như ánh trăng rằm.
2. Và nước da của nàng giống như vàng tan chảy, tướng mạo chói sáng của nàng trông vô cùng khả ái, nhưng nàng lại ngồi một mình trên chiếc giường vinh quang vô song của nàng, xem ra nàng không có chồng.
3. Và nàng có những hồ sen này ở khắp bốn hướng, có nhiều hoa, với nhiều hoa sen và hoàn toàn được trải lên bằng bụi vàng; bùn và bèo tấm thì không được biết đến ở đó.
4. Những con thiên nga trông khả ái và dễ thương, lội quanh ở trên mặt nước luôn khi và kéo đàn với nhau, tất cả chúng đều duyên dáng, hót với giọng thanh tao như những tiếng trống định âm.
5. Chói sáng, lộng lẫy trong sự vinh quang của nàng, nàng nghỉ khi tựa chiếc thuyền của nàng, với đôi mi rậm, vui vẻ và giọng nói khả ái; tay chân nỏn nà, nàng vô cùng rực rỡ.
6. Cung điện này không có tỳ vết và đứng ngang bằng; có những công viên làm tăng thêm sự vui thích và khoái lạc của nàng. Hỡi công nương có sắc đẹp tột bậc, ta ước rằng ta có thể vui hưởng với nàng ở đây giữa khoái lạc nầy”.
Chú giải:
1. Ở đây, Ở ÐÓ (tattha): trong cung điện ấy. NÀNG NGHỈ (acchasi): Nàng ngồi, nàng trú ngụ, bất cứ lúc nào nàng muốn. HỠI DEVII (devii): vị ấy xưng hô với nàng. CÓ OAI LỰC LỚN (mahaanubhaave): có oai lực lớn của chư thiên, ÐANG TRONG ÐÀ CHẠY NHANH (pathaddhani): đang đi trên quỉ đạo của chính nó, nghĩa là trên con đường xuyên qua các khoảng rộng của những bầu trời. NHƯ TRĂNG RẰM (pannarase va cando) nghĩa là chiếu sáng như vầng sáng bao quanh của mặt trăng trong đêm rằm.
2. VÀ NƯỚC DA CỦA NÀNG GIỐNG NHƯ VÀNG TAN CHẢY. (Va.n.no ca te kanakassa sannibho) Nước da của nàng vô cùng hấp dẫn, giống như vàng tan chảy. Vì lý do này mà vị ấy nói rằng, “Hình tướng chói sáng của nàng trông rất diễm kiều”. VÔ SONG (atula) có giá trị lớn; nói cách khác, chúng ta nên đọc rằng hỡi con người vô song (atula), đó là cách xưng hô của anh ta với nàng Devataa, nghĩa là, “Hỡi người có sắc đẹp vô song”, Nàng không có chồng: N’atthi ca tuyha.m saamiko = Saamiko ca tuyha.m n’atthi (thể văn phạm hoán chuyển).
3. NHIỀU HOA (bahuutamalyaa): chúng có nhiều loại hoa khác nhau như hoa sen và hoa súng xanh v.v… VỚI NHỮNG BỤI VÀNG (Suva.n.nacu.n.nehi): với những cát vàng. Ở ÐÓ (tattha): ở trong những hồ sen ấy. BÙN VÀ BÈO TẤM (pa”nko pa.n.nako ca): chẳng có bùn nào hay chút rong rêu nào được biết đến.
4. NHỮNG CON THIÊN NGA NÀY TRÔNG KHẢ ÁI VÀ DUYÊN DÁNG (Ha.msaa pi ma dassaniiyaa manoramaa): Những con chim thiên Nga này, trông khả ái và đẹp. LƯỚT QUANH (anupariyanti): lội tới lội lui. TRONG MỌI KHI (sabbadaa): trong tất cả các mùa. KÉO LẠI VỚI NHAU (Samayya): đi đến với nhau. XINH ÐẸP (Vaggu): ngọt ngào. Hát ra (upanadanti): gáy. NHƯ TIẾNG CỦA NHỮNG CÁI TRỐNG ÐỊNH ÂM (Dundubhiina.m va ghosa): nghĩa là do bởi tính chất về giọng đầy ấm và ngọt ngào của chúng, tiếng của những con chim thiên Nga ở trên hồ sen của nàng giống như tiếng của những cái trống định âm.
5. CHÓI SÁNG (Daddaơhamaanaa): chiếu sáng rực rỡ. TRONG SỰ VINH QUANG CỦA NÀNG (yasasaa): với năng lực thần thông của một vị chư Thiên. TRONG CHIẾC THUYỀN CỦA NÀNG (naanaaya): trong chiếc thuyền của nàng; vị ấy nói điều này khi trông thấy petii đang thọ hư?ng như vậy ở trên nước khi đang ngồi trên chiếc giường quí báu bằng vàng, chiếc thuyền giống như hoa sen ở trong hồ sen. KHI ÐANG TỰA avala.mba= ola.mbitvaa (thể văn phạm hoán chuyển): tựa vào để chống đỡ. NÀNG NGHỈ (ti.t.thasi): đây là một cách nói đối lập với chuyển động, ám chỉ về sự dừng lại của chuyển động trong chữ “đang nghỉ”. Một cách đọc khác là Nisajjasi, ý nghĩa của nó nên được xem giống như là nàng “đang ngồi”. VỚI ÐÔI MI RẬM (aalaarapa.mhe): đôi lông mi cong, đen, dài, VUI TƯƠI (hasite): đầy s? tươi sáng, với khuôn mặt vui tươi. NÓI KHẢ ÁI (piya.mvade): Nói chuyện nghe khả ái, TỨ CHI DIỄM KIỀU (sabba”ngaka”nyaa.ni): có các chỗ trên thân đều xinh đẹp, nghĩa là xinh đẹp ở mọi chỗ trên thân, cả lớn lẫn nhỏ. NÀNG CHÓI SÁNG (Virocasi): Nàng chiếu sáng.
6. KHÔNG TỲ VẾT (viraja.m): không khuyết điểm, không lỗi lầm, ÐỨNG NGANG BẰNG (Same.thita.m) đứng trên một chỗ đất bằng, (samabhuumnibhaage): Hay nói cách khác, vì vẻ đẹp của nó ở khắp bốn mặt, nó đứng trong tư thế ngang bằng (samabhaage): nghĩa là hoàn hảo ở khắp quanh. LÀM TĂNG TRƯỞNG SỰ MÊ THÍCH VÀ KHOÁI LẠC (Ratinandiva.d.dhana.m): “nó làm tăng thêm sự mê thích và khoái lạc của nàng”, vì nó làm tăng sự vui thích và khoái lạc, nghĩa là khiến cho hạnh phúc và hỉ lạc của nàng tăng trưởng. HỠI CÔNG NƯƠNG (Naari) đây là cách xưng hô của anh ta với nàng. CÓ SẮC ÐẸP TỘT BẬC (anomadassane): trông không chê vào đâu được do sự hoàn hảo ở các chỗ trên thân cả lớn lẫn nhỏ. GIỮA KHOÁI LẠC NÀY (Nandane): giữa cái tạo ra khoái lạc: Ở ÐÂY (idha): ở trong khu rừng Nandana này, hay trong cung điện của nàng. ÐỂ TÔI CÓ THỂ VUI CHƠI (moditu.m): ta muốn rằng ta có thể đắm chìm trong những khóai lạc của tình yêu – đây là cách nên được hiểu.
Khi chàng trai đã nói như vậy, thì nàng Vimaanadevataa, để trả lời vị ấy, bèn nói câu kệ này:
7. “Hãy làm một công việc để được thọ hưởng ở đây và hãy khiến cho tâm của chàng thiêng về đây, khi chàng đã làm một việc để được ở đây như vậy, chàng sẽ được xem là người làm thoả mãn tất cả mọi ước muốn của chàng.
Chú giải:
7. Ở đây LÀM MỘT CÔNG VIỆC ÐỂ ÐƯỢC SỐNG HƯỞNG Ở ÐÂY (karohi kamma.m idha vedaniya.m): Hãy thực hành, chàng nên đeo đuổi một việc thiện mà sẽ chín mùi và cho kết quả của nó ở đây trong chỗ thần tiên này. HƯỚNG TÂM ÐẾN ÐÂY (idha nata.m) thiêng về chỗ này; một cách đọc hoán chuy?n là lướt đến đây (idhaninịa.m): hãy để cho tâm của chàng, hãy cho phép tâm của chàng lướt nghiêng về chỗ này.
Khi chàng trai đã nghe điều mà vimaanaapeti đã phải nói ra, vị ấy bèn rời khỏi chỗ ấy, đến những con đường nhân loại, vị ấy giữ tâm chuyên chú vào chỗ ấy và thực hành những việc phước thích hợp và chẳng bao lâu sau, khi mạng chung, tái sanh ở đó, cọng trú với Petii ấy. Những vị Kiết tập Tam Tạng đã nói lên câu kệ kết thúc để giải thích vấn đề.
8. Vị ấy đã đồng ý với nàng khi nói rằng: “Tốt lắm” và làm một nghiệp để sống ở đó; khi đã làm một nghiệp để sống ở đó, chàng trai tái sanh cọng trú với nàng.
Chú giải:
8. Ở đây TỐT LẮM (Saadhu): đây là một tiểu từ chỉ sự đồng ý. VỚI NÀNG (tassaa) với Vimaamapetii ấy. VỊ ẤY ÐÃ ÐỒNG Ý (pa.tisu.nitvaa): vị ấy đồng ý với điều mà nàng phải nói ra. ÐỂ ÐƯỢC SỐNG Ở ÐÓ (tahi.m vedaniiya.m): một nghiệp thiện đem lại kết quả hạnh phúc, tức là được sống với nàng trong cung điện ấy – Ðây là cách nên được hiểu.
Khi họ đã hưởng sự vinh quang của chư Thiên ở tại đó trong một thời gian dài, vị Thiện Nam chết do hết phước của nghiệp ấy, nhưng nàng tiên nữ thì vẫn còn sống ở đó trong một trung gian Phật thời do phước của nàng đã gieo vào mảnh ruộng đó. Rồi khi đức Thế Tôn của chúng ta đã xuất hiện trong thế gian và đã lăn bánh xe chánh pháp, và đến đúng lúc đang trú ngụ ở Jetavana, Ðại Ðức Moggallana vào một hôm nọ, khi đang đi trên những ngọn núi, trông thấy cung điện của nàng Vimaanapetii ấy và hỏi nàng những câu kệ bắt đầu bằng: “có một trụ bằng ngọc bích, lấp lánh, rực rỡ…” Nàng bèn thuật lại biến cố ấy với Ngài ngay từ đầu, và khi đã nghe qua điều này, Trưởng lão bèn đi đến Saavatthi và nêu lên vấn đề ấy với đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết giảng chánh Pháp cho hội chúng đã tụ họp ở đó. Khi đã nghe qua Pháp thoại này, dân chúng đã thực hành những việc phước như bố thí v.v… Và trở nên có sự ưa thích với chánh Pháp.
