NGẠ QUỶ SỰ · Chương 4/4
CHƯƠNG IV: ĐẠI PHẨM
IV.1 QUỈ SỰ AMBASAKKHARA
(AMBASAKKHARA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Có một thành phố của người Vajji tên là Vesaali “. Ðây là quỉ sự Ambasakkhara . Câu chuyện bắt nguồn như thế nào?
Khi Ðức Thế Tôn đang ngụ ở Jetavana thì một vị vua Licchavi tên là Ambasakkhara, là người có tà kiến và chấp theo học thuyết Natthika, cai trị ở Vesaali . Lúc bấy giờ, ở trong thành Vesaali, có một quãng đường lầy lội ở gần cửa tiệm của một vị thương nhân nọ, làm trắc trở cho nhiều người đi qua ở đó, khiến người ta phải nhảy qua nó, một số thì làm văng bùn. Khi trông thấy điều này, thì vị thương nhân kia suy nghĩ rằng, “Những người này không cần phải đi bộ qua bùn”, và sai đặt xuống chỗ lầy lội ấy một cái đầu lâu của một con bò mà không còn mùi hôi thối và có màu giống như xà cừ. Về bản tánh, ông ta là người có giới đức, không nóng giận, có lời nói nhỏ nhẹ và thường khen ngợi ân đức của những người khác về điều mà họ có. Rồi một hôm nọ, khi người bạn của ông ta đang tắm và thiếu đề phòng cẩn mật, ông ta giấu áo quần của người kia cho vui, chỉ cho lại chúng sau khi ông ta làm cho người kia phải chịu khổ sở. Tuy nhiên, đứa cháu trai của ông ta mang về những đồ ăn cắp được từ những nhà khác và gởi chúng vào trong cửa tiệm của ông ta. Những chủ nhân của những đồ vật ấy sau khi đã khám phá ra những đồ vật của họ, bèn đem nộp ông ta và đứa cháu trai của ông ta cùng với những thứ bị mất cắp ấy trước mặt đức vua. Ðức vua truyền lịnh rằng, “hãy cắt đầu người này, nhưng đâm xuyên đứa cháu trai của ông ta” và những người của đức vua làm y như lịnh truyền.
Khi ông ta chết, ông ta sanh vào cõi của những vị chư thiên địa cầu, có được một con Bạch mã của chư thiên, chạy nhanh như tâm ý, vì kiếp trước ông đã làm chiếc cầu ấy bằng cái đầu của con bò và mùi hương của chư thiên toát ra thừ thân của vị ấy do bởi những lời nhận xét của ông ta để khen ngợi những người có giới đức, nhưng ông ta bị trần truồng vì đã đem giấu y phục. Chính do kết quả của việc nhìn lại những nghiệp này mà ông ta đã làm trong quá khứ nên ông ta trông thấy đứa cháu trai của ông ta bị đâm xuyên. Tâm của vị ấy bị rung động bởi lòng thương xót, vị ấy liền cỡi trên con Bạch mã chạy nhanh như tâm ý và đi vào lúc nửa đêm đến chỗ mà đứa cháu trai của vị ấy bị đâm xuyên và, khi đứng không cách xa, mỗi ngày mỗi nói rằng, “Này bạn, hãy cố gắng, vì còn sống thì tốt hơn”.
Lúc bấy giờ vua Ambasakkhara đang đi vòng quanh thành phố theo chiều phải, cỡi trên lưng của con voi kiết tường, vị ấy trông thấy một người đàn bà đã mở cánh cửa sổ ở trong một ngôi nhà nọ và đang xem vẻ uy nghi của vua. Ðức vua đem lòng yêu thương nàng và ra hiệu cho một người đàn ông ngồi ở gần đó tựa như muốn nói rằng, “Ngươi hãy xem ngôi nhà ấy và người đàn bà ấy”, và đúng lúc đi vào chỗ ngụ trong hoàng cung và sai người đàn ông ấy đi khi nói rằng, “ta truyền lịnh rằng ngươi hãy đi và tìm hiểu xem liệu người đàn bà ấy đã có chồng hay chưa? “Người kia đi và khi ông ta thấy rằng nàng đã có một người chồng, bèn báo tin cho đức vua biết. Ðức vua khi nghĩ về một cách nào đó mà nhờ đó vị ấy có thể lấy nàng làm vợ, bèn cho mời người chồng của nàng đến và nói rằng, “Ta truyền lịnh ngươi hãy đến và phục vụ cho ta”. Vì sợ hãi, anh ta miễn cưỡng hầu hạ đức vua, khi nghĩ rằng, nếu vị ấy không làm điều mà đức vua ban truyền, thời đức vua sẽ trừng phạt vị ấy; và hằng ngày đi hầu đức vua. Ðức vua sai cho anh ta vật thực và tiền công. Khi vài ngày đã trôi qua, đức vua nói với anh ta khi anh ta đến hầu vua vào lúc sáng sớm, “Ta truyền lịnh ngươi hãy đi đến nơi mà có hồ sen và kiếm về từ đó một ít đất sét đỏ và hoa súng đỏ; Nếu ngươi không trở về trong chính ngày hôm nay thời ngươi sẽ mất mạng”, và khi anh ta đã đi rồi, thì bảo người giữ cửa rằng, ‘Tất cả các cổng đều phải được đóng lại ngay khi mặt trời vừa lặn.”
Bấy giờ hồ sen ấy cách thành Vesaali tối thiểu là ba do tuần, nhưng cho dù người đàn ông ấy, vội vã đi vì nỗi sợ chết, đã đi đến hồ sen với sức nhanh của gió trước lúc đứng bóng. Bởi vì anh ta đã nghe trước rằng hồ sen ấy có vị phi nhân thường lui tới, nên anh ta sợ hãi đi quanh hồ khi tự hỏi rằng, “có nguy hiểm nào ở đây không?” Khi trông thấy anh ta thì một vị thần bảo vệ hồ sen ấy đem lòng thương hại cho anh ta và đi đến anh ta trong hình tướng của loài người mà nói rằng, “anh đến đây với mục đích gì, hỡi ông bạn?” Anh ta bèn kể lại toàn thể câu chuyện của anh ta cho vị ấy nghe. “Nếu sự thể là như vậy thời ngươi hãy lấy bất cứ cái gì mà ngươi cần đến”. Vị ấy nói và biến mất sau khi cho thấy tướng mạo chư thiên của vị ấy. Anh ta lấy một ít đất sét và hoa súng đỏ ở đó và đi đến cổng thành ngay trước khi mặt trời lặn. Người giữ cổng trông thấy anh ta và đóng cổng lại, anh ta bèn gọi người đàn ông bị đâm xuyên ở gần cổng ấy làm nhân chứng cho anh ta khi nói rằng, “Khi tôi đến ngay trước khi mặt trời lặn thì họ lại đóng cổng ngay khi tôi đang gọi đến. Ông hãy biết rằng tôi đã đến thật đúng lúc và về phần tôi chẳng có lỗi lầm nào cả”. Khi người kia nghe điều này thì nói rằng, “Tôi đang đối diện với cái chết, đang bị hành hình bằng sự đâm xuyên. Làm sao tôi có thể làm nhân chứng cho ông được. Tuy nhiên, có một vị Peta có đại thần thông lực sắp đi đến gần tôi. Ông hãy nhờ vị ấy làm chứng cho ông”.
“Nhưng làm sao tôi có thể trông thấy vị ấy?” “Nếu ông nán lại ngay tại chỗ này thời chính ông sẽ trông thấy vị ấy”. Anh ta đứng chờ ở đó và trông thấy vị Peta ấy vào canh giữa của đêm và nhờ vị ấy làm chứng cho anh ta. Vào lúc rạng sáng, khi đức vua truyền lịnh rằng, “ngươi đã đi ngược mệnh lệnh của ta – là một vị vua, do đó ta phải trừng phạt ngươi.” Anh ta bèn nói rằng, “Tâu bệ hạ, thần đã không làm trái lệnh của Bệ hạ; Thần đã đến đây trước khi mặt trời lặn”. Vậy ai làm chứng cho ngươi? ÀAnh ta bèn chỉ cho thấy rằng người làm chứng cho anh ta là một Peta trần truồng mà đã đến trước mặt người đàn ông bị đâm xuyên và, khi vua nói rằng, “Làm sao chúng ta tin vào điều này được?” Anh ta nói rằng, “Trong đêm nay, hãy gởi theo thần một người đàn ông mà bệ hạ tin cậy”. Khi nghe qua điều này thì chính đức vua đi theo cùng anh ta và đứng ở chỗ ấy. Khi vị Peta đi đến và nói rằng, “Hãy rán sống, này bạn, vì sống thì tốt hơn”, vua bèn hỏi vị ấy bằng năm câu kệ và câu kệ đầu, “Có một thành phố của dân Bạt Kỳ tên là Vesaali “, được lồng vào bởi những vị kiết tập Tam tạng với mục đích cho thấy nội dung của chúng:
1. “Có một thành phố của người Bạt kỳ tên là Vesaali ; chính tại đó có vị Licchavi Ambasakkhara, sau khi đã trông thấy vị Peta ở ngoài thành phố, bèn hỏi vị ấy ngay tại đó, vì muốn biết nguyên nhân của vị ấy.”
2. “Ðối với hắn, không có việc nằm ngồi hay bước tới bước lui; Ðối với hắn cũng chẳng có khoái lạc về việc thọ hưởng y phục và vật thực để ăn, uống hay nhai.
3. Trong quá khứ, những người đã là những quyến thuộc của hắn, những người tốt bụng của hắn, có lòng bi mẫn, được người ta trông thấy và được nghe là đã ở chung với hắn. Bây giờ những người này cũng không thể trông thấy được hắn, tình cảnh của hắn là tình cảnh bị bỏ đi bởi những người ấy.
4. Những người mà mạng chung rồi thì không có bạn bè – những bạn bè đã bỏ ngươi khi họ biết về sự thiếu thốn của ngươi; Trong khi đó họ chỉ vây quanh ngươi khi nào họ thấy sự vinh quanh thịnh vượng của ngươi – những người thịnh vượng mới có nhiều bạn bè.
5. Khi đã mất tất cả những tài sản của mình, buồn khổ, bị lấm lem và thân bị tan rã như giọt sương đang lơ lửng, sự chấm dứt mạng sống của người ấy sẽ đến ngày hôm nay hoặc mai.
6. Khi đã bị đi đến cảnh đau khổ hoàn toàn như bị đâm xuyên trên một cái cọc bằng gỗ Nimba – Như vậy, này Yakkha, bằng dấu hiệu nào, khiến ngươi có thể nói rằng, “Hãy sống, này bạn, vì sống thì tốt hơn cả?”
Chú giải:
1. TẠI ÐÓ (tattha): Trong thành Vesaali ấy, Ở BÊN NGOÀI CỦA THÀNH PHỐ (nagarassa baahira.m): Là người ở bên ngoài của thành phố; Nó xảy ra ngay ở bên ngoài của thành phố Vesaali . NGAY TẠI ÐÓ (tatth’eva): Ngay tại đó, ở chỗ mà vua trông thấy vị ấy. VỊ ẤY (ta.m): Vị Peta ấy. KHI MUỐN BIẾT NGUYÊN DO CỦA VỊ ẤY (kaara.natthiko): Khi muốn biết nguyên do tại sao vị ấy nói như vậy rằng, ‘Hãy, sống vì sống, này bạn, thì tốt hơn’.
2. ÐỐI VỚI HẮN KHÔNG CÓ VIỆC NẰM HAY NGỒI (seyyaa nisajjaa nayimassa attthi): Ðối với người mà bị đâm xuyên thì không có việc nằm nghỉ, tánh chất đặc biệt của nó được xem là căng ra ở trên lưng của một người, cũng không có việc ngồi mà tánh chất nổi bật của nó là ngồi xếp bàn v.v… CŨNG KHÔNG CÓ VIỆC BƯỚC TỚI HAY BƯỚC LUI (abhikkamo n’atthi pa.tikamo vaa): Ðối với hắn cũng không có một sự di động nhỏ nhặt nhất mà trong đó tánh chất đặc biệt là đi tới. NGAY CẢ KHOÁI LẠC (paricaarikaa sà pi): Ðối với hắn cũng chẳng có khoái lạc của các dục, đặc tánh của khóai lạc ấy là hưởng dụng y phục và vật thực mà được ăn uống và nhai v.v…
3. NHỮNG NGƯỜI MÀ TRONG QUÁ KHỨ LÀ NHỮNG NGƯỜI TỐT BỤNG CỦA HẮN, CÓ LÒNG THƯƠNG TƯỞNG, MÀ ÐÃ ÐƯỢC TRÔNG THẤY VÀ NGHE Ở CHÚNG VỚI HẮN (di.t.thasutaa sahajjaa anukapakaa yassa ahesu”m pubbe): Những người mà trong quá khứ là những người bạn tốt bụng của hắn, cả những người mà đã được trông thấy ở chung với hắn và những người bạn mà không được trông thấy như vậy. NGAY CẢ TRÔNG THẤY (datthu”m pi): Nghĩa là những người này thậm chí cũng không thể trông thấy hắn, chớ nói chi là ở chung với hắn. hoàn cảnh của hắn là hoàn cảnh bị bỏ đi (viraajitatto): TÌNH TRẠNG CỦA HẮN LÀ TÌNH TRẠNG BỊ PHỦ NHẬN. BỞI NHỮNG NGƯỜI ẤY (janana tena): Bởi những người đã là những quyến thuộc của hắn v.v…
4. NHỮNG NGƯỜI MÀ ÐÃ MẠNG CHUNG THÌ KHÔNG CÓ BẠN BÈ (na oggatassa bhavanti mittaa): Những người mà đã chết, những người mà tâm thức của họ đã ra đi, quả thật không có những người bạn, bởi vì chúng đã đi sang bên kia của chặng đường, nơi mà không có cái gì được làm bởi những người bạn của họ. NHỮNG NGƯỜI BẠN ÐÃ BỎ NGƯƠI KHI HỌ BIẾT VỀ SỰ THIẾU THỐN CỦA NGƯƠI (jahanti mittà vikala.m viditvaa): Những người bạn bỏ ngươi khi nghĩ rằng, ‘Không có cái gì được kiếm ra từ người này’, khi họ biết rằng một người không có của cải ngay cả khi người ấy còn đang sống, chớ đừng nói chi người mà đã chết rồi. TRONG KHI ÐÓ HỌ VÂY QUANH NGƯƠI KHI HỌ THẤY SỰ THỊNH VƯỢNG CỦA NGƯƠI (attha~n ca disvà parivaarayanti): Nhưng họ vây quanh ngươi với lời nói chan chứa tình cảm và nhìn chăm chăm vào ngươi khi họ trông thấy của cải của ngươi, sự thịnh vượng và tài sản. NHỮNG NGƯỜI MÀ HƯNG THỊNH THÌ CÓ NHIỀU BẠN BÈ (bahù mittà Uggattassa honti): Những người mà có của cải, tánh chất của người ấy là hưng thịnh và thành công, thì có nhiều bạn bè, có nghĩa đây là lối sống ở thế gian.