-ooOoo-
III.4 QUỈ SỰ VỀ TRẤU
(BHUSAPETVATTHU)
“Một người thì sáng kiến trong khi lại một người khác”. Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Saavatthi, liên quan đến bốn Ngạ quỉ.
Tương truyền rằng tại một ngôi làng nọ không cách xa thành Saavatthi, có một người thương buôn bất lương nọ, kiếm sống bằng nghề đong lường gian dối v.v… Ông ta thường lấy một ít võ trấu, trộn thêm đất sét nâu để làm tăng thêm trọng lượng và rồi trộn cái này với lúa đỏ mà ông ta bán ra khi ấy. Ðứa con trai của ông ta trở nên tức giận khi nghĩ rằng, “ông ta đã không hành động một cách đáng kính đối với những bạn bè của ta và những người tốt bụng của ta khi họ đi đến nhà”. Và chộp lấy miếng da lót cái ách đánh một cái vào đầu mẹ của anh ta. Ðứa con dâu của ông thì ăn bằng cách lấy trộm thịt được dự định cho tất cả và khi được gọi đến một lần nữa bởi họ, để giải thích sự kiện, chính nàng đã thề rằng, “nếu thịt ấy được ăn bởi tôi, thì xin cho tôi ăn thịt sau khi móc ra từ cái lưng của tôi kiếp nầy đến kiếp khác”. Vợ của ông ta nói với những người đến xin những phương tiện kiếm sống rằng không có gì cả, và khi bị nài ép bởi họ, bà ta thề bằng cách nói dối rằng, “Nếu có một cái gì đó mà tôi lại nói là không có gì thì xin cho tôi kiếm ăn bằng phẩn ở bất cứ chỗ nào mà tôi sanh ra!”
Ðến đúng lúc, bốn người này chết và sanh làm Ngạ quỉ trong khu rừng Vi~njha . Ở đó, người thương buôn bất lương, do quả của những ác nghiệp của ông ta, thường cầm trấu cháy đỏ ở cả hai tay và rải nó ở trên đầu của ông ta và do vậy phải chịu đau khổ lớn. Ðứa con trai của ông ta thường tự làm bể cái đầu của chính mình bằng những cái búa sắt và chịu đau đớn không xiết kể. Nàng dâu của ông ta, do quả những ác nghiệp của nàng, chịu đau đớn vô hạn vì phải ăn lấy thịt mà nàng móc ra liên tục từ cái lưng của nàng bằng móng tay lớn, rất dài và bén của nàng; Trong khi đó, ngay sau khi bữa ăn bằng cơm sạch và thơm mà những hạt gạo đen đã được lấy đi từ đó, được dâng đến cho vợ của ông ta thì nó trở thành phẩn có mùi hôi thối và ghê tởm; bị làm thủng lỗ chỗ bởi nhiều loại sâu, bà ta thường nắm chắc phẩn ấy bằng hai bàn tay và cảm thọ đau khổ lớn khi ăn lấy nó.
Bấy giờ, khi bốn người này đã sanh trong cõi Ngạ quỉ và đang chịu đau khổ lớn thì Ðại Ðức Moggallaana, khi đang đi dạo quanh những ngọn núi vào một ngày nọ, đi đến tại chỗ ấy và trông thấy chúng. Trưởng lão dò hỏi những nghiệp mà chúng đã tạo bằng câu kệ này:
1. “Một người thì cầm trấu trong tay trong khi có người nữa; và người đàn bà này thì ăn thịt và máu của chính mình; còn ngươi thì ăn phẩn dơ dáy và gớm ghiếc – đây là kết quả của nghiệp nào?”
Chú giải:
1. Ở đây TRẤU (bhusaani) những vỏ lúa. MỘT (eko) một mình. Của lúa: Saalim = saalino; đây là đối cách với sức mạnh của sở hữu cách: Hắn thường rải những vỏ trấu cháy đỏ trên đầu của hắn – Ðây là ý nghĩa. LẠI MỘT NGƯỜI KHÁC: punaaparo = puna aparo (phối hợp cách); hắn là người đã đánh vào đầu của mẹ nên bị lãnh quả bằng cái đầu bị nứt ra sau khi đánh vào đầu của hắn bằng cái búa sắt – Chính liên quan đến điều này khiến vị ấy nói. THỊT VÀ MÁU CỦA CHÍNH NÀNG (sakama.msalohita.m): nàng ăn thịt và máu từ cái lưng của chính nàng. – Ðây là cách nên đuợc hiểu. NHỜM GỚM (akanmtika.m) khó chịu, không đáng ưa thích, nhờm gớm. ÐÂY LÀ KẾT QUẢ CỦA NGHIỆP GÌ? (Kissa aya.m vipaako): ý nghĩa rằng đây là kết quả của ác nghiệp nào khiến bây giờ người đang chịu?
Khi Trưởng lão đã dò hỏi như vậy về những ác nghiệp mà chúng đã làm, người vợ của vị thương nhân bất lương khi ấy bèn nói những câu kệ này để giải thích những nghiệp được làm bởi tất cả họ:
2. Người này trong quá khứ đã làm hại mẹ của mình, trong khi người này là một vị thương nhân bất lương; Người này ăn thịt và dối gạt bằng sự nói dối.
3. Khi tôi còn làm người ở trong cõi người, tôi là một người vợ nhà và là nữ gia chủ của toàn thể gia đình; Dầu ở trong tầm tay, tôi đã giấu cái này và chẳng cho đến một ai một miếng nào của cái này, tự che đậy mình bằng cách nói dối rằng, ” không có cái gì trong ngôi nhà này cả; nếu có mà tôi đã đem giấu thời xin cho vật thực của tôi sẽ là phẩn!”.
4. Chính do kết quả của nghiệp ấy và do bởi sự kiện rằng tôi đã nói dối nên bữa ăn bằng gạo thơm này biến thành phẩn dành cho tôi.
5. Các nghiệp không phải không có quả, cũng chẳng có nghiệp nào tiêu diệt, vì tôi phải ăn và uống phẩn có những con dòi và có mùi hôi thối này.
Chú giải:
2. Ở đây NGƯỜI NÀY (aya.m): Bà ta nói khi chỉ về đứa con trai của Bà ta. LÀM HẠI (hi.msati): nó tấn công bằng bạo lực, nghĩa là nó đánh bằng một cái búa. VỊ THƯƠNG NHÂN BẤT LƯƠNG (Kuu.tavà.nijo): một tên thương nhân vô lại, nghĩa là người mà hành nghề bằng sự gian dối. ÐÃ ĂN THỊT (ma.msaani khaaditvaa): đã ăn, bỡi chính nàng, món thịt được cung cấp để dùng dành cho những người khác và dối gạt bằng sự nói dối, khi nói rằng nàng đã không ăn nó.
3. MỘT NGƯỜI VỢ NHÀ (aagaari.nii): nữ gia chủ. DẦU Ở TRONG TẦM TAY (santesu): dầu có sẵn phương tiện sống và người khác đang ngã tay xin. TÔI ÐÃ GIẤU CÁI NÀY (pariguuhaami): tôi đã che dậy cái này, điều này được nói với sự méo mó về thời gian. TỰ CHE MÌNH (chaademi): Nàng che mình bằng sự nói dối. “Chẳng có cái nào ở nhà của tôi cả”.
4. BIẾN THÀNH PHẨN DÀNH CHO TÔI (guutha.m me parivattati): bữa ăn bằng gạo thơm này biến thành, chuyển thành phẩn vì nghiệp ấy của tôi.
5. KHÔNG PHẢI KHÔNG CÓ KẾT QUẢ (aava~njhaani): không phải vô ích, không phải không có kết quả. CŨNG CHẲNG CÓ NGHIỆP NÀO TIÊU DIỆT CẢ. (na hi kamma.m vinassati) chẳng có nghiệp nào tiêu diệt cả khi đã được gieo tạo rồi mà lại không trổ quả. CÓ NHỮNG CON GIÒI (kimiina.m) có những con giòi, đầy những họ hàng nhà sâu bọ. PHẨN (miơha.m): Phẩn. Phần còn lại hoàn toàn tự rõ ràng, bởi vì nó được nêu ra ở trên rồi.
Khi Trưởng lão đã nghe qua điều mà petii ấy đã phải nói ra, vị ấy nêu lên vấn đề ấy với đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy nó làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết Pháp cho hội chúng đã hội họp ở đó. Thời Pháp đó đem lại lợi ích cho những người ấy.
-ooOoo-
III.5 TIỂU NHI QUỈ SỰ
(KUMAARA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Trí tuệ của đấng Thiện Thệ thật vi diệu”. Ðây là Tiểu nhi quỉ sự. Câu chuyện ấy xuất phát như thế nào?
Tương truyền rằng tại thành Saavatthi có nhiều thiện tín tự tổ chức thành một nhóm Phật tử và đã dựng lên ở trong thành phố ấy một Phước xá lớn và trang hoàng nó bằng những tấm vải có đủ màu sắc. Vào lúc sáng sớm, họ thỉnh Bậc Ðạo sư và chư Tăng đến và thỉnh chư Tăng có đức Phật dẫn đầu ngồi trên những chỗ ngồi được trải bằng những tấm khăn trải đắc giá, có phẩm chất cao nhất, cúng dường các Ngài những vật thơm và những bông hoa v.v… và tổ chức một cuộc lễ cúng dường long trọng. Khi trông thấy cảnh này thì một người đàn ông nọ, có tâm bị che ám bởi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn, không thể chịu đựng sự cúng dường như vậy, bèn nói rằng, “Thật tốt hơn tất cả nếu những thứ này được mang vào trong đống rác còn hơn là cho đến những tên đầu trọc nầy”. Khi nghe qua điều này thì những thiện tín, tâm của họ bị xúc động, bèn suy xét rằng, “Quả thật trầm trọng thay ác nghiệp đã sanh lên trong người đàn ông bằng điều mà ông ta xúc phạm đến chư Tăng có đức Phật dẫn đầu”. Họ thuật lại vấn đề ấy với mẹ của anh ta và nói rằng, “Bà nên đi và sám hối đức Thế Tôn và những thinh văn đệ tử của Ngài”. “Tốt lắm”, Bà ta đồng ý và khi đã quở trách đứa con trai của bà ta, đe doạ hắn, bà đi đến đức Thế Tôn và chúng Tỳ kheo và sám hối, thú nhận điều lầm lỗi mà con trai của bà đã vị phạm, và cúng dường đức Thế Tôn và chư Tăng trong bảy ngày bằng những vật thí có món cơm dẻo.
Chẳng bao lâu sau, đứa con trai của bà ta chết và sanh vào trong bào thai của một cô gái điếm sống bằng những việc làm nhơ bẩn. Bấy giờ nàng nhận ra rằng nó là một đứa con trai ngay khi nó vừa sanh ra và sai người bỏ nó trong bãi tha ma. Nó nằm ở đó, được bảo vệ bởi năng lực của những việc phước của nó và, không bị quấy rầy bởi ai cả, ngủ an vui tựa như trong lòng mẹ của hắn. Người ta nói rằng những những vị chư Thiên đã bảo vệ hắn. Rồi khi đến rạng sáng, đức Thế Tôn đã xuất khỏi đại bi định và đang dò xét thế gian bằng Phật nhãn của Ngài, Ngài trông thấy đứa bé bị bỏ hoang trong bãi tha ma và vào lúc mặt trời mọc, đi đến bãi tha ma ấy. Dân chúng kéo đến khi nói rằng, ” Bậc Ðạo sư đã đến đây; chắc Ngài có mục đích nào đó ở đây”. Ðức Thế Tôn nói với hội chúng đã hội hợp ở đó rằng, “đứa bé này không nên bị coi thường; cho dù bây giờ nó bị bỏ trong bãi tha ma này trong trạng thái bơ vơ, nhưng trong tương lai nó sẽ được sự thù thắng cao tột cả trong đời sống này và cả trong đời sống mai sau”. Ðược hỏi bởi những người ấy, “Bạch đức Thế Tôn, nó đã làm nghiệp gì trong kiếp quá khứ”; Ngài bèn giải thích nghiệp mà đứa bé đã làm và sự vinh quang mà nó sẽ đạt được trong tương lai, bằng những câu kệ bắt đầu rằng:
“Vinh dự cao tột đang được thể hiện bởi dân chúng đến chư Tăng có đức Phật dẫn đầu trong khi người kia thì có sự lầm lẫn trong tâm và có lời nói lời thô lỗ, những lời nói khiếm nhã”.
Ngài thuyết giảng chánh pháp thích hợp với những căn tánh của chúng sanh đang hội họp ở đó và sau đó thuyết diệu pháp mà chính chư Phật đã giác ngộ (khổ, tập, diệt, đạo). Vào lúc kết thúc của thời Pháp ấy, tuệ quá sanh lên trong tám mươi bốn ngàn chúng sanh. Và trước mặt đức Thế Tôn một người đàn ông giàu có, có đến tám mươi ko.ti, đã nhận nuôi đứa bé khi nói rằng, “Nó sẽ là con của tôi.” Ðức Thế Tôn nói rằng, “Ðứa bé này được bảo vệ bởi tài sản lớn như vậy và được sự giúp đỡ của mọi người”. Và Ngài đi về tinh xá, và đúng lúc, khi người đàn ông giàu có chết, cậu ta kế thừa tài sản được để lại bằng di chúc của ông ta và khi tổ chức công việc trong gia đình, cậu ta trở thành một gia chủ có tài sản lớn trong cùng thành phố ấy và hăng say làm những việc phước như bố thí v.v… Rồi một hôm nọ, các vị Tỳ kheo bắt đầu bàn luận với nhau trong giảng đường chánh Pháp rằng, “Quả thật kỳ diệu thay về lòng bi mẫn của Bậc Ðạo sư đối với chúng sanh; Ðúng vậy, ngay cả đứa bé ấy là kẻ mà lúc bấy giờ đang ở trong trạng thái bơ vơ nay lại thọ hưởng sự vinh quang vĩ đại và đang thực hành những việc phước cao cả”.
Khi nghe qua điều này, Bậc Ðạo sư trả lời rằng, “Này các Tỳ kheo, đây không phải là toàn thể chừng mức của sự vinh quang của cậu ta; vì quả thật vậy, vào lúc thân hoại mạng chung, vị ấy sẽ tái sanh làm con của Sakka, vua của chư thiên, trong cõi ba mươi ba và được sự vinh quang lớn của chư Thiên.”. Khi nghe qua điều này, các vị Tỳ kheo và dân chúng bèn tán dương trí tuệ vô song của Bậc Ðạo sư, người ta nói rằng, “khi đức Thế Tôn toàn tri trông thấy điều cần được làm thì Ngài đi đến đó, giúp đỡ người mà đã bị bỏ đi trong bãi tha ma hôi hám ấy ngay khi cậu ta mới sanh ra”, và nói về biến cố liên quan đến người ấy trong suốt cuộc đời của họ. Những vị kết tập Tam tạng nói những câu kệ để giải thích vấn đề này:
1. “Trí tuệ của đức Thiện Thệ thật vị diệu; Bậc Ðạo sư đã trả lời theo cá nhân: Dầu có tràn đầy phước báu nhưng có người trở thành hạ sanh, trong khi dầu có phước báu giới hạn nhưng có người lại trở nên cao quí.
2. Ðứa bé này bị bỏ rơi trong bãi tha ma, vẫn sống suốt đêm bằng sự ẩm ướt của ngón tay cái: Chẳng phải những quỉ Doạ Xoa hay những loài bò sát mà có thể quấy rầy đứa bé, là một người đã làm những việc phước rồi.
3. Tuy nhiên, những con chó liếm chân của nó trong khi những con quạ và những con giả can thì vây quanh nó; những đàn chim lấy đi những thứ nhơ uế của sự sanh con, trong khi những con quạ thì lấy đi ghèn từ con mắt của nó.
4. Không ai đem đến cho nó sự bảo vệ, cũng chẳng cho nó thuốc men hay sự hun khói bằng hạt cải, họ cũng chẳng chú ý những sự liên kết của các vì sao hay thậm chí rải ra tất cả những hạt ngũ cốc.
5. Bị rơi vào trong trạng thái khốn khổ như bị mang đi vào lúc ban đêm và bị bỏ rơi trong bãi tha ma và, run rẫy như khúc bơ tươi, đời sống không chắc chắn, tuy nhiên vẫn tồn tại.
6. Người được chư Thiên cung kính và loài người trông thấy vị ấy; vừa khi trông thấy nó, Bậc vô thượng tri bèn công bố rằng, “Ðứa bé này sẽ thành người thuộc gia đình cao cả nhất của thành phố này do bởi tài sản của nó”.
7. “Nó đã thọ trì điều gì, bấy giờ phạm hạnh của nó là gì? do kết quả của thiện hạnh nào khiến sau khi đi đến cảnh ngộ như vậy, nó lại có thể tiếp tục hưởng một tiềm năng như thế này?”
Chú giải:
1. Ở đây VI DIỆU (Accheraruupa.m): có bản chất thù diệu. TRÍ TUỆ CỦA ÐỨC SUGATA (sugatassa ĩàịa.m): Trí tuệ của Ðức Chánh biến Tri không được san sẽ bởi những người khác – người ta nói về sự toàn giác của Ngài như trí tuệ biết về những khuynh hướng hay những căn tánh của một người v.v.. làm sao mà trí tuệ này không ở trong tâm của những người khác? Có người nói rằng, “Bậc Ðạo sư trả lời theo cá nhân”, Ðiều này chỉ cho thấy rằng Duy chỉ qua giáo Pháp của Ngài mà bản tánh kỳ diệu về trí tuệ của Ngài trở nên sáng tỏ. Rồi để chứng minh phương Pháp trả lời này, người ta nói rằng, “dầu có đầy đủ phước báu nhưng vẫn tại trở thành hạ sanh, dầu có phước giới hạn nhưng vẫn có người trở thành cao quí”. Ðây là ý nghĩa: Dầu có đầy những thiện Pháp, một số cá nhân ở đây trở thành thấp hèn về dòng dõi v.v… Do bởi một ác nghiệp thuộc loại đã được duy trì, đã tiềm ẩn trong tâm, trong khi dầu có phước trong giới hạn, dầu có ít phước hơn, nhưng một số chúng sanh, do gặp được mảnh ruộng phì nhiêu v.v… nên đã trở thành cao quí do bởi oai lực của phước ấy.
2. TRONG BÃI THA MA (Sìvathikaa ya): trong nghĩa trang. BẰNG SỰ ẨM ƯỚT CỦA NGÓN TAY (A”ngu.t.thasnehena): Bằng sự ẩm ướt mà đến từ ngón tay, nghĩa là bằng sửa mà chảy ra từ ngón tay của vị Devataa, CHẲNG PHẢI QUỈ DOẠ XOA HAY LOÀI BÒ SÁT (na yakkhabhuutaa na sirimsapaa vaa): chẳng phải những loài quỉ Pisaaca hay những loại quỉ dạ xoa hay những loài bò sát hay bất cứ loài nào mà bò khi di chuyển chỗ này chỗ kia. CÓ THỂ QUẤY RẦY (na vihe.thayeyyu.m): có thể đàn áp tấn công.
3. LIẾM HAI BÀN CHÂN CỦA NÓ (palihi.msu paade): liếm hai bàn chân của nó bằng những cái lưỡi của chúng. NHỮNG CON QUẠ (Dha”nkaa): NHỮNG CON QUẠ (Kaakaa): NHỮNG CON GIẢ CAN VÂY QUANH NÓ (si.ngaalaa parivattayanti): vây quanh nó một cách liên tục để bảo vệ nó, để duy trì trạng thái về sức khỏe của nó, khi nghĩ rằng, “Ðừng để ai làm hại đứa bé này!” NHỮNG VẬT BẤT TỊNH CỦA SỰ SANH ÐẺ (Gabbhaasaya.m): những chất nhơ của sự sinh đẻ. NHỮNG ÐÀN CHIM (pakkhiga.naa): Những đàn chim như kênh kênh, diều hâu v.v… LẤY ÐI (haranti): tha đi. CHẤT TỪ HAI CON MẮT CỦA NÓ (Akkhi mala.m): chất dơ được tiết ra từ hai con mắt của nó.