5. SAU KHI ÐÃ MẤT TẤT CẢ CỦA CẢI CỦA MÌNH (nihiinattho sabbabhogehi): Sau khi đã trở nên thiếu thốn tất cả của cải, cả lớn lẫn nhỏ. TRONG CẢNH KHỐN CÙNG (kiccho): Trong sự đau khổ. BỊ LẤM LEM (Sammakkhitto): Thân bị lấm lem bởi máu. THÂN HOÀN TOÀN BỊ TAN RÃ (samparibhinnagato): Có thân bị nát ở bên trong bởi cây cọc. GIỐNG NHƯ GIỌT SƯƠNG ÐANG TREO LƠ LỬNG (Ussaavabindu va palimpamaano): giống như giọt sương ở trên đầu của ngọn cỏ. NGÀY HÔM NAY HAY NGÀY MAI (ajja suve): Sự kết thúc, hoặc sự chấm dứt mạng sống của người này quả thật sẽ đến vào ngày hôm nay hoặc ngày mai, nghĩa là sau đó nó sẽ không còn tiếp tục nữa.
6. BỊ ÐÂM XUYÊN (uttaasita.m): Bị đặt vào, bị trói vào. TRÊN MỘT CÁI CỌC BẰNG GỖ CỦA CÂY NIMBA (picumandassa suule): Trên một cái cọc làm bằng thân của cây Nimba. BẰNG DẤU HIỆU NÀO? (kena va.n.nena): Vì lý do gì? NÀY BẠN, HÃY SỐNG CÒN, VÌ SỐNG CÒN THÌ TỐT HƠN (jiivabho jiivita.m eva seyyo): Hãy sống còn này bạn. Tại sao? Vì được sống là phần ngươi, cho dù bị đâm xuyên ở đây dầu một trăm lần, một ngàn lần, vẫn tốt hơn là sự sống khác mà đang chờ ngươi khi ngươi mạng chung ở đây.
Khi được hỏi như vậy bởi đức vua, vị Peta ấy bèn nói bốn câu kệ để giải thích cho vị ấy rõ điều mà vị ấy muốn nói:
7. “Người ấy là quyến thuộc máu mủ của tôi. Tôi đã nhớ đến trong kiếp sống quá khứ. Khi tôi trông thấy nó, tôi có lòng thương hại cho nó vì nghĩ rằng, “đừng để kẻ ác ấy phải rơi vào địa ngục.”
8. Khi nó rời khỏi đây, hỡi Licchavi, thì người này, người đã làm những ác nghiệp này, sẽ sanh trong địa ngục có đông tội đồ và kinh khủng, vô cùng nóng nực, kinh khủng và đáng sợ.
9. Cái cọc này tốt hơn vô số lần địa ngục ấy; đừng để nó phải rơi vào địa ngục vô cùng đau đớn, đau khổ, đáng sợ và khắc nghiệt ấy;
10. Bây giờ nếu nó chịu nghe những lời của tôi thời nó sẽ bị đau khổ và có thể trút hơi tàn của nó. Do đó, tôi không nói trước mặt của nó, e rằng sự chấm dứt mạng sống của nó sẽ đến do bởi riêng tôi.”
Chú giải:
7. Ở đây QUYẾN THUỘC MÁU MỦ (Saalohito): Có cùng giòng máu, có quan hệ về dòng dõi. TRONG KIẾP QUÁ KHỨ CỦA TÔI (purimaaya jaatiyaa): Trong kiếp sống quá khứ của tôi, ÐỪNG ÐỂ KẺ ÁC ẤY PHẢI RƠI VÀO ĐỊANGỤC (maa paapadhammo niraya.m pataaya.m): Khi tôi trông thấy nó, tôi có lòng bi mẫn đối với nó vì nghĩ rằng, “đừng để người đàn ông có tánh ác này phải rơi vào trong địa ngục, đừng để nó sanh vào trong địa ngục – đây là cách nên được hiểu.
8. CÓ ÐÔNG (sattussada.m): Có đông đảo những chúng sanh mà đã từng là những kẻ tạo ra những ác nghiệp. Hay nói chách khác, nó có nghĩa là có đông, được chất chồng lần lượt với bảy cách làm khổ đau đớn, bắt đầu bằng năm loại bánh răng nhỏ, nghĩa là bị đổ nước đồng cháy đỏ vào trong mịêng, bị đặt trên núi than cháy đỏ, bị quăng xuống cái vạc dầu bằng sắt, bị khiến cho đi vào khu rừng có những ngọn lá dao, đi xuống trong con sông vetara.nii, và rồi bị quăng trở lại trong đại địa ngục. CỰC KỲ NÓNG BỎNG (Mahaabhitaapa.m): Bị đốt nóng một cách khổ sở bởi ngọn lửa lớn. MÃNH LIỆT (ka.tuka.m): Khó chịu. ÐÁNG SỢ (bhayaanaka.m): khiến phải kinh sợ.
9. VÔ SỐ LẦN (anekabhaayena gunena): Vô số lần nhiều hơn đối với lợi ích của ngươi. CÁI CỌC NÀY… HƠN ĐỊA NGỤC ẤY (aya.m eva suulo nirayena tena): Cái cọc này tốt hơn địa ngục, là chỗ mà nó phải sanh vào sau đó . Ðây là công cụ cách trong ý nghĩa công cụ. VÔ CÙNG ÐAU ÐỚN (ekantatipapa.m): nghĩa là có sự đau khổ cùng cực và gay gắt, có sự đau khổ tuyệt đối ngút ngàn.
10. BÂY GIỜ NẾU NÓ PHẢI NGHE NHỮNG LỜI NÀY CỦA TÔI (ina~n ca sutvaa vacana.m ma.m’eso): điều mà vị ấy đã nói bắt đầu bằng, “Khi nó rời khỏi đây,” Nếu nó phải nghe những lời này của tôi thời nó sẽ bị đau khổ; là phải chịu nỗi đau khổ của địa ngục do bởi những lời của tôi. có thể trút hơi tàn của nó (vijaheyya paana.m): Có thể từ bỏ mạng sống của nó. do đó (tasmaa): vì lý do ấy. E RẰNG DO BỞI RIÊNG TÔI (maa m’ ekato): Tôi không nói những lời này trước mặt nó, e rằng sự kết thúc mạng sống của người đàn ông này sẽ đến do bởi riêng tôi. Ðúng hơn tôi chỉ nói rằng, ‘Hãy sống còn, này bạn, vì sống còn thì tốt hơn’ – đây là ý nghĩa.
Khi vị Peta ấy đã giải thích như vậy điều mà vị ấy muốn nói thì đức vua thốt lên câu kệ này để xin phép hỏi vị Peta một lần nữa về vấn đề ấy:
11. “Nhưng sự kiện về người đàn ông này đã được biết đến rồi; Chúng tôi muốn hỏi luôn Ngài về những điều khác nữa. Nếu Ngài cho phép chúng tôi, thời chúng tôi sẽ hỏi Ngài, nhưng Ngài không được giận chúng tôi.”
12. “Chắc chắn tôi đã đồng ý rồi – không có sự bàn bạc với người mà không được tin cậy. Khi miễn cưỡng cho rằng bệ hạ là người có lời nói có thể được tin cậy, khi hành động như vậy, bệ hạ có thể hỏi tôi điều nào bệ hạ muốn và nếu có thể được thời tôi sẽ trả lời.”
Những câu kệ này là cuộc nói chuyện qua lại giữa vị peta và đức vua.
Chú giải:
11. Ở đây ÐƯỢC BIẾT ÐẾN (a~n~naato): Ðược hiểu. CHÚNG TÔI MUỐN icchaamase = icchaama: (thể văn phạm hoán chuyển). CHÚNG TÔI: no = a.mhaaka.m (thể văn phạm hoán chuyển). NHƯNG NGÀI KHÔNG ÐƯỢC GIẬN (na ca kujjhitabba.m): Nhưng Ngài không được giận khi nghĩ rằng, “Bất cứ điều gì mà những người này đang hỏi?”
12. CHẮC VẬY (addhaa): chắc chắn. TÔI ÐÃ ÐỒNG Ý (pati~n~naa me): Tôi đã đồng ý khi nói rằng, Ngài hỏi về tin tức, nghĩa là tôi đã cho phép. KHI ẤY (tadaa ahu): vào lúc mà tôi trông thấy bệ hạ đầu tiên. KHÔNG CÓ SỰ BÀN BẠC VỚI NHỮNG NGƯỜI MÀ KHÔNG CÓ SỰ TIN CẬY (naacikkhanaa appasanassa hoti): Không có sự nói chuyện với người mà không được tin cậy. Những người trọng chữ tín sẽ chỉ nói chuyện về bất cứ điều gì với những người mà họ tin cậy. Tuy nhiên, bệ hạ không có sự tin cậy trong tôi thời tôi cũng không có sự tin cậy trong bệ hạ. Vì lý do này, khi miễn cưỡng cho rằng bệ hạ là người có những lời nói có thể tin được, rất miễn cưỡng khi cho rằng điều mà bệ hạ nói sẽ được tin. KHI HÀNH ÐỘNG NHƯ VẬY (iti katvaa): Vì lý do này. BỆ HẠ CÓ THỂ HỎI TÔI ÐIỀU GÌ MÀ BỆ HẠ MUỐN VÀ NẾU CÓ THỂ ÐƯỢC (pucchassu ma.m kaama.m yathaa visayha.m): Bệ hạ có thể hỏi tôi về bất cứ điều gì mà bệ hạ muốn hỏi và nếu có thể được, nếu tôi có khả năng thời tôi sẽ trả lời theo đúng phạm vi hiểu biết của tôi – đây là ý nghĩa.
Khi đã được vị Peta cho phép như vậy, đức vua bèn nói lên câu kệ này:
13. Bất cứ điều gì mà trẫm có thể trông thấy bằng chính mắt của trẫm – thời trẫm có thể tin tất cả điều ấy. Nếu trẫm trông thấy một điều gì đó mà trẫm vẫn không tin thời Ngài nên giúp đỡ trẫm, thưa Yakkha.”
Chú giải:
13. Ðây là ý nghĩa: Bất cứ điều gì mà trẫm được trông thấy bằng mắt của trẫm thời trẫm có thể tin, trẫm có thể chấp nhận, tất cả điều ấy đúng như thế. Tuy nhiên, nếu trẫm trông thấy một điều gì đó mà trẫm không tin về điều mà ngài nói thời ngài nên giúp đỡ trẫm, hỡi Yakkha, Ngài nên quở trách trẫm hay nói bằng cách nào đó. BẤT CỨ ÐIỀU GÌ MÀ TRẪM TRÔNG THẤY BẰNG CHÍNH MẮT CỦA TRẪM (ya.m ki~ncaaha.m cakkhumaa passisaami): Bất cứ điều gì mà trẫm có thể thấy bằng chính mắt của trẫm vì nó ở ngoài tầm thấy của một người khác. THỜI TRẪM CÓ THỂ TIN VÀO TẤT CẢ ÐIỀU ẤY (sabba.m pi taaha.m abhisaddaheyya.m): Thời trẫm có thể tin vào điều mà trẫm trông thấy, nghe hay biết, vì đó là sự tin cậy của trẫm đối với ngài – đây là ý nghĩa. Tuy nhiên, ý nghĩa của hai đoạn cuối cùng đúng như đã được gi?i thích.
Khi nghe qua diều này, vị Peta ấy bèn nói lên hai câu kệ này:
14. “Hãy cho ta có được lời hứa của bệ hạ rằng sau khi nghe pháp, bệ hạ sẽ có được lòng tịnh tín thích hợp, vì bệ hạ mong mỏi được biết và tâm của bệ hạ không bị ô nhiễm nên ta sẽ công bố tất cả giáo pháp đúng như đã được phân giải, dầu bệ hạ đã nghe hay chưa nghe.”
Từ đây trở đi là những câu kệ trong cuộc nói chuyện giữa hai người trong bọn họ.
15. “Trên một con ngựa trắng có trang sức, ngài đi đến với người mà đã bị đâm xuyên; con ngựa này thật kỳ diệu và trông khả ái – Ðây là kết quả của nghiệp nào?”
16. “Ở trung tâm của thành phố Vesaali có một cái vũng nước trên con đường lầy lội; Với lòng tịnh tín trong tâm của tôi, tôi đã lấy một cái đầu lâu màu trắng của một con bò và đặt nó xuống trong vũng bùn ấy.
17. Nhờ đặt bàn chân của chúng tôi trên cái đầu lâu này, nên cả chúng tôi và những người khác có thể đi qua được; Con ngựa này, kỳ diệu và trông khả ái – là kết quả của nghiệp ấy.”
18. “Bây giờ sắc của ngài sáng rực trong tất cả các hướng và mùi hương của ngài làm tràn ngập khắp các hướng; Ngài có oai lực lớn và đã đạt được năng lực thần thông này của một vị Yakkha. Tuy nhiên, Ngài lại trần truồng – Ðây là kết quả của nghiệp gì?”
19. “Tâm của tôi không sân hận và thường xuyên có lòng tịnh tín, tôi đi đến mọi người với giọng nói nhỏ nhẹ; Sắc tướng chư thiên của tôi thường xuyên chiếu sáng – đây là kết quả của nghiệp ấy.
20. Khi tôi thấy danh vọng và tiếng tăm của những người được an trú trong pháp thì tôi công bố họ với lòng tịnh tín trong tâm của tôi; mùi hương chư thiên của tôi toả ra liên tục – đây là kết quả của nghiệp ấy.
21. Trong khi những người bạn của tôi đang tắm ở chỗ tắm thì tôi vui đùa không có sự ô nhiễm trong tâm, đã lấy y phục của họ và giấu chúng ở một chỗ đất cao – Vì lý do này khiến tôi trần truồng và sống một cuộc đời phiền toái”.
22. “Ðối với người mà làm điều ác để vui đùa, thì đó là kết quả về nghiệp của vị ấy. “Nhưng đối với người mà làm điều ấy không phải để vui đùa, thì người ta sẽ nói gì là quả nghiệp của người ấy?”
23. “Những người mà có mục đích đồi bại và có tâm bị ô nhiễm và có thân khẩu bất tịnh thời số phận của họ vào lúc thân hoại mạng chung là, không nghi ngờ gì, họ phải rơi vào địa ngục.
24. Nhưng những ai mà, khao khát một kiếp sống hạnh phúc, thoả thích trong sự bố thí và có tánh thương người thì số phận của họ vào lúc thân hoại mạng chung, không nghi ngờ gì, là họ sẽ được đi đến nhàn cảnh.”