4. KHÔNG AI (Keci): không ai thuộc về loài người, vì những vị phi nhân đã bảo vệ. THUỐC MEN (Osadha.m): thuốc giải độc đem lại sức khỏe cho cả lúc ấy và trong tương lai. HAY SỰ HUN KHÓI BẰNG HẠT CẢI (Saasapadhuupana.m vaa): sự hun khói mà người ta làm bằng hạt cải để bảo vệ trong lúc đứa bé mới sanh ra; Người ta giải thích rằng không có việc nào được làm ngay cả điều này dành cho nó. NGƯỜI TA THẬM CHÍ CŨNG KHÔNG CHÚ Ý ÐẾN SỰ GIAO HỘI CỦA CÁC VÌ SAO: Nakkhattayoga.m pina uggahesu”m = nakkhattayutta.m pi na ugga.nhi.msu (thể văn phạm hoán chuyển), nghĩa là không ai ném số tử vi của cậu bé dầu bằng cách như là, người này sanh ra dưới một dấu hiệu của hoàng đạo, dưới một ngôi sao đó đó, vào một ngày âm lịch đó đó và vào thời gian chính xác này” HAY NGAY CẢ RẢI RA TẤT CẢ HẠT NGŨ CỐC (Na sabbadha~n~naani pi aakiri.msu). Người ta rải ngũ cốc như lúa v.v… được trộn chung với dầu hạt cải để tạo nên một hành động may mắn, như một loại thuốc giải độc đối với bịnh tật, nghĩa là họ không làm điều này cho cậu ta.
5. NHƯ VẬY (Etaadisa.m) như thế. BỊ BỎ RƠI VÀO TRONG TÌNH TRẠNG KHỐN KHỔ HOÀN TOÀN (Uttamakicchapatta.m). Gặp phải tình trạng khốn khổ khốc liệt, rơi vào cảnh đau đớn cùng cực. NHƯ BỊ MANG ÐI VÀO LÚC BAN ÐÊM: Rattaa bhata.m = rattiya.m àbhata.m (phối hợp cách). NHƯ CỤC BƠ TƯƠI (noniitapi.n.da.m viya): giống như cục bơ tươi. Run rẫy (Pavedhamaana.m): run rẫy vì tình trạng còn yếu của nó. Không chắc chắn (sasa.msaya.m) đầy hoài nghi do bởi tánh không chắc chắn rằng liệu cậu bé có sống hay không. TUY VẬY VẪN CÓ ÐỜI SỐNG TỒN TẠI (jiivitasaavasesa.m) tuy vậy, với chỉ mạng sống mỏng manh nhất vẫn đang tồn tại do bởi sự vắng mặt của những vật chất mà đối với chúng sanh là phương tiện để duy trì mạng sống.
6. SẼ TRỞ THÀNH NGƯỜI TRONG GIA ÐÌNH CAO CẢ NHẤT DO TÀI SẢN CỦA VỊ ẤY (aggakuliko bhavissati bhogato): nghĩa là cậu ta sẽ trở thành người trong gia đình cao cả nhất, trong gia đình tốt nhất, do bởi tài sản của vị ấy, do bởi của cải của vị ấy. Câu kệ bắt đầu bằng: “Sự thọ trì nào là của vị ấy” được nói đến bởi những thiện tín, về nghiệp làm bởi cậu ta, được hỏi bởi những người ở trong bãi tha ma ấy – đây là cách nên được hiểu.
7. Ở đây CÁI GÌ LÀ CỦA VỊ ẤY: ki’ssa = kim assa (phối hợp cách). Sự thọ trì (vata.m) thực hiện một phận sự. Lại một lần nữa về cái gì? (Kissa) thuộc loại thiện hạnh nào, phận sự và phạm hạnh nào?- đây là cách nên được hiểu, sự biến cách của nó đã bị hoán chuyển. NHƯ VẬY (etaadisa.m): như sanh vào trong bào thai của một cô gái điếm và bị bỏ rơi trong bải tha ma. MỘT CẢNH NGỘ (vyasana.m ): sự rủi ro. NHƯ VẬY (taadisa.m): rất to lớn, nghĩa là, được tồn tại suốt cả đêm bằng sự ẩm ướt của ngón tay v.v…. Cũng như cậu bé này sẽ được trở thành người trong gia đình cao cả nhất trong thành phố này v.v… TIỀM LỰC (iddhi.m) chỉ về sự vinh quang của chư thiên, về năng lực thần thông của một vị chư thiên.
Bấy giờ đức Thế Tôn, khi được hỏi theo cách ấy bởi những thiện tín ấy, bèn trả lời theo đó; những vị kiết tập tam tạng nói lên bốn câu kệ để chứng minh điều này.
8. Vinh dự cao tột đang được thể hiện bởi những người dâng đến chư Tăng có đức Phật dẫn đầu, trong khi cậu ta thì có sự lầm lạc trong tâm và nói những lời thô lỗ, khiếm nhã.
9. Khi cậu ta đã loại trừ ý nghĩ ấy và sau đó có được sự hoan hỉ và lòng tịnh tín, cậu ta đã hầu hạ Ðức Tathaagata mà đang ngụ ở Jetavana, trong bảy ngày, bằng món cơm dẻo.
10. Ðó là sự thực hành của cậu ta, đó là phạm hạnh của cậu ta, đây là kết quả của thiện hạnh ấy, sau khi đã đi đến một cảnh ngộ như vậy, cậu ta có thể đi tiếp để hưởng một tiềm lực như thế này.
11. Sau khi tồn tại ngay ở đây trong một trăm năm, được cung cấp bằng tất cả mọi điều mong muốn mà vị ấy muốn, vào lúc thân hoại mạng chung, ra đi cọng trú với vaasava trong cuộc sống kế tiếp”.
Chú giải:
8. Ở đây BỞI NHỮNG NGƯỜI DÂN (sanataa): Bởi tập thể những người hình thành nhóm thiện tín ấy – Ðây là ý nghĩa. KHI (tatta): Vào lúc tỏ sự tôn kính. Vị ấy (tassa): cậu bé ấy CÓ SỰ LẦM LẠC TRONG TÂM (cittassa ahu a~n~nathata.m: trong kiếp trước tâm của cậu ấy có bản chất lầm lạc và cậu ta thiếu sự tôn kính và sự tin tưởng. KHIẾM NHÃ (asabbhi.m): cậu ta nói thô lỗ và không đáng được nghe giữa những người có giới đức.
9. NGƯỜI ẤY (so): Người này (vừa mới được nêu ra). Ý nghĩ ấy (ta.m vitakka.m): ý nghĩ ác. ÐÃ LOẠI TRỪ (pativinodiyitvaa): Ðã làm tiêu tan do bởi sự khuyên can từ mẹ của cậu ta. ÐÃ LẤY ÐƯỢC SỰ HOAN HỶ VÀ LÒNG TỊNH TÍN (patipasaada.m patiladdhaa) cậu ta đã dành được, cậu ta đã làm cho sanh lên, hoan hỉ và lòng tịnh tín. CẬU TA HẦU HẠ BẰNG MÓN CƠM DẺO (yaaguyaaupa.t.thaasi): cậu ta hầu hạ bằng những vật thí gồm các món cháo. TRONG BẢY NGÀY (sattaratta.m): trong bảy ngày.
10. ÐÓ LÀ SỰ THỌ TRÌ CỦA CẬU TA, ÐÓ LÀ PHẠM HẠNH CỦA CẬU TA (ta’ssà vata.m ta.m pana brahmacariya.m): Lòng tịnh tín trong tâm và vật thí ấy theo cách đã được giải rõ bởi tôi ở trên là sự thọ trì của người này cùng với phạm hạnh của vị ấy, nghĩa là chẳng có gì khác ngoài điều này.
11. SAU KHI TỒN TẠI (thatvaana): Sau khi vị ấy đã tồn tại ngay ở đây; trong cõi người cho đến cuối cuộc đời của vị ấy. TRONG ÐỜI SỐNG KẾ TIẾP (abhisa.mparaaya.m) trong kiếp sống kế tiếp của vị ấy. VỊ ẤY SẼ RA ÐI CỘNG TRÚ VỚI VAASAVA (sahavyata.m gacchati vaasavassa): vị ấy sẽ từ giã cõi đời và sống chung với sakha, chúa của chư thiên, làm con trai của vị ấy; đây là câu nói ở thì hiện tại mang ý nghĩa của thì tương lai. Phần còn lại đã tự rõ ràng.
-ooOoo-
III.6 QUỈ SỰ SERINII
(SERINII PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Ngươi trần truồng và có hình tướng xấu xí”. Pháp thoại này được Bậc Ðạo sư thuyết giảng trong khi Ngài đang ngụ ở Jetavana, liên quan đến nữ Ngạ quỉ Serinii .
Tương truyền rằng tại Hatthinipura, trong vương quốc của những người kuru, có một cô gái điếm tên là Serinii . Bấy giờ có những vị Tỳ kheo từ chỗ này chỗ nọ kéo đến đó với mục đích làm lễ Uposatha và trở thành một hội chúng đông đảo những vị Tỳ kheo. Khi trông thấy cảnh này, những người dân sửa soạn những vật thí như mè, gạo v.v…. thục tô, bơ tươi và mật ong v.v… và tổ chức một buổi lễ cúng dường lớn. Bấy giờ vào thời ấy, cô gái điếm ấy chẳng có đức tin hay lòng tịnh tín, và tâm của nàng bị che ám bởi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn. Mặc dù dân chúng đã ra sức thuyết phục nàng khi nói rằng, “Hãy đến và tỏ lòng tuỳ hỷ của cô với sự bố thí vật thực này!” Nhưng nàng vẫn tỏ ra hoàn toàn không có lòng tịnh tín khi nói rằng, “Có lợi ích gì trong việc bố thí đến những vị Sa môn trọc đầu này? Tại sao tôi phải cho đi dầu chỉ một vật nhỏ nhặt?” Ðúng lúc nàng chết và tái sanh làm một petii trong một hào rãnh của một thị trấn của biên giới nọ. Bấy giờ, một Thiện Nam nọ của vùng Hatthinipura đã đi đến thành phố ấy để buôn bán và trải qua suốt đêm, lúc gần sáng, anh ta đi đến cái hào ấy để làm một công việc nọ. Khi nàng trông thấy anh ta ở đó, nàng bèn nhận ra anh ta và, khi đứng không cách xa, tự hiện ra trần truồng với thân chỉ có da và xương còn lại mà thôi, một cảnh tượng nhòm gớm vô cùng. Khi anh ta trông thấy nàng, anh ta bèn hỏi nàng câu kệ này:
1. “Nàng trần truồng và có hình tướng xấu xí, gầy ốm với những đường gân lộ ra, này kẻ gầy ốm với những sườn lộ ra, bây giờ ngươi là ai mà đứng ở đây?”
Nàng cũng nói cho anh ta biết về mình về bằng câu kệ này:
2. “Thưa ông, tôi là một nữ Ngạ quỉ, đã đi đến kiếp sống đau khổ trong cõi Yama . sau khi đã tạo ác nghiệp, tôi đã ra đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ”.