Chú giải:
14. HÃY CHO TÔI CÓ ÐƯỢC LỜI HỨA LONG TRỌNG CỦA NGÀI (saccappa.ti~n~naa tava me saa hontu): Hãy cho lời hứa này của bệ hạ đến tôi, là một lời hứa trang trọng. RẰNG SAU KHI ÐÃ NGHE PHÁP, NGÀI SẼ CÓ ÐƯỢC LÒNG TỊNH TÍN THÍCH HỢP (sutvaana dhamma.m labha suppasaada.m): rằng sau khi nghe pháp thoại này mà tôi nói về, ngài sẽ có được lòng tịnh tín chơn thật. MONG MỎI ÐƯỢC BIẾT (a~n~natthiko): Mong mỏi sự hiểu biết. ÐÚNG NHƯ ÐÃ ÐƯỢC PHÂN GIẢI (Yathaa pajjaana.m): Ðúng như người khác cũng giải nó; hay nói cách khác đúng như đã được phân biệt rõ (yathaa pajaana.m): nghĩa là đúng như sự hiểu biết của tôi.
15. ÐÂY LÀ KẾT QUẢ CỦA NGHIỆP NÀO? (kiss’eta.m kammassa aya.m vipaako): Ðây là kết quả của điều gì, quả thật đây là kết quả của điều gì? Ðây là kết quả của nghiệp gì? Hay nói cách khác, ta.m (không được dịch) chỉ là một bất biến từ, của nghiệp gì – đây là cách nên hiểu. Một số người đọc là Kissa te (ý nghĩa vẫn không thay đổi).
16. TRONG MỘT CON ÐƯỜNG CÓ BÙN (Cikkhallamagge): Trong một con đường có đầy bùn. MỘT CHỖ TRŨNG (naraka.m): Một cái hố. TÔI ÐÃ LẤY ekaaha.m = eha.m aha.m: (phối hợp cách). ÐẶT NÓ XUỐNG TRONG CÁI LỖ TRŨNG ẤY (Narakasmi.m nikkhipin): Ðặt nó xuống trong cái lỗ trũng có bùn ấy để người ta không phải giẫm lên nó.
20. VỀ NHỮNG NGƯỜI ÐƯỢC AN TRÚ TRONG PHÁP (dhammo .thitaana.m): Về những người mà sống trong pháp, TÔI CÔNG BỐ (manteni): Tôi nói về.
21. CÓ TÁNH CÁCH VUI ÐÙA (khi.d.datthiko): Có ý định xem nó như một trò đùa. KHÔNG CÓ SỰ Ô NHIỄM TRONG TÂM (no ca padu.t.thacitto): Không có tánh hiểm độc trong tâm đối với chủ nhân của chiếc áo, nghĩa là không có ý định ăn cắp hay gây ra sự mất mát nào.
22. CHẲNG PHẢI ÐỂ VUI ÐÙA (akaa.lamaano): Không có ý định vui đùa, với tánh hiểm độc trong tâm do bởi tham lam v.v… HỌ SẼ NÓI ÐIỀU GÌ LÀ KẾT QUẢ VỀ NGHIỆP CỦA VỊ ẤY? (kim tassa kammassa vipaaka.m aahu): Những bậc trí tuệ nói về sự cho quả khổ của nghiệp được làm của người ấy sẽ to lớn như thế nào?
23. CÓ MỤC ÐÍCH VÀ TÂM ÐỒI BẠI (Du.t.thasa.m kappamanaa): Với những ý nghĩ có tánh chất hiểm độc do bởi những mục đích có liên hệ đến các dục v.v… Bằng cách này, vị ấy nói về ác hạnh trong tâm. VÀ THÂN KHẨU BẤT TỊNH (kaayena vaacaaya ca sa”nkili.t.thaa): bị ô nhiễm về thân và khẩu như sát sanh v.v…
24. KHAO KHÁT ÐƯỢC (aasamaanaa): Hy vọng, mong muốn được
Khi những quả nghiệp đã được giải thích bằng sự phân tích tóm tắt do bởi vị Peta ấy thì đức vua nói lên câu kệ này, vì không tin điều mà vị ấy đã nghe!
25. “Làm sao trẫm có thể biết chắc điều này, rằng đây là quả của những nghiệp thiện và ác? Hay trẫm sẽ tin vào điều gì mà trẫm đã trông thấy? Hay, ai có thể làm cho trẫm tin vào điều này?”
Chú giải:
25. LÀM SAO TA CÓ THỂ BIẾT CHẮC ÐIỀU NÀY ÐƯỢC (ta.m kim ti Jaaneyya.m aha.m avecca) làm sao, nhờ vào nguyên do gì, ta có thể tin chắc điều này được, mà không phải nhờ vào những người khác, kết quả này của những thiện nghiệp và ác nghiệp được nói đến và được phân tích bởi Ngài bằng câu, “Những người có mục đích và tâm đồi bại và có thân khẩu bất tịnh v.v…, và câu “những người khác nào, mà mong mỏi được sanh vào cõi an vui v.v..”. Hay tôi đã trông thấy điều gì để tôi tin? (ki.m và’ha.m disvà abhisaddaheyya.m): Hay loại bằng chứng nào mà ta đã trông thấy để ta đồng ý? HAY DẦU VẬY, AI CÓ THỂ LÀM CHO TA TIN VÀO ÐIỀU NÀY (ko và pi ma.m saddahaapeyy eta.m): Hay bậc đa văn nào, bậc trí tuệ nào, có thể làm cho ta tin vào vấn đề này, nghĩa là hãy nói cho ta biết rõ điều này.
Khi đã nghe qua điều này, vị Peta bèn nói những câu kệ này để giải thích cho đức vua rõ vấn đề một cách hợp lý:
26. “Khi bệ hạ đã thấy và đã nghe, bệ hạ phải tin rằng đây là kết quả của những thiện nghiệp và ác nghiệp; Nếu cả thiện nghiệp và ác nghiệpkhông tồn tại thì làm sao những chúng sanh có được kiếp sống hạnh phúc hay đau khổ?
27. Và nếu những kẻ còn sanh tử không làm những nghiệp ở đây, là những nghiệp thiện và bất thiện trong thế giới của loài người, thời sẽ không có những chúng sanh có được những kiếp sống hạnh phúc hay đau khổ, chẳng có ai cao và thấp trong cõi người.
28. Nhưng vì chúng sanh còn sanh tử, còn làm những nghiệp, là thiện nghiệp và ác nghiệp trong cõi người, do đó có những chúng sanh có được kiếp sống hạnh phúc và đau khổ, là những kẻ cao quý và thấp hèn trong cõi người.
29. Trong hiện tại, người ta nói rằng kết quả của nghiệp có hai: Những nghiệp sẽ được thọ lãnh là hạnh phúc và những nghiệp phải bị thọ lãnh là đau khổ; Những vị chư thiên thì làm cho chính mình được vui sướng, trong khi những kẻ ngu thì không thấy tánh hai mặt nên bị nấu đốt.
Chú giải:
26. Ở đây KHI BỆ HẠ ÐÃ TRÔNG THẤY (disvaa): Khi bệ hạ cũng đã thấy bằng chính mắt của bệ hạ. ÐÃ NGHE (sutvaa): Khi bệ hạ đã nghe pháp thời bệ hạ có thể rút ra kết luận của chính mình, phân giải theo đúng với nó. CỦA NHỮNG THIỆN NGHIỆP VÀ ÁC NGHIỆP: Kalyaa.napaapassa = kalyaa.nassa paapassa (phối hợp cách). Bệ hạ phải tin rằng sự hạnh phúc này và đau khổ này là kết quả của những thiện nghiệp và bất thiện nghiệp. NẾU CẢ HAI ÐỀU KHÔNG TỒN TẠI (ubhaye asante): Nếu hai loại nghiệp này, thiện nghiệp và bất thiện nghiệp, không được biết đến. LÀM SAO CHÚNG SANH CÓ THỂ CÓ ÐƯỢC NHỮNG HẠNH PHÚC HAY ÐAU KHỔ? (siyaa nu sattaa sugataa duggataa vaa): Làm sao có sự kiện rằng những chúng sanh này đã đi đến cõi hạnh phúc hoặc đến cõi khổ đau, và những người nghèo thì ở trong trạng thái đau khổ, còn những người giàu thì ở trong trạng thái an vui? Bấy giờ vị ấy giải thích theo đúng vấn đề, đúng với điều mà được nói rồi bằng hai câu kệ bắt đầu là: “Và nếu những kẻ còn sanh tử không làm những nghiệp ở đây”, “Nhưng vì những kẻ còn sanh tử có làm các nghiệp.”
29. TRONG HIỆN TẠI NGƯỜI TA NÓI RẰNG: QUẢ CỦA NGHIỆP CÓ HAI PHẦN (dvaaya’ ajja ka.mmaana.m vipaaka.m aahu): Trong hiện tại, bây giờ, người ta nói về, người ta bàn về quả nghiệp của những hành động thiện và bất thiện có hai, có hai loại. Hai loại ấy là gì? Vị ấy nói rằng, NHỮNG QUẢ NGHIỆP SẼ ÐƯỢC THỌ HƯỞNG LÀ HẠNH PHÚC VÀ NHỮNG NGHIỆP PHẢI LÃNH CHỊU LÀ ÐAU KHỔ (sukhassa dukkhassa ca vedaniiya.m): Những người đáng thọ lãnh cái gì khả ái và cái gì không khả ái. NHỮNG VỊ CHƯ THIÊN TỰ LÀM CHO CHÍNH HỌ ÐƯỢC VUI SƯỚNG (taa devataayo paricaarayanti): những người, mà do giới đức về tánh siêu việt của họ, thâu gặt được kết quả để được thọ lãnh là hạnh phúc, trở thành những vị Devataa trong cõi Devaloka và, có được hạnh phúc của chư thiên, làm thoả mãn các căn của họ. TRONG KHI NHỮNG KẺ NGU VÌ KHÔNG THẤY TÁNH HAI MẶT BỊ NẤU SÔI (pacanti baalaa dvayata.m apassino): Trong khi những kẻ ngu mà, vì không tin hai phương diện của nghiệp và quả của nghiệp, đeo đuổi theo những ác nghiệp và, do bởi những nghiệp ấy, họ bị nấu sôi, đối diện với đau khổ trong các địa ngục v.v… để thọ lãnh những kết quả phải được thọ lãnh là đau khổ.
Liên quan đến câu hỏi của đức vua, “Nhưng tại sao, khi tin vào quả của các nghiệp, Ngài lại chịu đau khổ như vậy. Rồi vị ấy nói lên câu kệ này:
30.”Không có những nghiệp của tôi được làm bởi chính tôi; ngay cả cũng không có người nào, mà sau khi đã cho y phục, giường nằm, đồ ăn và thức uống, chịu hồi hướng cho tôi” – Vì lý do này mà tôi phải bị trần truồng và sống một cuộc sống phiền toái.”
Chú giải:
30. Ở đây KHÔNG CÓ NHỮNG NGHIỆP CỦA TÔI ÐƯỢC LÀM BỞI CHÍNH TÔI (na m’atthi ka.mmaani saya.m kataani): Vì không có những việc phước của tôi, vì không có cái gì được biết đến,được làm trong quá khứ bởi chính tôi mà nhờ đó để bây giờ tôi có được y phục v.v… THẬM CHÍ CŨNG KHÔNG CÓ NGƯỜI NÀO MÀ, SAU KHI ÐÃ BỐ THÍ, CHỊU HỒI HƯỚNG ÐẾN CHO TÔI (datvaa pi me n’atthi so aadiseyya): Cũng không có người nào mà, sau khi đã cúng dường vật thí đến các vị Sa-môn và Bà-la-môn, chịu hồi hướng phước ấy đến cho tôi khi nói rằng, ‘Xin cho phước thí này thấu đến Peta đặc biệt ấy’. VÌ LÝ DO NÀY MÀ TÔI PHẢI CHỊU TRẦN TRUỒNG VÀ SỐNG MỘT CUỘC SỐNG PHIỀN TOÁI . (ten’amhi nagga karisaa ca vutti): Vì hai lý do này mà bây giờ tôi bị trần truồng, và sống một cuộc sống phiền toái và đau khổ.
Khi nghe qua điều này đức vua, khi muốn cho vị ấy có được y phục v.v… bèn nói lên câu kệ này:
31. Có thể nào để có một cách nào đó, hỡi Yakkha, mà nhờ đó Ngài có thể có được y phục không? hãy nói cho trẫm biết xem có phương tiện nào để chúng tôi lắng nghe một câu nói nào đó về những điều hiện mà có thể tin được.”
Chú giải:
31. Ở đây MÀ NHỜ ÐÓ (yena): Nghĩa là có thể nào có được một cách nào để mà nhờ đó Ngài có thể có được y phục không? LIỆU CÓ: Yadatthi =yadi atthi (phối hợp cách).
Rồi vị Peta ấy nói lên những câu kệ này để cho đức vua biết cách:
32. “Ở đây có một vị Tỳ kheo tên là Kappitaka, là một vị thiền sư, có giới hạnh tốt, một vị A-la-hán, đã giải thoát và đã khéo hộ phòng các căn, là phước điền, có thu thúc trong những điều luật của Paatimokkha, là người đã trở nên mát lạnh và đã đạt đến tri kiến rốt ráo rồi;
33. Nói hiền hòa, nhã nhặn, khéo thuyết, có gương mặt hiền từ, rành mạch và là người nói rất từ ái, là phước điền, là người sống trong sự thanh bình và là người sống đáng thọ lãnh sự cúng dường của chư thiên và nhơn loại.
34. An tịnh, thiểu dục, không bị phiền não, không tham muốn, đã giải thoát, không buồn rầu, không vị kỷ, chánh trực, không còn cội rễ, là người mà đã đoạn trừ tất cả các chướng ngại, là người đã chứng đắc ba loại trí tuệ, chiếu sáng;
35. Không được biết đến và không dễ nhận ra được ngay khi đã trông thấy, giữa những người bạn bè người ta gọi vị ấy là “Bậc hiền trí”; Các vị Yakkha biết vị ấy là đã thoát khỏi ái dục, rảo đi trong thế gian với bản tánh thiện.
36. Nếu bệ hạ cho vị ấy một đôi hay hai cái, khi hồi hướng phước thí này cho tôi, và những vật thí này được thọ lãnh, thời bệ hạ sẽ trông thấy tôi được mặc những y phục”.
Chú giải:
32. Ở đây CÓ TÊN LÀ KAPPITAKA (kappitako naama): Vị ấy nói về thầy Hoà thượng của Trưởng lão đáng kính Upaali, người mà có một thời là vị lãnh đạo của một ngàn vị Ðạo sĩ tóc búi. Ở ÐÂY (idha): ở gần thành Vesaali này. MỘT VỊ THIỀN SƯ (jhàyii): Một vị thiền sư do bởi thiện kết hợp với quả cao tột. LÀ NGƯỜI ÐÃ TRỞ NÊN MÁT LẠNH (siitibhuuto): người đã đạt đến trạng thái mát lạnh do đã dập tắt sầu khổ nóng cháy của tất cả các loại ô nhiễm. ÐÃ ÐẠT ÐẾN TRI KIẾN TỘT BẬC (uttamadi.t.thi patto): đã đạt đến quả tột bậc, là Chánh Tri kiến.