Anh ta bèn hỏi nàng một lần nữa về nghiệp mà nàng đã tạo bằng câu kệ này:
3. “Bây giờ ác nghiệp nào được làm bởi nàng, bằng thân, khẩu hoặc ý? do kết quả của nghiệp nào khiến nàng đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ?”
Và rồi nàng bèn kể cho anh ta nghe về nghiệp mà nàng đã tạo và, thêm nữa, điều cần được làm bởi anh ta để đem lại lợi ích cho nàng, bằng sáu câu kệ này:
4. “Tôi đã kiếm những đồng tiền ở những nơi tắm công cộng; dầu những vật thí ở trong tầm tay nhưng tôi đã không làm chỗ nương tựa cho tôi.
5. Bị khát bỏng, tôi đi đến con sông, nhưng nó trở nên trống rỗng; giữa sức nóng tôi đi đến bóng mát nhưng nó trở nên bị thiêu đốt bởi mặt trời.
6. Và một cơn gió như ngọn lửa thổi lên người tôi, đốt cháy tôi, nhưng tôi đáng bị như thế này, thưa ông. Và sự đau khổ khác còn khinh khủng hơn thế này.
7. Khi ông đi đến Hatthinipura, ông nên nói với mẹ tôi rằng: “tôi đã trông thấy con gái của bà đã đi đến kiếp sống đau khổ trong thế giới của Yama . Sau khi đã làm ác nghiệp, nàng đã đi từ đây đến cõi Ngạ quỉ.
8. Ở đây có cái được để dành nhưng không được công bố bởi tôi. Khoảng bốn trăm ngàn ở dưới chiếc giường.
9. Từ món tiền này, bà nên bố thí giùm cho tôi; bà cũng có thể dùng một phần số tiền ấy để cung cấp cho sự nuôi mạng của bà, nhưng khi bà đã cho những vật thí thì mẹ của tôi nên hồi hướng phước thí ấy cho tôi; thời tôi sẽ hạnh phúc và có được dồi dào những điều mà tôi muốn.”
Chú giải:
4. Ở đây TẠI NHỮNG CHỖ TẮM CÔNG CỘNG (aanva.tesu titthesu): tại những chỗ tắm như những con sông hay những hồ nước v.v… Mà không được kiểm soát bởi ai cả, tại những chỗ như vậy là những chỗ mà người ta tắm rửa thân mình: TÔI TÌM KIẾM NHỮNG ÐỒNG TIỀN NHỎ (vicini adhamaasaka.m): bị chế ngự bởi lòng tham lam, tôi tìm kiếm Dầu những đồng tiền nhỏ nhặt nhất khi nghĩ rằng, “ở đây có lẽ ta có thể kiếm một cái gì đó mà mọi người đã để xuống và rồi đã quên.” Hay nói cách khác, NHỮNG CHỖ TẮM CÔNG CỘNG (anaavatesu titthesu): Nơi mà những vị Sa-môn và những Bà-la-môn được tìm thấy – “Những chỗ tắm ấy” không được kiểm soát bởi sự đi đến của bất ai và là chỗ cung cấp nhưng phương tiện để làm thanh tịnh hạnh kiểm và làm thanh tịnh những khuynh hướng của chúng sanh. TÔI TÌM KIẾM NHỮNG ÐỒNG TIỀN NHỎ (vicini addhamaasaka.m): Với tâm bị chế ngự bởi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn và không cho cái gì đến ai cả, đặc biệt tôi tìm kiếm ngay cả những đồng tiền nhỏ và không tích lũy điều phước nào. Vì lý do này mà nàng nói rằng, “dầu những vật thí ở trong tầm tay, nhưng tôi vẫn không làm chỗ nương tựa cho tôi”.
5. BỊ KHÁT BỎNG (tasitaa): Bị khát. Trống rỗng (rittakaa); Dầu một con sông đang chảy đầy đến tràn ra để một con quạ có thể uống nước từ đó, nó lại trở nên trống rỗng và không có nước, trở nên chỉ có cát, vì ác nghiệp của tôi. GIỮA SỨC NÓNG (u.nhesu): Trong những lúc mà trời nóng. NÓ TRỞ NÊN BỊ THIÊU ÐỐT BỞI MẶT TRỜI (aatapo parivattati): Một chỗ có bóng mát, khi tôi đi đến thì nơi ấy trở nên bị thiêu đốt bởi sức nóng của mặt trời.
6. NHƯ NGỌN LỬA (Aggiva.n.no): Chạm vào như ngọn lửa. Vì lý do này mà nàng nói rằng nói rằng, ‘thổi vào người của tôi khi thiêu đốt tôi’. NHƯNG TÔI ÐÁNG BỊ ÐIỀU NÀY, THƯA ÔNG (eta~n ca bhante arahaami): Nàng nói với vị thiện nam ấy một cách cung kính khi xưng hô với vị thiện nam ấy là ‘thưa ông, nhưng tôi đáng bị đau khổ này như dã kể trên về sự đói khát v.v… Thưa Ngài, và nỗi khổ khác còn kinh khủng hơn thế nữa, còn khốc liệt hơn thế nữa, vì đã làm một ác nghiệp như vậy – đây là ý nghĩa.
7. Ông nên nói: vajjesi = vadeyyaasi (thể văn phạm hoán chuyển).
8. Ở ÐÂY CÁI ÐƯỢC ÐỂ DÀNH (NHƯNG) KHÔNG ÐƯỢC CÔNG BỐ (ettha nikkhita.m anakhaata.m): chừng mức của cái được để dành không được nói đến. Rồi nàng nói rằng, ‘chừng bốn trăm ngàn ở dưới gầm giường,’ chỉ về số lượng và chỗ mà nó đã được để vào. Ở đây, GIƯỜNG (palla~nkassa): Chiếc giường mà trước kia nàng đã nằm ở trên đó.
9. TỪ CÁI NÀY (tato): Hãy lấy một phần từ của cải để dành ấy và cho những vật thí đại diện cho tôi. CỦA BÀ TA (tassaa): Mẹ của tôi.
Khi Petii ấy đã nói như vậy, vị thiện nam liền đồng ý với điều mà nàng đã nói. vị ấy làm xong công việc của mình ở đó, đi đến Hatthinipura và thuật lại vấn đề với mẹ của nàng. Ðể giải rõ sự kiện này, những vị kiết tập Tam Tạng nói rằng:
10. “Tốt lắm,” Vị ấy đồng ý và đi đến hatthinipura, nói với mẹ của nàng rằng: “Tôi đã trông thấy con gái của bà đã đi đến kiếp sống đau khổ trong thế giới của Yama. Sau khi đã làm ác nghiệp, nàng đã ra đi từ đây đến cõi của những ngạ quỉ.
11. Khi ấy nàng ra sức thuyết phục tôi khi nói rằng, “ông nên nói với mẹ của tôi rằng, Tôi đã trông thấy con gái của bà đã đi đến kiếp sống đau khổ trong thế giới của Yama. Sau khi đã làm ác nghiệp nàng đã ra đi từ đây đến cõi của những Ngạ quỉ.
Ở đây có cái được để lại nhưng không được công bố bởi tôi – Chừng bốn trăm ngàn ở dưới gầm giường.
13. Từ món tiền này, bà nên bố thí vật thực giùm cho tôi, số tiền ấy cũng có thể nuôi mạng cho bà. Và khi bà đã cho ra những vật thí, mẹ của tôi nên hồi hướng phước thí ấy đến cho tôi – Rồi tôi sẽ được hạnh phúc và có dồi dào những gì mà tôi mong ước.
14. Nhân đó bà ta cho ra những vật thí và hồi hướng phước thí ấy đến cho nàng – và Petii ấy được hạnh phúc và có thân trông xinh đẹp.
Chú giải:
Những lời này có thể được hiểu dễ dàng.
Khi đã nghe qua điều này, mẹ của nàng bèn cho ra những vật thí đến chúng tăng và hồi hướng những vật thí này đến cho nàng. Ðược an trú trong sự thù thắng về những phương tiện kiếm sống mà nàng đã thọ lãnh theo cách này, nàng hiện ra trước mặt của mẹ nàng và giải thích nguyên nhân của nó. Mẹ của nàng báo tin cho các vị Tỳ kheo biết và các vị Tỳ kheo nêu lên vấn đề ấy với đức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy là nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã tụ họp ở đó. Thời pháp ấy đem lại lợi ích cho hội chúng ở đó.
-ooOoo-
[3.3]
III.7 LIỆP LỘC QUỈ SỰ
(MIGALUDDA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Ngươi còn trẻ và được tôn kính bởi những người nam và những người nữ”. Pháp thoại này được thuyết giảng trong khi Ðức Thế Tôn đang ngụ ở Ve.luvana, liên quan đến một Ngạ quỉ mà trước kia là người săn Nai.
Tương truyền rằng, tại thành Vương-xá, có một người thợ săn nọ kiếm sống bằng nghề bắn và giết nai. Anh ta có một người bạn là một thiện nam, là người mà, vì không thể thuyết phục anh ta từ bỏ những ác nghiệp luôn khi, bèn thức tỉnh anh ta làm những việc phước vào lúc ban đêm khi nói rằng, “này bạn, hãy từ bỏ sát sanh vào lúc ban đêm đi.” Anh ta thường không làm điều này vào lúc ban đêm và thường giết chúng sanh chỉ trong ban ngày mà thôi. Ðúng lúc, anh ta chết và sanh làm một Vimaanapeta ở gần Raajagaha, chịu nhiều thống khổ suốt ngày, nhưng thường làm hài lòng cho chính mình, có và được cung cấp những khoái lạc của ngũ dục vào lúc ban đêm. Khi trông thấy anh ta, thì Trưởng lão đáng kính Naarada bèn hỏi anh ta bằng câu kệ này:
1. “Ngươi còn trẻ và được tôn kính bởi những nam nhân và những nữ nhân; ngươi trông rất đẹp nhờ những dục lạc, nhưng vào lúc ban ngày thì ngươi lại bị lãnh quả khổ – Ngươi đã làm gì trong kiếp quá khứ của ngươi?”
Chú giải:
1. ÐƯỢC TÔN KÍNH BỞI NHỮNG NGƯỜI ÐÀN ÔNG VÀ NHỮNG NGƯỜI ÐÀN BÀ (Naranaaripurakkhato): Ðược tôn kính bởi, được hầu hạ bởi những vị Devaputta và những vị Devadhiitaa, là những người hầu. NGƯƠI TRÔNG RẤT ÐẸP (sobhasi): ngươi chiếu sáng rực rỡ vào lúc ban đêm do nhờ ngươi được cung cấp bởi những thứ này – Ðây là ý nghĩa. Vì lý do này vị ấy nói rằng, “NHƯNG VÀO LÚC BAN NGÀY NGƯƠI QUẢ THẬT ÐÃ CHỊU KHỔ” (divasa.m anubhosi kaara.na.m): Nhưng vào lúc ban ngày ngươi lại chịu nhiều cực hình, sự tiêu diệt. Hay nói cách khác (chúng ta nên đọc là) Vào lúc ban đêm (rajinii): Vào lúc ban đêm (rattiisu), Ye là một bất biến từ. NGƯƠI ÐÃ LÀM GÌ TRONG KIẾP QUÁ KHỨ? (kim akaasi purimaaya jaatiyaa): Ngươi đã làm nghiệp gì trong kiếp quá khứ của ngươi khiến xảy đến hạnh phúc và đau khổ này, nghĩa là hãy nói cho ta biết điều này.
Khi nghe qua điều này, Ngạ quỉ nói những câu kệ này để cho Trưởng lão biết những nghiệp mà nó đã làm:
2. Trong quá khứ, ở thành Raajagaha xinh đẹp, ở giribbaja khả ái ấy, tôi đã làm một người thợ săn độc ác và có bàn tay dính máu.
3. Bị ô nhiễm trong tâm, tôi sống không có sự thu thúc, luôn luôn hướng đến sự làm hại những kẻ khác, vô cùng độc ác đối với những chúng sanh vô tội, là những sanh vật ở khắp nơi.
4. Tôi có một người bạn có tâm từ ái, là một thiện nam có đức tin, và người ấy khi cảm thấy thương hại, đã nhiều lần khuyên tôi khi nói rằng:
5. “Ðừng làm những ác nghiệp, này bạn, đừng đi đến trạng thái đau khổ, nếu bạn muốn được hạnh phúc sau khi chết, hãy tránh xa sự sát sanh một cách bừa bãi này”.
6. Tôi lắng nghe nghững lời này của vị ấy đang muốn cho tôi được hạnh phúc, và mong mỏi cho tôi được hạnh phúc tuy nhiên tôi, vì đã lâu quen với những ác nghiệp mà thiếu trí suy xét, đã không làm theo đầy đủ lời khuyên của anh ta.
7. Một lần nữa, con người rất có trí tuệ ấy, do lòng bi mẫn, đã khuyên tôi tỏ sự thu thúc khi nói rằng, “Nếu ban ngày bạn phải sát sanh, thời hãy thu thúc vào lúc ban đêm.”
8. Bởi vậy tôi chỉ giết chúng sanh vào lúc ban ngày mà thôi, nhưng thu thúc vào lúc ban đêm, không làm những điều ấy – và nay, vào ban đêm tôi tự làm thoả mãn chính mình nhưng vào lúc ban ngày tôi có một kiếp sống đau khổ và bị ăn thịt.
9. Do bởi thiện nghiệp ấy nên vào lúc ban đêm tôi hưởng những dục lạc của Chư thiên, trong khi đó vào lúc ban ngày thì ngững con chó săn hùng hổ sông vào tôi từ khắp các hướng để ăn thịt tôi.
10. Bấy giờ những người mà tiếp tục đặt mình vào, và thường xuyên chuyên tâm vào lời dạy của Ðức Sugala – thiết nghĩ, riêng những người này sẽ đạt đến trạng thái bất tử là vô vi.
Chú giải:
2. Ở đây NGƯỜI THỢ SĂN (Luddho): Người mà độc ác. CÓ BÀN TAY DÍNH MÁU (Lohitapaa.ni): có hai bàn tay mà đã bị dính máu do sự giết thú nhiều lần – ÐỘC ÁC (daaruno): người độc ác, nghĩa là người làm hại những sanh vật.
3. VÔ HẠI avirodhakaresu = avirodha.m karontesu (phối hợp cách): Như là những con nai hay chim v.v…
5. BUÔNG THẢ (asa.myama.m): Không được kiểm soát, có bản tánh ác.
6. LỜI KHUYÊN CỦA VỊ ẤY (sakalaanusaasani.m): Toàn thể lời khuyên của vị ấy, nghĩa là sự từ bỏ những ác nghiệp luôn khi. ÐÃ LÂU QUEN VỚI ÐIỀU ÁC (cirapaapaabhirato): Quen với điều ác trong một thời gian dài.
7. SỰ THU THÚC (sa.myame): Hạnh kiểm tốt. KHUYÊN BẢO: nivesayi = nivesesi (thể văn phạm hoán chuyển). NẾU BAN NGÀY BẠN PHẢI GIẾT NHỮNG CHÚNG SANH THỜI BAN ÐÊM BẠN HÃY TỎ SỰ TỰ CHẾ (sace divaa hanasi paa.nino atha te ratti.m bhavatu sa.myamo): Ðiều này cho thấy cách mà anh ta được khuyên. Người ta nói rằng vào lúc ban đêm anh ta cũng chuyên tâm vào việc sát sanh, trong đó anh ta đặt những cái cọc và những cái bẫy v.v…
8. VÀO BAN NGÀY TÔI CÓ MỘT KIẾP SỐNG ÐAU KHỔ VÀ BỊ ĂN THỊT (divaa khajjaami duggato): Bây giờ tôi đã đi đến cõi khổ, đã đi đến chỗ đau khổ lớn, và tôi bị ăn thịt vào ban ngày. Người ta nói rằng quả nghiệp này của anh ta đã theo đúng với nghiệp của anh ta, là nghiệp mà anh ta đã sai những con chó xé xác những con nai vào ban ngày – như vậy, suốt thời gian của ban ngày những con chó to lớn thường xông vào anh ta và làm cho thân của anh ta tan nát chẳng còn gì ngoài xương mà thôi, trong khi vào lúc đêm đến, anh ta thường lấy lại trạng thái như trước của mình và hưởng sự vinh quang của Chư thiên. Vì lý do này khiến người ta nói rằng, ‘vì thiện nghiệp ấy, nên vào ban đêm tôi hưởng những dục lạc của chư thiên, trong khi vào lúc ban ngày thì những con chó săn tàn bạo nhẩy xổ vào tôi từ khắp các hướng và ăn thịt của tôi.’
9. Ở đây HUNG HĂNG (pa.tihataa): Trong trạng thái hung hăng tựa như cú nhảy tiêu diệt. TỪ KHẮP CÁC HƯỚNG ÐỂ ĂN THỊT TÔI (sama~ntà kaaditu.m): Chúng rơi vào tôi từ khắp các hướng để xé xác của tôi. điều này được nói đến liên quan đến suốt thời gian mà chúng đến khiến cho anh ta vô cùng sợ hãi. Khi chúng đã xông vào anh ta và khiến cho anh ta chỉ còn xương, thì chúng lại tiếp tục bỏ đi.
Khi nó đã nói như vậy thì Trưởng lão bèn nêu lên vấn đề ấy với Bậc Ðạo sư. Bậc Ðạo sư lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Mọi chuyện đều giống y như đã được nêu ra ở trên.
-ooOoo-
III.8 ÐỆ NHỊ LIỆP LỘC QUỈ SỰ
“Trong ngôi nhà có tháp nhọn và trong cung điện.” Pháp thoại này được thuyết giảng trong khi Bậc Ðạo sư đang ngụ ở Ve.luvana, liên quan đến một Ngạ quỉ khác mà trước kia cũng là một thợ săn nai.
Tương truyền rằng tại Raajagaha, có một người thợ săn nai trẻ nọ, do có tài săn bắn, đã từ bỏ những tiện nghi về của cải của anh ta và ngày đêm đi đây đó để săn nai. Một vị thiện nam nọ là bạn hữu của anh ta, do lòng bi mẫn, cho anh ta lời khuyên này, “này bạn, hãy từ bỏ sát sanh, e rằng sẽ có đau khổ dành cho bạn trong một thời gian dài”. Nhưng anh ta chẳng quan tâm. Rồi vị thiện nam ấy thỉnh một vị Trưởng lão nọ mà đã có tâm tu tiến và đã đoạn trừ các lậu hoặc, khi nói rằng, “Bạch Ngài, xin Ngài hãy thuyết pháp đến một người đàn ông đó đó bằng cách nào đó để anh ta từ bỏ sự sat sanh.” Bởi vậy vào một hôm nọ, vị Trưởng lão ấy, trong khi đang đi quanh thành Raajagaha để khất thực, đứng tại cửa nhà của anh ta. Khi trông thấy Ngài, thì người săn nai, đầy tôn kính, đi ra để đón Ngài, mời Trưởng lão vào nhà và dâng chỗ ngồi đến Truởng lão. Trưởng lão ngồi xuống trên chỗ ngồi đã định sẵn. Khi anh ta đi đến Trưởng lão, anh ta cũng ngồi xuống. Trưởng lão nói cho anh ta biết về những quả dữ của sự sát sanh và rồi giải thích những lợi ích của sự kiêng tránh, nhưng khi anh ta nghe qua đi?u này thì anh ta không muốn từ bỏ nó. Rồi Trưởng lão nói với anh ta rằng, “Này bạn, nếu bạn không thể từ bỏ hoàn toàn được, thì tối thiểu cũng hãy từ bỏ nó vào lúc ban đêm”. “Tốt lắm, thưa Ngài, con sẽ tránh xa”. Phần còn lại tương tự như câu chuyện ở ngay trước, ngoại trừ rằng ở chỗ mà những câu kệ có liên quan đến thì Trưởng lão hỏi anh ta bằng ba câu kệ này:
1. Trong ngôi nhà có tháp nhọn và trong cung điện, ở trên chiếc giường được trải bằng lông cừu dài, ngươi vui thích với âm thanh ngọt ngào của năm loại nhạc.
2. Rồi vào lúc tàn đêm, đến khi mặt trời mọc, ngươi lại đi đến bãi tha ma, ở đó ngươi chịu nhiều thống khổ.
3. Bây giờ ác nghiệp nào được làm bởi ngươi do thân khẩu, hoặc ý? do kết quả của nghiệp nào khiến ngươi chịu sự thống khổ này?”
Rồi Ngạ quỉ ấy giải thích vấn đề với Trưởng lão:
4. “Trong thành Raajagaha khả ái, ở Giribbaja xinh đẹp ấy, trong quá khứ con là thợ săn nai, con là người độc ác, không tự chế.