33. NÓI LỜI TỪ HOÀ (Sakhilo): nhỏ nhẹ. KHÉO THUYẾT (suvaco): Hiền lành, RÀNH MẠCH (savaagamo): người mà chánh pháp đã được truyền lại một cách đúng pháp đến cho vị ấy. NGƯỜI ĂN NÓI RẤT TỪ ÁI (suppa.timuttako ca): Người mà có giọng nói rất từ ái, nghĩa là người nói một cách từ tốn. NGƯỜI SỐNG TRONG SỰ THANH BÌNH (ara.mavihaarii): người sống bằng tâm từ.
34. AN TỊNH (santo): đã vắng lặng các phiền não. không bị phiền não (aniigho): đã hết đau khổ. Không có khói (vidhuumo): không còn xông lên những làn khói tà tư duy. GIẢI THOÁT (mutto): không có tất cả các hữu trong tương lai. Không có mũi tên (visallo): KHÔNG CÓ MŨI TÊN của tham ái v.v… KHÔNG VỊ KỶ (amamo): Không có cố chấp về cái ta. CHÁNH TRỰC (ava”nko): đã loại trừ những lối sống lòn cúi như những nghiệp cong queo về thân v.v… KHÔNG CÓ NỀN MÓNG (nirupadhi): người mà đã từ bỏ nền móng như các ô nhiễm và những nghiệp tích lũy v.v… NGƯỜI MÀ ÐÃ ÐOẠN TRỪ TẤT CẢ NHỮNG CHƯỚNG NGẠI (sabbapapa~ncakhii.no): Người mà đã hết những chướng ngại như ái dục v.v… CHIẾU SÁNG (jutimaa): Chiếu sáng bằng ánh sáng vô song của trí tuệ.
35. Không được biết đến (appa~n~naato): Không biết rõ được do bởi tánh thiểu dục của vị ấy và những giới đức tiềm ấn của Ngài. KHÔNG DỄ DÀNG NHẬN RA ÐƯỢC (Sujaano): Do bởi bản tánh sâu sắc của Ngài, người ta không dễ gì biết chắc rằng Ngài có giới đức như vậy, có bản tánh và trí tuệ như vậy, ngay cả khi được trông thấy bằng mắt. NHỮNG VỊ DẠ XOA BIẾT NGÀI LÀ ÐÃ THOÁT KHỎI ÁI DỤC (jaananti ta.m Yakkha bhuutaa aneja.m): Và những vị Dạ xoa biết Ngài là không còn ái dục, và biết ngài là một vị A-la-hán. CÓ BẢN TÁNH THIỆN (Kalyaanadhammaa): có những đức tánh tốt về giới v.v…
36. ÐẾN VỊ ẤY (tassa): Ðến vị Trưởng lão cao hạ Kappitaka ấy. MỘT CẶP (eka.myuga.m): Một cặp y phục. hoặc hai cái (duve vaa) hoặc hai cặp y phục. HỒI HƯỚNG CÁI NÀY ÐẾN CHO TÔI: Ma.m uddisitvaana = mama.m uddisitvaa (thể văn phạm hoán chuyển). VÀ NHỮNG CÁI NÀY NẾU ÐƯỢC THỌ LÃNH (Patiggahitaani ca taani c’ assu): Nếu những cặp y này sẽ được thọ lãnh bởi vị ấy. ÐƯỢC TRANG BỊ BẰNG NHỮNG Y PHỤC (sannaddhadussa.m): Việc mặc những y phục của tôi được làm xong, nghĩa là mặc vào hoặc khoác vào những y phục, bằng những y phục mà vị ấy đã thọ lãnh.
Rồi đức vua dò hỏi về chỗ ngụ của Trưởng lão:
37. “Vị Sa-môn ấy trú ngụ ở chỗ nào để bây giờ chúng tôi có thể đến thăm vị ấy, là người mà ngày hôm nay có thể đoạn trừ giùm cho ta những hoài nghi về điều không đoan chắc, là sự luồn lách của tà kiến này?”
Chú giải:
37. Ở đây TẠI CHỖ NÀO (Kasmi.m padese): ở chỗ nào.
Vị Peta nói rằng: “Vị ấy đang ngôì ở Kapinaccanaa, được vây quanh bởi nhiều vị Devataa; Người xứng danh ấy đang thuyết pháp, chuyên tâm vào những lời dạy của Bậc Ðạo sư”.
38. Ở đây TẠI KAPINACCANAA (Kapinaccanaaya.m): Tại chỗ mà thường được biết qua cái tên Kapinaccanaa vì là tên của những con khỉ (kapiina.m), của những kẻ ở rừng, đang nhảy múa (naccanena). NGƯỜI CÓ TÊN CHƠN CHÁNH, (saccanaamo) có tên đúng với những đức tánh tên của mình là một thiền sư, có giới hạnh tốt, một vị A-la-hán, giải thoát v.v…
Khi vị Peta ấy đã nói điều này, thì đức vua bèn nói lên câu kệ này khi muốn đi thăm vị Trưởng lão ấy ngay:
39. “Bây giờ trẫm sẽ đi và làm điều mà ngài đề nghị, trẫm sẽ khoác vào vị Sa-môn ấy một cặp y và nếu những thứ này được thọ lãnh rồi thời chúng ta sẽ trông thấy ngài có mang những y phục trên thân”.
Chú giải:
39. TRẪM SẼ ÐI BÂY GIỜ: Kassaami = Karissaami (thể văn phạm hoán chuyển);
Rồi vị Peta ấy nói lên câu kệ này để cho thấy rằng, bởi vì Trưởng lão đang thuyết pháp đến những vị chư thiên, do đó chưa phải lúc để đi đến với Ngài:
40. Ðừng đi đến người đã xuất gia khi chưa đúng lúc – Hỡi đấng Licchavi, đây không phải tục lệ dành cho bệ hạ. Hãy đi đến vị ấy sau, vào thời gian thích hợp, và thăm vị ấy ngay tại đó khi Ngài đang ngồi một mình.”
Chú giải:
40. Ở đây LÀNH THAY (saadhu): Là một tiểu từ về sự khẩn khoản. HỠI ÐẤNG LICCHAVI, ÐÓ KHÔNG PHẢI LÀ TỤC LỆ DÀNH CHO NGÀI (vo Licchavi n’esa dhammo): Hỡi vua Licchavi, đây không phải là tục lệ dành các vị vua như ngài, khi đi đến vào thời gian không thích hợp. NGAY TẠI ÐÓ (tatth’eva): Ngay tại chỗ ấy.
Khi vị Peta đã nói điều này thì đức vua đồng ý nói rằng, “Lành thay”, và trở về chỗ ngụ của vị ấy. Khi thời gian thích hợp lại đến, đức vua đi đến Trưởng lão, sai mang theo tám bộ y phục. Khi đã ngồi xuống ở một bên, vị ấy nói lời chào hỏi thân mật với Trưởng lão và nói rằng, “Bạch Ngài, xin hãy nhận lãnh tám bộ y phục này”. Khi nghe qua điều này thì Trưởng lão, để bắt đầu cuộc nói chuyện với đức vua, bèn hỏi rằng, “Tâu Ðại Vương, trước kia Ðại vương không có đức tánh bố thí và đàn áp các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Làm sao mà bây giờ bệ hạ lại muốn cho những y phục thù thắng này? Khi nghe qua điều này, đức vua bèn kể cho Trưởng lão nghe qua lý do, thuật lại cho Trưởng lão nghe về cuộc gặp mặt của mình với vị Peta và tất cả những điều mà mỗi người trong họ đã nói, và rồi dâng đến Trưởng lão những y phục và hồi hướng phước thí kia đến cho Peta ấy. Do bởi điều này khiến Peta hiện ra trước mặt Trưởng lão và đức vua, đang mặc y phục và có trang sức, mang những y phục của chư thiên và cỡi trên con ngựa. Khi trông thấy vị ấy, đức vua rất hoan hỉ, vui sướng và đầy hỉ lạc và nói rằng, “Ta chắc chắn đã trông thấy bằng chính mắt của ta quả của các nghiệp. Bây giờ ta sẽ không làm những ác nghiệp, ta sẽ làm những việc phước mà thôi.” Và nhờ vị Peta ấy làm chứng cho lời nói của mình. Vị Peta nói rằng, “Hỡi vua Licchavi, nếu bệ hạ từ nay trở đi từ bỏ những lối sống bất chánh và sống đúng với pháp thời chỉ tôi sẽ là kẻ chứng nhận cho ngài và đi đến trước mặt của bệ hạ. Hãy thả nhanh người bị đâm xuyên ra khỏi chiếc cọc. Sau khi đã lấy lại mạng sống của vị ấy như vậy và ăn ở theo đúng với Pháp vị ấy còn có thể thoát khỏi đau khổ đang chờ vị ấy. Thỉnh thoảng hãy đi đến Trưởng lão và lắng nghe pháp, hãy làm những việc phước”, và rồi vị Peta ấy sau đó ra đi.
Ðức vua đảnh lễ Trưởng lão và ra đi trở lại kinh đô. Vị ấy gấp rút triệu tập tất cả những người Licchavi lại, và với sự đồng ý của họ, giải thoát người đàn ông ra khỏi chiếc cọc và truyền lịnh cho những y sĩ của mình làm cho người ấy khoẻ mạnh trở lại. Vị ấy đi đến Trưởng lão và hỏi rằng, “đối với một người mà đã làm một nghiệp sẽ dẫn người ấy đến địa ngục, bạch ngài, có thể nào vẫn có con đường để người ấy thoát khỏi địa ngục không?” “Có thể được, tâu Ðại vương. Nếu người ấy làm những việc phước cao cả, thời người ấy có thể thoát khỏi được.” Trưởng lão đáp lại và rồi an trú cho đức vua vào trong Tam qui và Ngũ giới. Khi được an trú ở trong đó và trú vững chắc trong lời khuyến giáo của Trưởng lão, vị ấy trở thành một vị Sotaapanna (Tu-đà-huờn) . Tuy nhiên, người bị đâm xuyên thì trở nên khoẻ mạnh trở lại, đầy xúc động, bèn xuất gia theo các vị Tỳ kheo, và chẳng bao lâu sau chứng đắc đạo quả A-la-hán. Những vị kiết tập Tam Tạng đọc lên những câu kệ này để chứng minh sự kiện này:
41. “Khi nói rằng, “Hãy làm như vậy”, vị ấy rời khỏi chỗ ấy, và được vây quanh bởi một nhóm gồm những nô lệ, vị Licchavi ấy đi đến thành phố và đi đến giường nằm trong chỗ ngụ của chính vị ấy.
42. Rồi vào buổi sáng, khi đức vua đã chăm lo những phận sự trong nhà của mình, vị ấy tắm và uống nước; Khi thời gian thích hợp đến, đức vua chọn tám bộ y phục từ một cái rương và vị Licchavi ấy sai nhóm nô lệ đem chúng đi theo.
43. vị ấy đi đến chỗ ấy và trông thấy vị Sa-môn mà đã trở nên mát lạnh ngồi với tâm an tịnh dưới một cội cây, đã trở về sau khi đã đi khất thực.
44. Ðức vua đi đến Trưởng lão và nói điều này với Trưởng lão khi hỏi thăm sức khoẻ và sự an vui của Trưởng lão, “Tôi là một vị Licchavi ở Vesaali, thưa ngài, người ta biết tôi là vị Licchavi Ambasakkhara .
45. Bạch Ngài, xin Ngài hãy hoan hỉ nhận lãnh tám bộ y xinh đẹp này của trẫm; trẫm xin dâng chúng đến Ngài – Chính riêng mục đích này khiến trẫm đã đến đây và trẫm sẽ được vui sướng nếu Ngài hoan hỉ thọ lãnh.”
46. “Các vị Sa-môn và Bà-la-môn tránh xa chỗ ngụ của bệ hạ; Trong chỗ ngụ của bệ hạ, những cái bát của họ thường bị đập vỡ và ngay cả y phục của họ cũng bị xé rách.
47. Hơn nữa, các vị Sa-môn bị lột trần và bị làm cho té nhào – đó là sự quấy rầy do bệ hạ gây nên đến các vị Sa-môn và những người xuất gia.
48. Bệ hạ chẳng cho gì dầu một cọng cỏ cũng không, bệ hạ cũng không chỉ đường cho những người bị lạc, chính bệ hạ cũng thường giựt lấy cây gậy từ tay một người mù, bệ hạ quả thật rất keo kiệt và không thu thúc. Bây giờ vì lý do gì, chính điều gì bệ hạ đã trông thấy khiến bây giờ bệ hạ chia những cái này cho chúng tôi.
49. “Trẫm thừa nhận điều mà Ngài nói, bạch Ngài; Trẫm đã quấy rầy các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Tuy nhiên, ngay cả ác nghiệp này của trẫm được làm chỉ có tánh cách vui đùa và không có sự ô nhiễm trong tâm.
50. Một vị Yakkha, sau khi đã làm những ác nghiệp trong cuộc chơi, thọ lãnh đau khổ, sự thọ hưởng của vị ấy không được hoàn toàn. Vị ấy có tánh chất trẻ trung, nhưng trạng thái trần truồng là số phận của vị ấy – bây giờ đối với vị Yakkha ấy có sự đau khổ nào hơn thế nữa!
51. Khi trẫm trông thấy vị ấy thì trẫm đầy xúc động, bạch Ngài, – đó là lý do khiến trẫm dâng cúng vật thí này. Xin hãy nhận lãnh tám bộ y này, bạch Ngài, và xin cho phước thí này thấu đến vị dạ xoa ấy.
52. “Chắc chắn sự bố thí sẽ được người ta tán dương bằng nhiều cách; Bây giờ cầu xin cho điều này hằng không bị cạn hết đối với bệ hạ, là người đã bố thí nó. Tôi nhận lãnh tám bộ y này của bệ hạ – mong rằng phước thí này thấu đến vị Yakkha ấy.”
53. Rồi vị Licchavi làm lễ sám hối và dâng đến Trưởng lão tám bộ y khi nói rằng, “Xin hãy thọ lãnh những thứ này”. Nhân đó Trưởng lão nói rằng, “Bây giờ hãy xem vị Yakkha, đã được khoác lên người những y phục”
54. Vị ấy trông thấy Yakkha, có xức bằng dầu gỗ trầm thượng hạng, cưỡi trên một con ngựa thuần chủng, với nước da tuyệt hảo, trang sức lộng lẫy, mặc những y phục đáng kính nể, có tuy tùng vây quanh, có năng lực thần thông vĩ đại của một dạ xoa.
55. Khi đức vua trông thấy vị ấy thì rất vui sướng, phấn chấn, tâm của vị ấy rộn lên niềm hoan hỉ, khuôn mặt rạng rỡ; vị ấy trông thấy nghiệp của mình và kết quả vĩ đại và thực có của nó bằng chính mắt của vị ấy, đã trông thấy điều này bằng chính mắt của vị ấy.
56. Vị ấy đi đến dạ xoa và nói điều này với dạ xoa, “Trẫm sẽ cho ra những vật thí đến các vị Sa-môn và Bà-la-môn vì không có cái gì của trẫm mà trẫm không cho ra. Ngài đã đem đến cho trẫm một sự giúp đỡ lớn, thưa Yakkha .”
57. “Và bệ hạ đã cho những vật thí cục bộ dành cho tôi, hỡi đấng Licchavi, điều này không phải vô ích; Tôi sẽ làm nhân chứng của bệ hạ, một vị phi nhân làm chứng cho một con người.”
58. “Ngài là định mạng, là quyến thuộc, là chỗ nương tựa và là bạn của trẫm, và hơn nữa là vị Devataa của trẫm. Thưa Yakkha, vì trẫm mong được thấy lại ngài, vậy trẫm xin chấp tay cung kính cầu xin Ngài.”
59. “Nếu bệ hạ trở thành người không có đức tin, tỏ ra bỏn sẻn và có tâm tội lỗi thời bệ hạ sẽ không được trông thấy tôi chút nào cả, trong khi đó cho dù tôi có trông thấy bệ hạ, tôi cũng sẽ không nói với bệ hạ.
60. Nhưng nếu bệ hạ phát triển lòng tôn kính đối với pháp bảo, thoả thích trong việc bố thí, có bản tánh thương người và trở thành một con suối phun nước cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn, thời bằng cách này bệ hạ sẽ được trông thấy tôi; và khi tôi trông thấy bệ hạ, tôi sẽ nói chuyện với bệ hạ, tâu bệ hạ.
61. Bây giờ hãy nhanh chân phóng thích người đàn ông này ra khỏi chiếc cọc, vì nhờ người ấy mà tôi trở thành nhân chứng của bệ hạ; Tôi thiết nghĩ, chính do bởi người bị đâm xuyên mà chúng ta trở thành nhân chứng của nhau.
62. Và nếu người đàn ông này được phóng thích nhanh ra khỏi chiếc cọc, thời người ấy vẫn còn có thể chuyên tâm trong các thiện pháp một cách chính đáng, thoát khỏi địa ngục và thoát khỏi nghiệp ấy, trở thành người được thọ hưởng ở một chỗ khác.
63. Khi đã đi đến vị Kappitaka trong thời gian thích hợp và chia phần với vị ấy cái gì mà bệ hạ có, hãy ngồi xuống gần và hỏi thẳng vị ấy, và vị ấy sẽ công bố về đề tài này.
64. Chỉ đi đến vị Tỳ kheo ấy và hỏi vị Tỳ kheo ấy. Vì bệ hạ mong mỏi được biết và khi tâm của bệ hạ không bị ô nhiễm, vị ấy sẽ công bố tất cả về giáo pháp đúng như đã được phân tích, dầu bệ hạ đã nghe hay chưa nghe.”
65. Khi đức vua đã nói chuyện riêng ở đó với vị Phi nhân ấy và đã khiến vị ấy làm nhân chứng cho mình, đức vua ra đi và trước mặt các vị Licchavi, vị ấy nói với hội chúng mà đang ngồi với nhau rằng.”
66. “Hãy lắng nghe, thưa quí vị, chỉ một lời của trẫm mà thôi – trẫm xin quí vị một ân huệ mà nhờ đó trẫm sẽ được lợi ích. Người đàn ông ấy có những hành động ác, đã bị đâm xuyên, đã thọ lãnh hành phạt rồi, đã có hình tướng của người gánh chịu sự thọ hình của vua ban.
67. Ðã hai mươi ngày gánh chịu hậu quả khiến người bị đâm xuyên ấy bây giờ chẳng hoàn toàn sống cũng chẳng hoàn toàn chết. Bây giờ trẫm muốn thả người ấy ra – xin chúng dân hãy cho phép trẫm hành động như trẫm nghĩ là thích hợp. “
68. “Hãy nhanh chóng phóng thích người này và những người khác – ai dám nói lời chống lại bệ hạ khi hành động theo cách ấy? Bệ hạ nên làm điều gì người nghĩ là cần thiết – chúng dân cho phép bệ hạ hành động như bệ hạ thấy là thích hợp.
69. Vị ấy vội vàng đi đến chỗ ấy và phóng thích cho người bị đâm xuyên; ‘Ðừng sợ, này bạn’ Ðức vua nói với tội nhân và sai những vị y sĩ săn sóc cho vị ấy.
70. Rồi đức vua đi đến Kappitaka trong thời gian thích hợp và chia phần cho Trưởng lão cái mà vị ấy có; Khi ngồi xuống ở gần kề, vị Licchavi bèn hỏi vị Trưởng lão ngay tại chỗ ấy, mặt đối mặt, mong mỏi một phương cách nào đó.
71. “Người đàn ông có những ác nghiệp ấy bị đâm xuyên rồi và đã bị trừng phạt rồi và xem ra đã gánh chịu điều này đến hai mươi ngày. Kết quả là người đàn ông bị đâm xuyên ấy phải sống dở chết dở.
72. Nhưng, bạch Ngài, bây giờ con đã đi và phóng thích cho người ấy rồi, vì đây là lời của vị Yakkha ấy. Có thể có cách nào mà nhờ đó vị ấy không đi địa ngục chăng?
73. Bạch Ngài, hãy nói cho con biết xem có điều kiện nào không, vì chúng con muốn lắng nghe một câu nói về những điều kiện mà có thể tin được. Phải chăng không thể có sự tiêu diệt những ác nghiệp ấy, không thể có sự chấm dứt những ác nghiệp ấy ở đây mà không phải bị thọ lãnh chăng?”
74. “Nếu người ấy chuyên tâm đúng mức trong các thiện pháp với sự siêng năng cả ngày lẫn đêm, người ấy vẫn có thể thoát khỏi địa ngục và nghiệp ấy sẽ trở thành nghiệp mà sẽ được thọ lãnh ở một nơi khác.”
75. “Những sự kiện về người đàn ông này đã được biết đến. Bạch Ngài, bây giờ xin hãy rủ lòng lân mẫn đến con. Hãy khuyên con, hãy sách tấn con, hỡi bậc trí tuệ cao cả, bằng cách nào đó để con có thể không đi vào địa ngục.”
76. “Bệ hạ nên qui y Phật trong chính ngày hôm nay, qui y Pháp và Tăng với lòng tịnh tín trong tâm của bệ hạ, dường thế ấy, bệ hạ nên thọ trì ngũ giới, không bị sứt mẻ và trọn vẹn.
77. Và bệ hạ nên tránh xa ngay việc sát sanh và tránh xa cái gì không được cho đến trong đời này; bệ hạ không nên làm người uống những chất say và bệ hạ cũng không nên nói dối, trong khi đó bệ hạ nên vừa lòng với chính vợ của bệ hạ.
78. Và bệ hạ nên thọ trì những thiện nghiệp này dẫn đến hạnh phúc mà thuộc về của bậc Thánh và những thiện nghiệp ấy được làm cho viên mãn bởi tám điều học.
79. Với lòng tịnh tín, bệ hạ nên bố thí đến những bậc chánh trực những y phục và vật thực; những vật dụng và chỗ ngụ, đồ ăn và thức uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ ngụ.
80. Bệ hạ nên làm thoả mãn bằng đồ ăn và thức uống cho các vị Sa-môn có giới đức, không tham ái và đa văn – phước sẽ tiếp tục sanh lên.
81. Khi chuyên tâm đúng mức như vậy trong các thiện pháp, với sự tinh tấn cả ngày lẫn đêm, bệ hạ vẫn có thể thoát khỏi địa ngục và nghiệp ấy trở thành nghiệp sẽ được thọ lãnh ở một nơi khác.”
82. “Chính ngày hôm nay con sẽ qui y Phật, Pháp, Tăng, với lòng tịnh tín trong tâm của con; dường thế ấy con cũng sẽ thọ trì ngũ giới, không sứt mẻ và trọn vẹn.
83. Con sẽ tránh xa ngay sự sát sanh và tránh không lấy cái gì không được cho đến ở trong đời này; Con sẽ không làm người uống những chất say, con cũng sẽ không nói dối, trong khi đó con sẽ vừa lòng với chính vợ của con.
84. Con sẽ thọ trì những thiện pháp dẫn đến hạnh phúc, được thành tựu bởi tám thánh Pháp.
85. Những y phục và vật thực cúng dường, những vật dụng và chỗ ngụ, đồ ăn và thức uống, vật thực cứng, vải vóc và chỗ ngụ con sẽ cho ra, không ngập ngừng và nhiệt tâm với giáo pháp của chư Phật, đến các vị Tỳ kheo có giới đức, đã thoát khỏi tham ái và đa văn học rộng.”
86. Con người như vậy là Licchavi Ambasakkhara – một vị thiện nam ở thành Vesaali có đức tin, là người hiền lành và hữu dụng, và là người mà bây giờ nuôi dưỡng Chư Tăng bằng sự chăm sóc chu đáo.
87. Và người bị đâm xuyên thì trở nên khoẻ mạnh trở lại và vui sướng tự ý đi vào trạng thái không nhà; Do nhờ Kappitaka, là vị Tỳ kheo cao quí nhất, cả hai người kia đều đã chứng đạt các quả do kết quả từ đời sống phạm hạnh của một vị ẩn sĩ.
88. Kết hợp với những bậc Ứng cúng sáng suốt và thánh thiện đem lại quả báu lớn đến nỗi người bị đâm xuyên đạt đến quả báu cao nhất, trong khi Ambasakkhara thì đạt đến quả thánh thấp hơn.”
Chú giải:
41. Ở đây ÐI ÐẾN GIƯỜNG vas’ upaga~ncittha = vaasam upaga~nchi: phối hợp cách trong thể văn phạm hoán chuyển).
42. NHỮNG PHẬN SỰ TRONG NHÀ CỦA VỊ ẤY (gihikiccaani): Những phận sự liên quan đến tài sản trong gia dình và những của cải mà phải được trông coi bởi người đang ngụ ở trong nhà. VỊ ẤY CHỌN RA (viceyya): Vị ấy chọn lựa để lấy ra những y phục tốt nhất.
43. TRỞ VỀ (patikkanta.m): Trở về sau khi đi khất thực. Vì lý do này mà vị ấy nói rằng, ‘Trở về sau khi vị ấy đã đi khất thực.’
44. NÓI (avoca) nói rằng, ‘Bạch Ngài, tôi là một vị Licchavi từ Vesaali đến’, v.v…
46. XÉ RÁCH: Vipaatayanti = Viphaalayanti (thể văn phạm hoán chuyển).
47. LÀM CHO TÉ NGÃ (Paatayanti): Khiến cho ngã xuống.
48. BẰNG MỘT CỌNG CỎ (ti.nena): Ngay cả bằng đầu mút của cọng cỏ cũng không. BỆ HẠ CŨNG KHÔNG CHỈ ÐƯỜNG CHO NHỮNG NGƯỜI ÐI LẠC (muu.lhassa magga.m pi na paavadaasi): Bệ hạ cũng không chỉ đường cho những người mà đã bị lạc nhưng lại nghĩ rằng, ‘cứ để cho người ấy đi lang thang chỗ này chỗ kia.’, Vị vua này quả thật không thể nhờ cậy được. CHÍNH NGÀI THƯỜNG CHỘP LẤY (saya.m aadiyaasi): Chính bệ hạ thường giật lấy chiếc gậy chính từ tay những người mù. BÂY GIỜ BỆ HẠ CHIA PHẦN (sa.mvibhaaga.m karosi): Bây giờ bệ hạ lại chia phần, cho ra một số trong những thứ được dành riêng cho bệ hạ dùng xài.
49. BẠCH NGÀI, TRẪM THỪA NHẬN VỚI LỜI MÀ NGÀI NÓI (pacceni bhante ya.m tva.m vadesi): Trẫm đồng ý với điều mà Ngài nói như là ‘trong chỗ ngụ của bệ hạ những cái bát của họ bị đập vỡ.’ v.v… Vị ấy chỉ ra rằng tất cả những điều ấy được làm hay khiến cho được làm bởi vị ấy. TUY VẬY NGAY CẢ ÐIỀU NÀY (eta.m pi): tuy vậy ngay cả điều này được làm, ám chỉ rằng để vui chơi mà thôi.
50. TRONG CUỘC CHƠI: Khi.d.daa = Khi.d.daaya (thể văn phạm hoán chuyển). SAU KHI ÐÃ ÐEO ÐUỔI (pasavitvaa): Sau khi đã tích lũy. THỌ LÃNH (vedeti): lãnh chịu. SỰ THỌ HƯỞNG CỦA VỊ ẤY KHÔNG HOÀN TOÀN (asamattabhogii): Sự thọ hưởng của vị ấy không có sự thành tựu viên mãn; để cho thấy sự bất toàn trong sự thọ hưởng của vị ấy, ‘Vị ấy có trạng thái trẻ trung’ v.v… Ðược nói đến. TÁNH CHẤT TRẦN TRUỒNG CỦA CHÍNH VỊ ẤY (nagganiyassa): Trạng thái trần truồng của vị ấy. bây giờ có điều gì đau khổ dành cho vị ấy nhiều hơn thế? (kim su tato dukkhatar’ assa hoti): Bây giờ quả thật vậy, điều gì có thể làm cho vị Peta ấy đau khổ nhiều hơn trạng thái trần truồng ấy.
51. CẦU XIN CHO PHƯỚC THÍ NÀY THẤU ÐẾN VỊ Yakkha ấy (Yakkhass’i.m’aagacchantu dakkhi.naayo): Cầu xin cho phước thí về những y phục này đây mà tôi đang bố thí đem lại lợi ích cho Peta ấy.
52. ÐƯỢC TÁN DƯƠNG BẰNG NHIỀU CÁCH (bahudhaa pasa.t.tha.m): được khen ngợi bằng nhiều cách bởi chư Phật v.v… CẦU XIN CHO ÐIỀU NÀY CÓ TÁNH CHẤT KHÔNG CẠN KIỆT (akkhaya dhamma.m atthu): Xin cho điều này có bản tánh không bị hoại diệt.
53. LÀM LỄ SÁM HỐI (aacamayitvaa): Súc miệng, sau khi đã rửa tay chân trước rồi.
54. XỨC DẦU BẰNG GỖ TRẦM HẢO HẠNG (candanasaaralitta.m): Xức bằng chất của gỗ trầm. CÓ NƯỚC DA TUYỆT ÐẸP (U.laarava.n.na.m): Có sắc tướng thù thắng. ÐƯỢC VÂY QUANH (parivaarita.m): Ðược vây quanh bởi những tuỳ tùng có tác phong khả ái. ÐÃ ÐẠT ÐẾN THẦN THÔNG LỰC QUẢNG ÐẠI CỦA MỘT VỊ YAKKHA (Yakkhamahiddhipatta.m): đang đứng sau khi đã đạt được thần thông lực quảng đại của một vị Yakkha, là thần thông lực quảng đại của một vị Deva.