5. Con có một người bạn có tâm từ ái, là một vị thiện nam có đức tin và, một vị Sa-môn, một vị Saavaka của đức Gotam, thường sống nhờ vào gia đình của anh thiện nam bằng sự để bát; dầu vị ấy, có lòng thương hại đến con, khuyên can con nhiều lần. Khi nói rằng:
6. “Ðừng làm những ác nghiệp, này bạn, đừng đi đến trạng thái đau khổ; Nếu bạn muốn được hạnh phúc sau khi chết; thời hãy tránh xa sự sát sanh này.”
7. Con lắng nghe những lời này của vị ấy, là người muốn cho con được hành phúc và mong mỏi cho con được lợi ích, tuy nhiên con, vì quá lâu đã quen với điều ác và thiếu tuệ quán, nên không làm theo lời khuyên của vị ấy.
8. Lại một lần nữa con người có trí tuệ vô cùng ấy, do lòng bi mẫn, khuyên con hãy tỏ sự tự chế, khi nói rằng, “Nếu ban ngày bạn phải giết những chúng sanh thời hãy tỏ sự tự chế vào lúc ban đêm.”
9. Bởi vậy con chỉ sát sanh vào lúc ban ngày, nhưng tự chế vào lúc ban đêm không làm điều ấy – và vào lúc ban đêm con làm hài lòng chính mình, nhưng ban ngày con có một kiếp sống đau khổ và bị ăn thịt.
10. Vì thiện nghiệp ấy nên vào lúc ban đêm con hưởng những dục lạc của chư thiên, trong khi ban ngày thì những con chó hung hăng rơi vào con từ khắp các hướng để ăn thịt con.
11. Bấy giờ những người mà tiếp tục chuyên tâm, thường xuyên chuyên chú vào giáo pháp của đấng Sugata – riêng những người này, xét nghĩ, sẽ đạt đến trạng thái bất tử, là chỗ vô vi.”
Chú giải:
Ý nghĩa của những câu này cũng giống như ý nghĩa của những câu đã được nêu ra ở trên rồi.
-ooOoo-
III.9 TRÁ KHI QUỈ SỰ
(KUUTAVINICCHAYIKA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Mang tràng hoa, đội mão và đeo vòng tai”. Pháp thoại này được thuyết giảng trong khi Bậc Ðạo sư đã ngụ ở Ve.luvana, liên quan đến một Ngạ quỉ đã từng chấp theo tà kiến.
Bấy giờ, Ðại vương Bimbisaara thường thọ trì Bát Quan Trai sáu ngày trong một tháng, và noi theo gương của vị ấy, nhiều người khác cũng thọ trì Bát Quan Trai giới. Ðức vua thường hỏi những người mà đến yết kiến vị ấy rằng, “Nào nào, ngươi có thọ trì Bát Quan Trai giới hay không?” Rồi một người đàn ông, được bổ nhiệm vào triều đình của vị ấy, là người có lời nói đâm thọc, gian lận, quen ăn hối lộ và làm những hành động bạo quyền đã nói rằng, “Tâu bệ hạ, thần có thọ trì nó.” Vì sợ phải nói ra rằng ông ta đã không thọ trì nó. Rồi khi ông ta đang rời khỏi tầm nhìn của đức vua, thì một người bạn nói với ông ta rằng, “nào nào, này bạn, bạn có thọ trì nó ngày hôm nay không?”. “Này bạn, tôi nói như vậy là do sợ hãi đó thôi khi mặt đối mặt với Ðức vua, nhưng tôi chẳng có thọ trì nó,” Sau đó người bạn này nói với ông ta rằng, “Dầu vậy, bạn vẫn còn có thể thọ trì nửa ngày Bát Quan Trai giới cho ngày hôm nay, vậy hãy nguyện thọ trì Bát Quan Trai giới đi.” “Tốt lắm”, ông ta nói và đồng ý với điều mà người bạn nói, rồi đi về nhà, chẳng ăn gì, súc miệng và thọ trì Bát Quan Trai giới.
Ðêm hôm ấy, khi đã đi đến giường, thì những cơn đau khốc liệt, dữ dội, gây ra bởi cơn gió mạnh sanh lên, do bụng trống, đã đoản mạng của ông ta và, ngay sau khi chết ông ta sanh làm một vimaanapeta ở một chỗ sâu hút trong một ngọn núi. Do thọ trì chỉ một đêm của ngày Bát Quan Trai giới mà ông ta nhận được một cung điện với tuỳ tùng gồm mười ngàn tiên nữ, và hưởng sự vinh quang thần tiên vĩ đại; Nhưng vì sự nói dối và nói đâm thọc của ông ta, nên ông ta phải ăn thịt sau khi đã móc ra từ chính lưng của ông ta. Ðại Ðức Naarada, khi đi xuống từ núi Kỳ-xà-quật, trông thấy vị ấy và Trưởng lão hỏi vị ấy bằng bốn câu kệ, sau đó vị ấy trả lời vấn đề cũng bằng bốn câu kệ:
1. “Ngươi có đeo tràng hoa, đội mão và đeo vòng, và khắp người của ngươi được phủ bằng trầm hương; nét mặt cuả ngươi rạng rỡ và ngươi chiếu sáng như mặt trời.
2. Những người hầu này của ngươi, những vị phi nhân này trong hội chúng của ngươi, và đây là những nữ hầu của ngươi, mười ngàn thiếu nữ này.
3. Chúng mang những vòng xuyến và những vòng đeo tay, và đầu của chúng được trang sức bằng những vòng hoa đội đầu bằng vàng – Ngươi có oai lực lớn và tướng mạo của ngươi làm dựng tóc.
4. Tuy nhiên ngươi lại ăn thịt mà chính ngươi đã móc ra từ lưng của ngươi: bây giờ ác nghiệp nào được làm bởi ngươi do thân khẩu hay ý? do kết quả của nghiệp nào khiến ngươi ăn thịt từ lưng của ngươi?”
5. “Ở trong thế giới hữu tình, tôi đã làm suy sụp chính tôi bằng những lời nói dối và đâm thọc, bằng sự gian trá và lường gạt.
6. Khi tôi đã đi đến một hội chúng ở đó và đến lúc để nói ra sự thật thì tôi lại không nói đúng sự thật và không nói những điều đem lại lợi ích cho tôi, lại còn đi theo con đường sái quấy.
7. Cũng như tôi ngày hôm nay ăn thịt từ chính lưng của tôi, cũng vậy người nào mà làm người nói xấu sau lưng cũng phải ăn thịt của chính mình.
8. Chính Ngài đã trông thấy điều này, thưa Ngài Naarada . Những người mà có lòng bi mẫn và có thiện tâm thường nói rằng, “Ðừng nói đâm thọc cũng đừng nói dối và đừng làm người nói xấu sau lưng!”
Chú giải:
1. Ở đây CÓ ÐEO TRÀNG HOA (maalii): Mang những tràng hoa, trang sức những bông hoa của chư thiên – đây là ý nghĩa. CÓ ÐỘI MÃO (kirii.tii): Ðầu có vấn khăn. Có đeo vòng (Kaayuurii): Có những chiếc vòng, nghĩa là những cánh tay của người được trang sức. CÁC CHI THỂ CỦA NGƯƠI (gattaa): Những phần trên thân của ngươi. ÐƯỢC PHỦ BẰNG TRẦM HƯƠNG (ca.n.danussadaa): Ðược xức bằng dầu của gỗ trầm hương. NGƯƠI CHIẾU SÁNG NHƯ MẶT TRỜI (suriyava.n.no vasobhati): Ngươi rực rỡ, mang tướng mạo sáng chói y như mặt trời mới mọc. Hay nói cách khác, kinh tạng nói rằng, ‘Ngươi đẹp như mặt trời ban mai’ (arunasadisava.n.navaa); MẶT TRỜI BAN MAI (aru.na.m): Về tướng mạo giống như những vị chư thiên Araniya, nghĩa là có tướng mạo cao qúy.
2. NHỮNG NGƯỜI TRONG HỘI CHÚNG CỦA NGƯƠI (Paarisajjaa): Những người thuộc hội chúng của vị ấy, nghĩa là những người hầu riêng của vị ấy.
3. Ngươi: tuva.m = tva.m: (thể văn phạm hoán chuyển). Sắc tướng của ngươi làm dựng tóc (Lomaha.msanaruupavaa): Sắc tướng của ngươi đáng làm dựng tóc đối với những người trông thấy ngươi: điều này được nói đến vì oai lực vĩ đại và uy quyền của vị ấy.
4. NGƯƠI ÐÃ MÓC Ukkantvaa= Ukkantitvaa: thể văn phạm hoán chuyển; nghĩa là ngươi đã cắt xẻo.
5. TÔI HÀNH ÐỘNG: aacaarisa.m = aciri.m (thể văn phạm hoán chuyển): tôi khoác vào lối hành động. BẰNG SỰ NÓI DỐI VÀ ÐÂM THỌC: (Pesu~n~na musaavaadena = Pesu~n~nnena Musaavaadena ca (phối hợp cách). VÀ BẰNG SỰ GIAN DỐI, LƯỜNG GẠT: Nikativa~ncanaaya ca = Nikatiyaa va~ncanaaya ca (phối hợp cách), bằng mưu mô và sự dối gạt mà xem ra chơn thật đối với những người khác.
6. KHI ÐẾN LÚC ÐỂ NÓI RA SỰ THẬT (Saccakaale): Khi đến lúc thích hợp để nói sự thật NHỮNG ÐIỀU NẰM TRONG LỢI ÍCH CỦA TÔI (attha.m): Những cách nói mà có lợi trong cuộc sống này v.v… ÐIỀU ÐÚNG PHÁP (Dhamma.m): Hạnh kiểm đúng chánh đáng của tôi. TÔI PHỦ NHẬN (Nira~nkatvaa): Tôi tách rời khỏi chính tôi, tôi từ bỏ.
7. VỊ ẤY (So): Kẻ mà hành động đâm thọc v.v…
Tất cả phần còn lại đều được nêu ra như ở trên.