56. Nói điều này với vị ấy: tamenamavoca = ta.m ema.m avoca (phối hợp cách.)
57. BỆ HẠ ÐÃ CHO NHỮNG VẬT THÍ CỤC BỘ (ekadesa.m adaasi): Vị ấy nói liên quan đến vật thí về y phục, là một trong bốn món vật dụng. NHÂN CHỨNG (sakkhi.m): Có tánh chất của một nhân chứng.
58. LÀ VỊ DEVATÀ CỦA TÔI (devataa me): Ngài là vị devataa của trẫm – đây là cách nên được hiểu.
59. CÓ TÂM LẦM LỖI (vippa.tipannacitto): có tâm xu hướng theo những tà kiến, nghĩa là đi theo con đường sái quấy sau khi từ bỏ con đường chân chánh.
61. CHIA CHO (sa.mvibhajitvaa): Chia phần làm vật thí. NGỒI GẦN KỀ VÀ HỎI VỊ ẤY MẶT GIÁP MẶT (saya.m mukhena upanisajja puccha): Không cử những người khác đi giùm, ngồi ở gần và chỉ hỏi vị ấy ở trước mặt.
65. NGỒI VỚI NHAU (sannisiuna.m): Ngồi sau khi đi đến với nhau.
66. TÔI SẼ LÃNH ÐƯỢC LỢI ÍCH (Labhissaami attha.m): Tôi sẽ lãnh được lợi ích mà tôi muốn. ÐÃ SAI ÁP DỤNG HÌNH PHẠT RỒI (pai”nhitada.n.do): Ðã sai đem đến hình phạt về thân. ÐÃ CÓ HÌNH THỨC CỦA NGƯỜI MÀ ÐÃ GÁNH CHỊU (anupattaruupo): đã ở trong trạng thái của người mà đã gánh chịu án truyền của đức vua.
67. CÓ ÐẾN HAI MƯƠI NGÀY (Viisatirattimattaa): nghĩa là đã có đến hai mươi ngày trôi qua rồi. TÔI… VỊ ẤY: taaha.m = ta.m aha.m (phối hợp cách). NHƯ TRẪM NGH~N LÀ THÍCH HỢP (Yathaa mati.m): Ðúng như nó làm cho trẫm hoan hỉ.
68. NGƯỜI NÀY VÀ NHỮNG NGƯỜI KHÁC (eta~n ca a~n~na.m ca): Người đàn ông bị đâm xuyên này và những người khác mà đối với họ hình phạt của đức vua đã được áp dụng. HÃY TRẢ TỰ DO NHANH (lahu”m pamu~nca): Hãy phóng thích ngay thức thì. AI SẼ NÓI LỜI CHỐNG LẠI BỆ HẠ? (ko ta.m vadetha): Ai trong vương quốc Bạt kỳ này có thể nói rằng, ‘đừng trả tự do cho hắn,’ đối với người đang hành động theo đúng cách như thế, nghĩa là không ai được phép nói như thế này.
69. VÀ ÐÃ SAI NHỮNG Y S~N CỦA VỊ ẤY: tikicchakaana~n ca = tikicchake ca (thể văn phạm hoán chuyển).
72. ÐÂY LÀ LỜI CỦA VỊ YAKKHA ẤY (yakkhassa vaco): Ðây là điều mà vị Peta ấy đã phải nói ra. Ðức vua chỉ cho thấy rằng ‘Tôi hành động như vậy, theo đúng với điều mà vị Peta ấy đã phải nói ra, thưa Ngài.’
74. NHỮNG THIỆN PHÁP (dhammaani): Những pháp tạo phước có thể thắng phục những ác nghiệp đã được làm trước kia. NGHIỆP ẤY TRỞ THÀNH NGHIỆP SẼ CHO QUẢ Ở MỘT NƠI KHÁC (Kamma.m siyaa a~n~natra vedaniiya.m): Ác nghiệp mà sẽ được thọ lãnh bằng một cách khác nào đó trở thành nghiệp mà quả của nó sẽ được thọ lãnh ở một nơi khác, bằng một cách khác nào đó, nghĩa là chỉ khi nào Sa.msaara tiếp tục trôi lăn đối với người ấy.
78. VÀ… NHỮNG ÐIỀU NÀY (ima~n ca): Ðiều này được nói đến liên quan đến điều ở gần hay ở trong tầm thấy do vì nó được nói bởi chính vị ấy. MÀ THUỘC VỀ TRÍ TUỆ CỦA BẬC THÁNH VÀ ÐƯỢC THÀNH TỰU BỞI TÁM PHÁP (ariya.m a.t.ttha”ngavaren’upeta.m): Những điều học của Uposatha cao tột mà đã được thành tựu, được chuyên tâm vào, do bởi Bát Giới gồm có sự tránh xa sát sanh v.v… Và thuộc về Bậc Thánh trong ý nghĩa rằng chúng thanh tịnh. NHỮNG THIỆN NGHIỆP (Kusala.m): Những nghiệp vô tội. DẪN ÐẾN HẠNH PHÚC (sukhundriya.m): Cho kết quả hạnh phúc.
80. PHƯỚC TIẾP TỤC TĂNG TRƯỞNG (sadaa pu~n~na.m pava.d.dhati): Khi người đã làm một việc phước chỉ trong một lần, người ấy sẽ không được thoả mãn hoàn toàn khi nghĩ rằng, ‘Nó đủ tới chừng mức ấy’, và trong khi người đang thực hành viên mãn thiện hạnh lập đi lập lại thì phước của người đang gia tăng luôn khi. Nói cách khác, ý nghĩa là trong khi người đang thực hành viên mãn thiện hạnh nhiều lần lập đi lập lại, thì những quả phước của người, cái được gọi là phước, mọc lên, được thêm vào phước này nối tiếp phước khác.
Khi Trưởng lão nói như vậy rồi thì đức vua sanh tâm ghê sợ đau khổ trong nghững khổ cảnh và với lòng tịnh tín đang gia tăng trong Tam bảo và trong những việc phước, vị ấy nói rằng, ‘chính ngày hôm nay trẫm sẽ qui y noi đức Phật v.v…’ Từ đó trởi đi thọ trì Tam qui và ngũ giới.
86. Ở đây MỘT NGƯỜI NHƯ VẬY (etaadiso): Như loại người đã được nói ở trên. MỘT VỊ THIỆN NAM Ở TRONG THÀNH VESAALI (vesaaliya.m a~n~nataro upaasako): Vị ấy trở thành một thiện nam trong vô số ngàn người trong thành Vesaali . LÀ NGƯỜI CÓ ÐỨC TIN (saddho): v.v… Ðiều này được nói đến để chỉ sự khác biệt với bản tánh trước kia của vị ấy, trong đó vị ấy bây giờ đang ngồi chung với bạn lành v.v… Vì trước kia vị ấy không có niềm tin, thô lỗ và lăng mạ các vị Tỳ kheo và không hộ độ Chư Tăng; trong khi đó, bây giờ vị ấy có niềm tin và hiền lành, và bây giờ thì nuôi dưỡng chúng Tỷ kheo với sự chăm sóc chu đáo. Liên quan đến điều này, HỮU ÍCH (Kaarakaro): Người mà đem lại sự giúp đỡ.
87. CẢ HAI (Ubho pi): Hai người, người bị đâm xuyên và đức vua ÐÃ ÐẠT ÐẾN CÁC QUẢ LÀ HẬU QUẢ CỦA ÐỜI SỐNG CỦA MỘT ẨN SĨ (saama~n~naphalaani ajjhagu.m): Ðạt đến các quả là kết quả của đời sống của một vị Sa môn theo đúng với sự xứng đáng của chúng; để cho thấy điều này theo đúng với sự xứng đáng của họ là ÀNgười bị đâm xuyên đã đạt đến kết quả cao tột trong khi Ambasakkhara thì đạt đến quả thấp hơn, được nói đến.
88. Ở đây QUẢ THẤP HƠN (phala.m kani.t.tha.m): Vị ấy nói lên liên quan đến quả thánh Tu đà hườn.
Ðiều mà ở đây không được phân tích về ý nghĩa bởi vì quá rõ ràng rồi.
Ðại Ðức Mahaakappitaka đi đến Saavatthi, đảnh lễ Bậc Ðạo sư và nêu vấn đề với Ðức Thế Tôn về điều đã được nói như vậy giữa đức vua, vị Peta và chính Trưởng lão, Bậc Ðạo sư lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết Pháp cho hội chúng đã tụ họp ở đó. Thời Pháp ấy đem lại lợi ích cho hội chúng ấy.
-ooOoo-
IV.2 QUỶ SỰ SERISSAKA
(SERISSAKA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
‘Hãy lắng nghe ở chỗ mà cuộc gặp gỡ giữa vị Yakkha và các tiên nhân.’ Ðây là Quỉ sự Serissaka.
Bởi vì không có sự khác biệt giữa câu chuyện này và thiên cung sự Serissaka, nên điều gì sẽ được nói đến ở đây về nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và những câu kệ cũng giống như đã được nêu ra trong phần trình bày về những câu chuyện thiên cung trong phần giải thích này về ý nghĩa bên trong. Do vậy nó cũng nên được hiểu đúng như đã được nêu ra ở trong đó.
-ooOoo-
[4.2]
IV.3 NAN ÐÀ QUỈ SỰ
(NANDAKA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Vị vua tên là Pi”ngalaka “. Ðây là Quỉ sự Nandaka . Câu chuyện bắt nguồn như thế nào?
Sau một thời gian hai trăm năm từ khi Bậc Ðạo sư nhập Niết-bàn, ở trong vương quốc sura.t.tha, có một vị vua tên là Pi”ngala . Tướng quân của vị ấy tên là Nandaka, có tà kiến và quan điểm đồi bại, và thường đi quanh công bố quan niệm sai lạc rằng, ‘Không có điều gì là bố thí cả…’ v.v… Ðứa con gái của ông ta tên là Uttaraa, là một tín nữ và đã được gả cho một gia đình thích hợp. Bấy giờ khi Nandaka chết, ông ta tái sanh làm một vị Vimaanapeta trong một cây đa to trong khu rừng Vi~njha . Vào lúc ông ta chết, Uttaraa cúng dường đến một vị Trưởng lão đã đoạn trừ các lậu hoặc một đĩa đựng đầy bánh, có hương vị thơm ngon, được làm bằng sữa đông, và một bình nước được đổ đầy nước sạch, mát và thơm và hồi hướng chúng khi nói rằng, “Xin cho phước thí này đem lại lợi ích cho cha của tôi.” Do nhờ phước thí ấy, có hiện ra cho ông ta nước của Chư thiên và vô số bánh. Khi ông ta trông thấy những thứ này, ông ta suy nghĩ rằng, “chắc chắn ta đã làm một ác nghiệp trong việc khiến cho mọi người chấp theo quan kiến sai lầm rằng “Không có cái gì là bố thí cả..” v.v… Tuy nhiên, bây giờ vua Pi”ngalaka đã đi và khuyên vua Dhammaasoka và sẽ trở về khi vị ấy đã cho lời khuyên này đến vị Vua kia. thôi được, tốt hơn ta nên đoạn trừ tà kiến ấy đi .
Chẳng bao lâu sau, khi vua Pi”ngalaka đang đi dọc theo con đường, trở về sau khi đã cho lời khuyên đến vua Dhammaasoka, vị Peta khiến cho con đường dẫn đến chỗ ngụ của vị ấy. Ðức vua đi dọc theo con đường ấy trong khoảng thời gian giữa trưa. Khi vị ấy đi dọc theo con đường thì đằng trước của vị ấy có thể được trông thấy, nhưng ở đằng sau của vị ấy thì biến mất. Khi người đàn ông mà ở sau cùng hết trông thấy con đường mà đã biến mất thì ông ta hoảng sợ và, khi kêu lên trong đau khổ, chạy đến báo tin cho đức vua. Khi nghe qua điều này thì đức vua, hoảng sợ và tâm bị giao động, đứng ở trên lưng con voi của vị ấy dò xét ở bốn hướng. Khi vị ấy trông thấy chỗ ngụ là cây đa của vị Peta, vị ấy đi đến đó, được tháp tùng bởi bốn đội binh . Khi đã đến lúc đức vua đi đến chỗ ấy thì vị Peta, ăn mặc rực rỡ, đi đến đức vua và nói lời chào hỏi thân mật với vị ấy, sai đem nước và bánh đến mời vị ấy. Ðức vua và những quân hầu tắm, ăn bánh và uống nước, và khi cơn mệt của vị ấy do đi đường xa đã lắng dịu, đức vua hỏi vị Peta rằng, “Ngài có phải là một Devataa, một Gandhabba không?” v.v…
Khi vị Peta đã nói cho đức vua nghe câu chuyện của mình ngay từ đầu và đã đoạn trừ tà kiến cho đức vua, bèn an trú cho đức vua trong tam qui và ngũ giới. Ðể chứng minh điều này những vị kiết tập Tam Tạng đã nói lên những câu kệ này:
1. Ðức vua tên là Pi”ngalaka, là người cai trị của dân tộc sura.t.tha, đang trở về lại Sura.t.tha sau khi đã đi hầu những vị Moriya.
2. Vào lúc ban trưa nóng cháy, đức vua đến ở một bãi lầy và trông thấy một con đường khả ái, là con đường cát của vị Peta ấy.
3. Ðức vua nói với người đánh xe ngựa rằng, “con đường này thật là khả ái, an lành, an toàn và báo điềm tốt. – Này xa phu, chúng ta hãy đi dọc theo con đường này từ đây đến vùng lân cận của nước Suta.t.tha .”
4. Vị Sura.t.tha khởi sự đi cùng với bốn đội binh của vị ấy: Một người đàn ông mà xem ra bối rối nói điều này với Sura.t.tha.
5. “Chúng ta đã đi sai con đường, là con đường đáng sợ và làm tóc dựng đứng – ở đằng trước con đường có thể được trông thấy, nhưng ở đằng sau nó không được trông thấy.
6. Chúng ta đã đi sai con đường để vào cộng trú với những người của Yama; mùi hôi thối của phi nhân thổi ra và những tiếng kêu than hãi hùng sẽ được nghe”.
7. Vua Sura.t.tha, bị giao động, nói điều này với người đánh xe “chúng ta đã đi sai vào con đường đáng sợ và làm dựng tóc – ở đằng trước con đường có thể được trông thấy, nhưng ở đằng sau thì không được trông thấy.
8. Chúng ta đã đi sai con đường dẫn đến cộng trú với thần dân của Yama; mùi hôi thối của phi nhân thổi ra và những tiếng kêu rùng rợn sẽ được nghe”.
9. Vị ấy trèo lên trên lưng voi và, khi quan sát ở bốn hướng, trông thấy một cây đa, “Kẻ uống nước từ cái chân”, có đầy bóng mát, về hình thể thì giống như một đám mây đen, giống như sự hùng vĩ của một trận mưa giông.
10. Ðức vua nói với người đánh xe của vị ấy rằng, “Cái vật đồ sộ mà được trông thấy là cái gì, nó giống như một đám mây đen, giống như vẻ hùng vĩ của một trận mưa giông.”
11. “Tâu Ðại vương, đó là một cây đa, là kẻ uống nước từ cẳng chân, là cây có đầy bóng mát, giống như sự hùng vĩ của một trận mưa giông”.
12. Sora.t.tha lên đường đi về hướng mà cái vật được trông thấy, giống như một đám mây đen, giống như sự hùng vĩ của một trận mưa giông.
13. Ðức vua xuống khỏi lưng voi và đi đến cây ấy, rồi ngồi xuống ở gốc cây cùng với vị Tư tế quan và những tuỳ tùng của vị ấy, và trông thấy một lu nước đầy và một số bánh thơm ngon.
14. Người đàn ông có tướng mạo của một vị Chư thiên, khắp thân hình có trang sức, và trang phục lộng lẫy, đi đến và nói điều này với vua Sora.t.tha,
15. “Tâu Ðại vương, ngài cứ tự nhiên, ngài thật sự không phải đi đến chỗ xấu; Hãy uống nước, tâu đức vua, hãy ăn những cái bánh, hỡi bậc chiến thắng kẻ thù”.
16. Ðức vua cùng với những vị Tư tế quan và những tuỳ tùng của vị ấy uống nước và ăn những cái bánh; Sau khi uống nước, Sora.t.tha nói điều này,
17. “Ngài là một Devataa, một Gandabba hay là Sakkapuri.n.dada? Vì không nhận ra ngài nên chúng tôi hỏi ngài “làm sao chúng tôi có thể nhận ra ngài?”
18. “Tôi không phải là Deva, hay Gandhabba hay ngay cả Sakka Puri.n.dada, tâu đại vương, tôi là một Peta đã đến đây từ Sura.t.tha .”
20. “Ngài đã có hạnh kiểm gì, hạnh nghiệp gì, trước kia khi còn ở Sura.t.tha – Do bởi phạm hạnh nào khiến oai lực này của ngài hiện ra?”
21. “Tâu Ðại vương, tôi là người của Sura.t.tha, và là một người có tâm ác, có tà kiến và cư xử xấu xa, bỏn sẻn và hay mắng nhiếc.
22. “Tôi có thói quen ngăn cản nhiều người mà đang bố thí và đang thực hành các thiện sự; trong khi những người khác đang bố thí thì tôi hành động như một vật chướng ngại.
23. Khi nói rằng, “Không có kết quả từ sự bố thí; Từ đâu có quả của sự tự chế? Quả thật không có Ðạo sư, như vậy ai sẽ điều phục những người chưa được điều phục?
24. Tất cả chúng sanh đều giống như nhau – thế thì tại sao cúng dường những bậc trưởng thượng? Không có năng lực hay sự tinh tấn; vậy sự tinh tấn của người có lợi ích gì?
25. Quả thật không có kết quả từ sự bố thí – Người mang hận thì không thể được tẩy sạch; Kẻ phàm phu nhận lãnh cái gì phải lãnh của người ấy qua sự thăng trầm của số phận.
26. Không có mẹ, cha hay anh em; Không có thế giới bên kia. Không có cái gì được cho ra, không có sự cúng dường hi sinh – Không có sự để dành được biết đến.
27. Nếu người đi giết chết một người hay cắt đầu một người khác, thì đó không phải là người giết người – cây kiếm chỉ đi vào bên trong giữa bảy nguyên chất đó thôi.
28. Cái gọi là linh hồn thì không thể hoại diệt hay chia chẻ được; nó có hình tám cạnh, hay hình cầu như trái banh, và cao năm trăm do tuần – Như vậy ai có thể tiêu diệt linh hồn được.
29. Cũng như cuộn chỉ khi được quăng đi thì chạy tiếp và tự nó nhả chỉ ra, cũng vậy trong cùng cách ấy linh hồn tiếp tục chạy, tự nó trải ra.
30. Cũng như người rời bỏ một ngôi làng và đi vào một ngôi làng khác, dường thế ấy, linh hồn cũng đi vào một thân khác.
31. Cũng như người rời bỏ một ngôi nhà và đi vào một ngôi nhà khác, dường thế ấy, linh hồn cũng đi vào một thân khác.
32. Trong tám mươi bốn ngàn Ðại kiếp, những người ngu và những kẻ trí đều phải bị trôi lăn trong vòng luân hồi trước khi họ chấm dứt đau khổ.
33. Hạnh phúc và đau khổ đều được đong lường bằng cái thùng Dona và cái thúng; Ðấng trị vì biết rõ tất cả, trong khi những người dân khác thì lúng túng.
34. Trong quá khứ, tôi đã có tri kiến như vậy; Tôi lúng túng và bị che phủ bởi vô minh, đầy những tà kiến và đã cư xử tệ bạc, bỏn sẻn và hay chê bai.
35. Cái chết của tôi sẽ đến trong sáu tháng nữa,và tôi sẽ rơi xuống địa ngục kinh khủng dữ dội.
36. Có bốn góc và bốn cổng, nó được chia thành những phần bằng nhau, được bao quanh bởi một bức tường sắt với mái bằng sắt ở bên trên.
37. Cái nền nóng sáng của nó được làm bằng sắt chảy đỏ; Nó trải rộng khắp quanh một trăm do tuần, đứng mãi mãi như thế.
38. Sau một trăm ngàn năm, có một âm thanh sẽ được nghe – Ðây là Lakkha, tâu Ðại vương, sau năm thứ một trăm của một Ko.ti (10.000.000) năm.
39. Trong một trăm ngàn Ko.ti, người mà có những tà kiến, là những người sống ác và là những người hay phỉ báng những bậc Thánh, bị nấu sôi trong địa ngục.
40. Ở đó trong một thời gian dài, tôi sẽ thọ lãnh những cảm thọ đau đớn, là những ác nghiệp của tôi – Vì lý do này tôi vô cùng sầu khổ.
41. Hãy lắng nghe điều này, tâu Ðại vương, hỡi đấng chinh phục những kẻ thù và đấng mở rộng bờ cõi, xin chúc lành đến Ðại vương. Tôi có một đứa con gái tên Uttaraa, tâu Ðại vương,
42. Là người làm những thiện nghiệp và là người tha thiết với ngũ giới và Bát Quan Trai giới, có tự chế, bàn tay mở rộng, nhã nhặn và không bỏn sẻn.
43. Nàng là người thọ trì ngũ giới không bị sức mẻ và là một nàng dâu đối với những người trong một gia đình khác. Nàng là một tín nữ của bậc hiền trí Sakya, của đức Phật, Ðức Thế Tôn.
44. Một vị Sa-môn có giới đức, có đôi mắt nhìn xuống, có chánh niệm, các căn của vị ấy được hộ phòng, khéo kiểm soát, đi vào làng để khất thực theo từng nhà và đã đến chỗ ngụ của nàng.
45. Xin chúc lành đến Bệ hạ, tâu đại vương. Khi Uttaraa trông thấy vị ấy, nàng đã cúng dường đến vị ấy một bình nước và một số bánh ngon khi nói rằng, “Cha của con đã chết, bạch Ngài, xin cho phước thí này đem lại lợi ích cho vị ấy.”
46. Ngay khi nàng hồi hướng phước thí này thì kết quả hiện ra – Tôi hưởng thụ bất cứ dục lạc nào mà tôi thích giống như vua Vessavana .
47. Hãy nghe đây, tâu Ðại vương, hỡi bậc chiến thắng kẻ thù và kẻ mở rộng lãnh thổ. Hỡi bậc chiến thắng kẻ thù, bệ hạ và gia đình của bệ hạ hãy qui y Phật, Ðức Phật là bậc được công bố trong thế gian này cùng với chư Thiên của nó là vô thượng.
48. Hỡi đấng chiến thắng những kẻ thù, bệ hạ và gia đình của bệ hạ nên qui y Pháp, là Bát chánh đạo mà nhờ đó người ta đạt đến trạng thái bất tử.
49. Hỡi Ðấng chiến thắng những kẻ thù, Bệ hạ và gia đình của bệ hạ nên qui y Tăng, có bốn bậc, là những người đã đi vào các đạo và bốn bậc là những người đứng trong các quả, đây là Tăng gồm những Bậc chánh trực, là những bậc đã an trú trong giới đức và tuệ quán.
50. Bệ hạ nên từ bỏ ngay sự sát sanh và hãy tránh xa trong đời này cái gì không được cho đến; Bệ hạ không nên làm người uống những chất say, bệ hạ cũng không nên nói dối, trong khi đó bệ hạ nên vừa lòng với chính vợ của bệ hạ”.
51. “Hỡi Yakkha, ngài muốn cho tôi được tốt đẹp, ngài muốn cho tôi được lợi ích, Hỡi Devataa ; Tôi sẽ làm điều gì mà ngài nói – ngài là thầy của tôi.
52. Tôi sẽ qui y đức Phật, Ðức Pháp, và tôi cũng sẽ qui y Tăng, vô thượng đối với Chư thiên và nhân loại.
53. Tôi sẽ tránh xa ngay sự sát sanh và tránh xa trong đời này cái gì không được cho; Tôi sẽ không làm người uống chất say, tôi cũng sẽ không nói dối và tôi sẽ vừa lòng với chính vợ của tôi.
54. Tôi sẽ rủ bỏ như bỏ vào một cơn gió mạnh hay trong một dòng nước đang chảy nhanh, tôi sẽ từ bỏ ác kiến ấy, sẽ nhiệt tâm với giáo Pháp của chư Phật”.
55. Khi Sora.t.tha đã nói điều này, vị ấy từ bỏ ác kiến của mình, tỏ sự tôn kính đến Ðức Thế Tôn, và rồi bước lên chiếc long xa xoay mặt về hướng đông.”
Chú giải:
1. Ở đây VỊ VUA CÓ TÊN LÀ PI”NGALAKA, LÀ NGƯỜI TRỊ VÌ CỦA DÂN TỘC SURA.T.THA (raajaa pi”ngalako naama sura.t.thaana.m adhipati ahu): Ðức vua là chúa của vùng Sura.t.tha, được biết chung chung bởi cái tên là Si.ngala do bởi màu đỏ (Pi”ngala) Nơi hai con mắt của vị ấy. CÁC VỊ MORIYA (moriyaana.m): Ở các vị vua Moraya; Nó được nói đến liên quan đến Dhammasoka. ÐANG TRỞ LẠI SURA.T.THA (sura.t.tha.m pwnar aagamaa): Vị ấy đang trở về trên con đường dẫn đến Sura.t.tha, về hướng của xứ sở Sura.t.tha .
2. MỘT VŨNG SÌNH (Pu”nka.m): Chỗ đất mềm. CON ÐƯỜNG CÁT (va.n.nupatha.m): Con đường mà vị Peta tạo ra ở trên chỗ đất mềm ấy.
3. AN LÀNH (khemo): Không nguy hiểm. AN TOÀN (sovatthiko): đem lại một trạng thái an toàn. CÓ ÐIỀM TỐT (sivo): không rủi ro. TỪ ÐÂY ÐẾN VÙNG LÂN CẬN CỦA NHỮNG NGƯỜI SURA.T.THA (sura.t.thaana.m santike ito): Ði theo con này, chúng ta sẽ đến rất gần với xứ sở Sura.t.tha .
4. VỊ SORA.T.THA (sora.t.tho): Người trị vì của xứ Sura.t.tha . LÀ NGƯỜI MÀ XEM RA BỐI RỐI (ubbiggaruupo): là người ở trong trạng thái hoảng sợ.
5. ÐÁNG SỢ (bhi.msana.m) Khiến cho sợ hãi. LÀM DỰNG TÓC (lomaha.msana.m): Khiến cho tóc dựng đứng lên do bởi tánh chất đáng sợ của nó.
6. CỌNG TRÚ VỚI NHỮNG NGƯỜI CỦA YAMA (yamapurisaana.m santike): Chúng ta đang đi giữa những vị Peta. MỘT MÙI HÔI CỦA PHI NHÂN THỔI RA (Aamaanuso vaayati gandho): mùi hôi nơi thân của những vị Peta thổi ra. MỘT TIẾNG KÊU LA GHÊ SỢ SẼ ÐƯỢC NGHE (ghoso suuyati daaru.no): Một âm thanh kinh sợ nhiều hơn sẽ được nghe từ những kẻ mà đang bị hành hạ trong những địa ngục khác nhau.
9. KẺ UỐNG NƯỚC BẰNG CÁI CHÂN (paadapa.m): Cây này có tên là kẻ uống nước bằng cái chân do vì nó uống nước bằng những sợi trong những cái rễ giống như những cái chân. CÓ ÐẦY BÓNG MÁT: chaayasampanna.m = sampanna.m chaaya.m: (phối hợp cách). VỀ HÌNH TƯỚNG GIỐNG NHƯ MỘT ÐÁM MÂY ÐEN (meghava.n.nasirii nibha.m): Xem ra đã mang hình tướng và màu sắc của một đám mây.
13. MỘT LU NƯỚC ÐẦY (Puura.m paaniyakaraka.m): Một bình nước đã được châm đầy . MỘT SỐ BÁNH (pùve): một số vật thực cứng. ngon (citte): Vị ấy trông thấy một số bánh khả ái, ngọt và đáng ưa thích được bày ra, và đang làm đầy những cái đĩa mà có ở khắp nơi.
15. NGÀI QUẢ THẬT CHẲNG XA LẠ (atho te aduraagata.m): ‘thực sự’ (atho) ở đây là một bất biến từ hay được dùng để nhấn mạnh. Chúng tôi thừa nhận rằng, tâu đại vương, Ngài không phải xa lạ, hơn nữa ngài hoàn toàn được tiếp đón – đây là ý nghĩa. HỠI ÐẤNG CHIẾN THẮNG KẺ THÙ (arindama): Ngài là người có bản tánh nhiếp phục những kẻ thù của Ngài.
20. NHỮNG VỊ QUAN CỐ VẤN VÀ NHỮNG TUỲ TÙNG CỦA BỆ HẠ (amaccaa paarisajjaa): xin các vị quan cố vấn và những tuỳ tùng của bệ hạ hãy lắng nghe điều mà tôi phải nói ra, và xin vị Bà la môn của bệ hạ, là vị tư tế quan ấy, cũng hãy nghe điều ấy – Ðây là cách nên được hiểu.