-ooOoo-
III.10 GIỚI BẤT KỈNH THẤP QUỈ SỰ
(DHAATUVIVA.N.NA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Khi đứng trong không trung”. Ðây là quỉ sự về sự coi thường. Khi Ðức Thế Tôn đã nhập Niết-bàn giữa hai cây Saala trong rừng cây Saala Upattana của những người Malla tại Kusinaaraa và những Xá-lợi của Ngài đã được phân chia, vua Ajaatasattu lấy phần Xá-lợi của mình và, khi hồi tưởng những ân đức của Ðức Phật, bèn tổ chức một buổi lễ lớn để cúng dường Ngài kéo dài trong bảy năm, bảy tháng, và bảy ngày, trong suốt thời gian ấy có vô số người sanh tâm tịnh tín và đạt đến thiên giới. Tuy nhiên, có đến Tám mươi sáu ngàn người bị ô nhiễm vì đã từ lâu không có đức tin, chấp theo tà kiến và, dầu ở trong những điều kiện có thể làm khởi sanh lòng tịnh tín, vẫn bị ô nhiễm trong tâm và bị tái sanh trong cõi Ngạ quỉ. Cũng trong thành Raajagaha ấy, một người vợ, đứa con gái và con dâu của một vị phú hộ nọ, là người có của cải, với lòng tịnh tín trong tâm, họ đã suy nghĩ rằng, “Chúng ta hãy cúng dường đến Xá-lợi”, và mang một ít vật thơm và những bông hoa v.v… Rồi lên đường đi đến chỗ mà Xá-lợi được tôn trí. Người đàn ông giàu có ấy tỏ thái độ coi thường của ông ta về sự tôn kính Xá-lợi và phỉ báng Xá-lợi khi nghĩ rằng, “Có lợi ích gì mà tôn kính những khúc xương?” họ chẳng quan tâm đến lời mà ông ta nói và đi đến chỗ ấy, cúng dường đến Xá-lợi và, khi đã trở về nhà, họ bị phát bệnh đến nỗi chẳng bao lâu sau họ chết, tái sanh trong cõi Devaloka do nhờ việc phước ấy. Tuy nhiên, về phần ông phú hộ, bị che ám bởi lòng sân hận và chẳng bao âu sau cũng chết, tái sanh trong cõi Ngạ quỉ do bởi ác nghiệp ấy. Rồi một hôm nọ, Ðại Ðức Mahaakassapa, do lòng bi mẫn đối với chúng sanh, thị hiện những năng lực thần thông của Ngài bằng cách nào đó để dân chúng có thể trông thấy cả những Ngạ quỉ và những vị chư thiên. Khi Ngài đã làm điều này, đứng trong khuôn viên của Bảo tháp ấy và hỏi ba câu kệ đến con Ngạ quỉ mà xưa kia đã tỏ thái độ khinh thường Xá-lợi, và rồi Ngạ quỉ đáp lại:
1. “Khi đứng trong không trung, ngươi toả ra mùi xú uế, hôi hám, và những con dòi rúc r.ta cái miệng hôi thối của ngươi – Ngươi đã làm nghiệp gì trong quá khứ?
2. Nhân đó, có những kẻ khác cầm những con dao của họ và khoét vào thịt của ngươi nhiều lần lập đi lập lại; chúng phun vào ngươi chất kiềm và rồi lại khoét ngươi nhiều lần lập đi lập lại.
3. Bây giờ ác nghiệp nào được làm bởi ngươi do thân, khẩu hoặc ý? Do kết quả của nghiệp nào khiến ngươi phải chịu sự thống khổ như thế này?”
4. “Trong thành Raajagaha xinh đẹp, là thành Giribbaja khả ái ấy, thưa Ngài, tôi là chủ của rất nhiều của cải và ngũ cốc.
5. Tôi đã ra sức ngăn cản người vợ này, đứa con gái và nàng dâu của tôi khi họ đang mang những bông hoa tamaala, những hoa sen xanh và những dầu xức đắt giá đi đến bảo tháp – Ðây là ác nghiệp được làm bởi tôi.
6. Chúng tôi đang lãnh chịu tám mươi sáu ngàn loại khổ thọ; sau khi đã tỏ thái độ coi thường về sự tôn kính Xá-lợi, chúng tôi đã bị nấu sôi cùng cực trong địa ngục.
7. Ngài hãy tách rời những người mà mở miệng nói lời bất lợi ra khỏi hội chúng đang cử hành đại lễ cúng dường Xá-lợi của bậc A-la-hán.
8. Hãy xem những người này đang đi đến, mang những tràng hoa và có trang sức, họ đang thọ hưởng kết quả của những bông hoa – họ rực rỡ và vinh hoa.
9. Và khi đã trông thấy sự kiện kì diệu làm ngạc nhiên và làm tóc dựng đứng này, những bậc trí tuệ sẽ tán dương và đảnh lễ Ngài, thưa đại hiền trí.
10. Bây giờ khi đã ra đi khỏi đây và lại được tái sanh trong cõi người, tôi sẽ nghiêm trang cúng dường ở bảo tháp nhiều lần lập đi lập lại.
Chú giải:
1. Ở đây MÙI HÔI THỐI (duggandho): Mùi khó chịu; nghĩa là mùi thối của xác chết bị thối rữa. Vì lý do này khiến vị ấy nói rằng, “Ngươi toả ra mùi hôi thối”
2. NHÂN ÐÓ (tato): Sau khi toả ra mùi hôi thối ấy và bị rúc r.ta bởi những con giòi. CHÚNG CẦM NHỮNG CON DAO CỦA CHÚNG VÀ KHOÉT NGƯƠI NHIỀU LẦN LẬP ÐI LẬP LẠI (sattha.m gahetvaana okantanti punappuna.m): Những chúng sanh bị kéo đi bởi nghiệp đang cầm những con dao có lưỡi bén và khoét vào miệng của ngươi nhiều lần lập đi lập lại. CHÚNG PHUN VÀO NGƯƠI CHẤT KIỀM RỒI KHOÉT VÀO NGƯƠI NHIỀU LẦN LẬP ÐI VÀ LẬP LẠI (Khaarena paripphositvaa Okantanti punappuna.m): Chúng phun chất cường toan vào những chỗ mà chúng sẽ khoét ngươi và rồi khoét ngươi nhiều lần lập đi lập lại.
4. TÔI LÀ CHỦ CỦA RẤT NHIỀU CỦA CẢI VÀ NGŨ CỐC (issaro dhanadha~n~nassa supahuutassa): Tôi là chúa của, là chủ nhân của rất nhiều của cải, của vô số của cải và ngũ cốc, nghĩa là tôi rất giàu có.
5. NGƯỜI VỢ NÀY VÀ CON GÁI VÀ NÀNG DÂU CỦA TÔI (tassaaya.m me bhariyaa ca dhiitaa ca su.nisaa ca): Người vợ này của tôi trong kiếp sống quá khứ của tôi, đứa con gái này, nàng dâu này; vị ấy noi khi chỉ về những vị chư thiên đang đứng ở trong bầu trời. ÐẮT GIÁ (paccaggha.m): tươi tắn. TÔI RA SỨC NGĂN CẢN… LÀ NHỮNG NGƯỜI ÐANG CẦM… ÐẾN BẢO THÁP (thuupa.m harantiyo vaasesi.m): Khi tỏ thái độ khinh khi Xá-lợi, tôi chống lại… Mà đang mang đi… Ðể tôn kính bảo tháp. ÐÂY LÀ ÁC NGHIỆP ÐƯỢC LÀM BỞI TÔI (ta.m paapa.m pakata.m mayaa): Vị ấy nói bằng sự ân hận khi nói rằng, “ác nghiệp về việc khinh khi Xá-lợi được làm bởi tôi”.
6. TÁM MƯƠI SÁU NGÀN (cha.laasiitisahassaani): ngoài ra, còn nhiều hơn tám mươi sáu ngàn. CHÚNG TÔI (Maya.m): vị ấy nói khi bao gồm những Ngạ quỉ ấy chung với ông ta. ÐANG CHỊU CÁC LOẠI KHỔ THỌ (paccattavedanaa): Ðiều này chỉ cho thấy rằng sự cảm thọ nỗi thống khổ lớn đang bị thọ lãnh riêng nhau, theo riêng từng cá nhân của mỗi người. TRONG ĐỊA NGỤC (niraye): Vị ấy nói điều này, khi so sánh cõi Ngạ quỉ giống như địa ngục do bởi tánh chất đau khổ dữ dội của nó.
7. NHỮNG NGƯÒI MÀ… KHI ÐẠI LỄ TÔN KÍNH BẢO THÁP CỦA BẬC A-LA-HÁN ÐANG TIẾN HÀNH (ye ca kho thuupapuujaaya vattante arahato mahe): Vị ấy giải rõ nỗi mất mát to lớn của mình bằng tánh chất phúng dụ khi nói rằng, “ngài nên tách, Ngài nên xem như những người đứng ngoài, ra khỏi đó, khỏi phước nghiệp ấy, những người mà, như tôi, nói ra những điều bất lợi, nói những điều không tốt về sự tôn kính bảo tháp khi đại lễ tôn kính đối với bảo tháp của bậc A-la-hán, của đức Phật toàn giác, đang tiến hành.”
8. KHI ÐI ÐẾN (aayantiyo): Khi đi đến xuyên qua hư không. KẾT QUẢ CỦA NHỮNG BÔNG HOA (maalaavipaaka.m): Kết quả, quả báu, của việc tôn kính bằng những bôn hoa nơi bảo tháp. rực rỡ (samiddhaa): rực tỡ bằng sự vinh quang của Chư thiên. họ vinh hoa (taa yasassiniyo): Họ có tuỳ tùng.
9. VÀ KHI HỌ ÐÃ TRÔNG THẤY ÐIỀU NÀY (ta~n ca disvaana): Khi họ đã trông thấy kết quả phi thường, tuyệt hảo, kỳ diệu, làm dựng đứng tóc, của việc phước, có giới hạn tột bực của sự tôn kính. NHỮNG BẬC TRÍ TUỆ SẼ TÁN DƯƠNG VÀ TÔN KÍNH NGÀI VÀ, ÐẢNH LỄ NGÀI THƯA ÐẠI HIỀN TRÍ (namo karonti sappa~n~nà vadanti ta.m mahaamuni): Những người đàn bà này, thưa Ngài Kassapa, sẽ đảnh lễ, sẽ sụp mình trước Ngài, là phước điền vô thượng, nghĩa là họ sẽ tán dương, sẽ tôn kính Ngài.
Rồi Ngạ quỉ ấy, tâm của nó bị xúc động, bèn thốt lên câu kệ bắt đầu bằng, “Xét thấy rằng khi tôi”, cho thấy điều mà nó định làm trong tương lai phù hợp với sự xúc động ấy. Ý nghĩa của điều này tự nó hoàn toàn rõ ràng rồi.
Ðại Ðức Mahaakassapa lấy vấn đề mà được nói như vậy bởi Ngạ quỉ làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó.
Quỉ sự về sự coi thường đã kết thúc – như vậy phần trình bày về ý nghĩa của chương ba, Tiểu phẩm, được tô điểm bởi mười câu chuyện trong những câu chuyện Ngạ quỉ của bộ Khuddhaka Nikaaya đã kết thúc.
-ooOoo-