21. TÔI LÀ NGƯỜI CỦA XỨ SURA.T.THA (sura.t.tha.mhaa aha.m): Tôi là người của vùng Sura.t.tha . TÂU BỆ HẠ (deva): vị ấy đang xưng hô với đức vua. CÓ NHỮNG TÀ KIẾN (micchaadi.t.thii): quan điểm của vị ấy bị làm hư hỏng bởi tà kiến Natthika. ÁC GIỚI (dussiilo): Không có đạo đức. BỎN SẺN (kadariyo): Vô cùng bần tiện. HAY CHỬI MẮNG (paribhaasako): Lăng mạ các vị Sa-môn và Bà-la-môn.
22. TÔI CÓ THÓI QUEN NGĂN CẢN: vaarayissa.m=vaaremi (thể văn phạm hoán chuyển). TÔI HÀNH ÐỘNG NHƯ MỘT VẬT CHƯỚNG NGẠI (antaraayakaro aha.m): Tôi hành động như một vật chướng ngại đối với những người mà đang cho ra vật thí và đang làm những công việc giúp ích, và trong khi những người khác đang cho ra những vật thí dành cho kẻ khác thì tôi có thói quen ngăn cản nhiều người đang làm những việc phước ấy mà bao gồm sự bố thí – đây là cách nên được hiểu. “Không có kết quả từ sự bố thí v.v…” là sự định rõ hình thức về sự cản trở của vị ấy.
23. Ở đây KHÔNG CÓ KẾT QUẢ TỪ SỰ BỐ THÍ (vipaako n’atthi daanassa): vị ấy phủ nhận mọi kết quả khi kết luận rằng, “Không có kết quả dành cho người do bởi việc cho ra những vật thí ấy, không có kết quả có thể dành được trong tương lai. KẾT QUẢ CỦA SỰ TỰ CHẾ TỪ ÐÂU ÐẾN (sa.myamassa kuto phala.m): Bây giờ quả thật không có người được gọi là đạo sư đang truyền những điều học về hạnh kiểm và hạnh nghiệp, vì chúng sanh đã điều phục hay chưa điều phục tuỳ theo bản tánh riêng của họ – đây là ý nghĩa.
Vì lý do này khiến vị ấy nói rằng, “Vậy ai sẽ điều phục kẻ chưa được điều phục?”.
24. TẤT CẢ CHÚNG SANH ÐỀU NHƯ NHAU (samatulyaani bhuutaani): những chúng sanh này đều hoàn toàn ngang bằng nhau. Do đó, không có người nào là cao cả, thế thì tại sao tôn kính những người cao thượng của mình? quả thật không có phước từ sự tôn kính những người cao cả – đây là ý nghĩa. KHÔNG CÓ SỨC MẠNH (n’atthi bala.m): vị ấy phủ nhận sự cố gắng về khả năng của những chúng sanh mà, nhờ vào khả năng của chính họ, tạo ra sự cố gắng và đem lại điều gì đó từ sự thịnh vượng thuộc về thế gian v.v… Ðến sự chứng đạt pháp tối ưu của đạo quả A-la-hán. Không có khả năng hay sự cố gắng. NHƯ VẬY SỰ NỖ LỰC CỦA MỘT NGƯỜI CÓ LỢI ÍCH GÌ? (kuto u.t.thaana posirsa.m): Nó không đem lại kết quả do sự cố gắng của con người, điều này được nói đến như vậy để phủ nhận học thuyết về nhân quả.
25. Quả thật không có kết quả của sự bố thí, nghĩa là cho đi những lễ vật cúng dường thì không có kết quả tựa như người đã ném chúng vào trong đống tro tàn. người mang sự thù nghịch không thể tẩy sạch được (na visodheti verina.m): ở đây NGƯỜI MANG SỰ THÙ NGHỊCH: Verina.m = veravanta.m (thể văn phạm hoán chuyển); Người mà đã tạo ra ác nghiệp do sự thù oán bằng cách giết chết những chúng sanh v.v… Không thể tẩy sạch được, không bao giờ được làm cho trong sạch, bằng những sự thọ trì như bố thí và trì giới v.v… “Không có kết quả từ sự bố thí” v.v… Nên được xem là sự định rõ cách mà trong đó vị ấy ngăn cản những người khác trong việc cho ra những vật thí v.v…, trong khi đó, “quả thật không có kết quả từ sự bố thí” v.v… Là sự định rõ về sự đeo níu vào những tà kiến của vị ấy. cái gì là của người ấy để cho có được: Laddheyya.m = laddhabba.m (thể văn phạm hoán chuyển): Nhưng làm sao người ấy kiếm được cái gì phải kiếm được của người ấy? Vị ấy nói rằng, QUA NHỮNG SỰ THĂNG TRẦM CỦA SỐ PHẬN (Niyati pari.naamaja.m) chúng sanh mà được hạnh phúc hay đau khổ, được điều này chỉ qua sự thay đổi trong số phận của người ấy mà thôi, chứ không phải do người ấy đã làm một nghiệp nào đó cũng không phải do đấng thần linh tối cao v.v… đây là ý nghĩa.
26. KHÔNG CÓ MẸ HAY CHA HAY ANH EM (na’atthi maataa pitaa bhaataa): Vị ấy nói liên quan đến sự vắng mặt của quả từ chánh hạnh hay ác hạnh đối với người mẹ v.v.. KHÔNG CÓ THẾ GIỚI BÊN KIA (loko n’atthi ito para.m): Quả thật không có điều gì là thế giới bên kia cả, bên kia của thế giới này đây. Chúng sanh phải bị tiêu diệt ngay ta.n đó – đây là ý nghĩa. ÐƯỢC BỐ THÍ (dinna.m): Một sự bố thí vật thực lớn. SỰ CÚNG DƯỜNG vật thí (huta.m): Sự cúng tế bằng vật thí, bằng đồ ăn; vị ấy phủ nhận cả hai khi nói rằng, “không có” liên quan đến sự vắng mặt kết quả của chúng, ‘được khéo để dành: Sunihita.m = su.d.thu nihita.m (phối hợp cách). KHÔNG CÓ GÌ ÐƯỢC BIẾT ÐẾN (na vijjati): Những vật thí ấy dành cho các vị Sa-môn và Bà-la-môn mà người ta gọi là “Cái mà sẽ đi theo người như là một chỗ đứng trong thế giới bên kia’ thì không được biết đến” Nó chỉ là hình thái tu từ của ngôn ngữ đó thôi – đây là ý nghĩa.
27. ÐÓ KHÔNG PHẢI LÀ TRƯỜNG HỢP CỦA NGƯỜI NÀO ÐÓ GIẾT CHẾT NGƯỜI NÀO ÐÓ (na koci ki~nci hanati): Nếu một người giết chết một người khác, cắt đầu của một người khác, thì trong ý nghĩa cùng tột, đó không phải là trường hợp của người nào đó giết chết của người nào dó – Nó chỉ trông giống như sự giết chết do bởi sự hiện hữu của những khoảng hở giữa bảy nguyên chất đó thôi. Nhưng còn sự đánh chém bằng cây kiếm thì sao?’ Vị ấy nói rằng, ÐI VÀO KHOẢNG GIỮA CỦA BẢY NGUYÊN CHẤT (sattanna.m vivara.m antare): Cây kiếm đi vào khoảng hở, nghĩa là khoảng giữa, giữa bảy nguyên chất như đất, nước v.v… Vì lý do này mà nó trông giống như chúng sanh bị chém bằng những cây kiếm v.v… Như linh hồn là phần còn lại của bảy nguyên chất cũng không thể bị tiêu diệt vì tánh chất trường tồn vĩnh cửu của nó – đây là ý nghĩa.
28. KHÔNG THỂ HOẠI DIỆT HAY CHIA CHẺ LÀ LINH HỒN (acchejjabhejjojiivo): Linh hồn của chúng sanh không bị tiêu diệt bởi những cây kiếm v.v… Vì tánh chất trường tồn của nó. NÓ CÓ HÌNH TÁM CẠNH HAY HÌNH CẦU NHƯ TRÁI BANH (a.t.tha.mso gu.laparima.n.dalo): Linh hồn đôi khi có hình tám cạnh, đôi khi có hình cầu như trái banh. VÀ CAO NĂM TRĂM DO TUẦN (yojanaani sataa pa~nca): Khi đạt đến trạng thái hoàn thành đầy đủ thì nó cao năm trăm do tuần. NHƯ VẬY AI CÓ THỂ TIÊU DIỆT ÐƯỢC LINH HỒN (Ko jiiva.m chetu”m arahati): Quả thật vậy ai có khả năng tiêu diệt bằng những cây kiếm v.v… một linh hồn trường cửu và không thể thay đổi được. Vị ấy nói rằng nó không thể bị hại bất cứ ai.
29. MỘT CUỘN CHỈ (suttagu.le): một cuộn chỉ được làm khi nó được cuốn lại. KHI ÐƯỢC TUNG RA (khitte): Khi được tung ra bằng cách tháo nó ra. CHẠY ÐI KHI TỰ NÓ THÁO RA (nibbe.thenta.m): một cuộn chỉ được quăng ra, khi tự nó tháo ra, từ một ngọn núi hay đọt cây, tự nó gỡ ra và lăn đi, không đi tiếp khi nào cuốn chỉ ấy đã đi hết. DƯỜNG THẾ ẤY (eva.m eva.m): cũng như cuộn chỉ lăn đi khi tự nó tháo ra, ngừng không đi nữa khi nào nó đi hết, cũng vậy trong cùng cách ấy linh hồn chạy đi, tiếp tục, tự nó mở ra cuốn chỉ luân hồi đúng thời gian đã được giải rõ, trong tám mươi bốn ngàn đại kiếp, và sau đó ngưng không đi tiếp nữa.
30. CŨNG VẬY TRONG CÙNG CÁCH, ẤY LINH HỒN CŨNG (eva.m eva ca so jiivo): Cũng như một người nào đó rời bỏ ngôi làng mà người ấy sống và rồi đi vào một ngôi làng khác do bởi một điều gì đó mà người ấy phải làm, cũng vậy theo cùng cách ấy, linh hồn cũng rời bỏ thân này và đi vào một thân khác theo đúng số phận của nó – Ðây là ý nghĩa. THÂN bondi.m = kaaya.m (chữ đồng nghĩa).
32. TÁM MƯƠI BỐN Cuu.laasiiti = catuuraasiiti (thể văn phạm hoán chuyển): ÐẠI KIẾP: Mahaa kappino = Mahaakappaana.m (thể văn phạm hoán chuyển); liên quan đến điều này, hễ mỗi lần trong mỗi một trăm năm có một giọt nước được lấy đi bằng đầu của cọng cỏ Kusa từ một cái hồ nước lớn như hồ anotatta v.v… Và cứ làm theo cách này cho đến khi cái hồ ấy được làm cho hết nước của nó trên bảy lần của thời gian như vậy được gọi là một Ðại kiếp. Khi đã nói điều này, vị ấy nói rằng giới hạn của sự trôi lăn của linh hồn trong vòng luân hồi là tám mươi bốn trăm ngàn đại kiếp như vậy. CẢ NHỮNG KẺ NGU VÀ NHỮNG NGƯỜI TRÍ (ye balaa ye pa.n.ditaa): cả những người mà bị che ám bởi ngu si và những người có trí tuệ – ngay cả tất cả những người này. BỊ NÉM ÐI CHỖ NÀY CHỖ NỌ TRONG VÒNG LUÂN HỒI (sa.msaara.m khepayitvaana): bị ném đi chỗ này chỗ nọ trong vòng luân hồi, khi sanh lên trở đi trở lại trong khoảng thời gian đã được nói ở trên. TRƯỚC KHI CHÚNG CHẤM DỨT ÐAU KHỔ (dukkhass’anta.m karissare): Trước khi kết thúc nỗi khổ đau này, trải qua hết chu kỳ đau khổ của luân hồi, ngay cả những người có trí cũng không thể được hoàn thành trong suốt thời gian này và ngay cả những người ngu cũng không còn tiếp tục sau đó – đây là tà kiến của vị ấy.
33. HẠNH PHÚC VÀ ÐAU KHỔ ÐỀU ÐƯỢC ÐONG BẰNG CÁI DO.NA VÀ CÁI THÚNG (mitaani sukhadukkhaani do.nehi pi.takehi ca): Những sự thăng trầm của số phận được phân chia ra từng phần đối với chúng sanh này và chúng sanh nọ, chúng được phân chia riêng nhau, trong suốt khoảng thời gian nói trên, tựa như hạnh phúc và đau khổ của chúng sanh quả thật được đong bằng cái do.na, cái thúng và cái hũ chứa tâm ý. Ðấng thống trị thì biết tất cả điều này, người mà đứng ở trên bờ cõi của đấng thống trị thì biết nó trong tính toàn diện của nó, bởi vì người ấy đã vượt qua vòng luân hồi, trong khi những người khác thì bối rối và đi lang thang trong vòng luân hồi.
34. TRONG QUÁ KHỨ TÔI ÐÃ CÓ TRI KIẾN NHƯ VẬY (eva.m di.t.thi pure aasi.m): Trước kia tôi đã có tri kiến (Natthika) như vậy. TÔI BỊ LÚNG TÚNG, BỊ CHE MỜ BỞI NGU SI (samuu.lho mohapaaruto): Tôi lúng túng bởi sự ngu si, được gây ra bởi tà kiến nói trên và bị che mờ bởi ngu si sanh lên trong thời ấy. Hạt giống của thiện Pháp bị che đậy – đây là ý nghĩa. Khi vị ấy đã giải thích như vậy ác nghiệp được làm bởi vị ấy do bởi ác kiến mà đã xảy đến với vị ấy trong quá khứ, rồi vị ấy nói lên những câu kệ bắt đầu bằng: “Trong vòng sáu tháng này “,để giải thích quả của nó mà vị ấy phải nhận lãnh trong tương lai.
38. Ở đây SAU MỘT TRĂM NGÀN NĂM: vassasatasahassaani = vassaana.m satasahassaani (phối hợp cách); ‘đã trôi qua.’ là những chữ còn lại. Hay nói cách khác, đây là đối cách với sức mạnh của địa điểm cách, nghĩa là khi một trăm ngàn năm đã trôi qua rồi. MỘT ÂM THANH ÐƯỢC NGHE NGAY TỨC THÌ (ghoso suuyati taavade): Sau một thời gian dài như vậy đã trôi qua thì một lời công bố ngay tức thì, vào thời ấy, được nghe trong địa ngục ấy rằng “Giới hạn của thời gian mà đã trôi qua trong khi đó các ngươi đã bị nấu sôi ở đây, thưa các Ngài, là một trăm ngàn năm.” TÂU ÐẠI VƯƠNG, ÐÂY LÀ LAKKHA, SAU LẦN THỨ MỘT TRĂM CỦA KO.TI NĂM (nghĩa là sau 1 trăm ngàn ko.ti năm) (lakkho eso mahaaraaja satabhaagavassako.tiyo): Ðây là lakkha, nghĩa là sự định giới hạn của khoảng thời gian mà những chúng sanh đã bị nấu sôi trong địa ngục, tâu Ðại vương, sau lần thứ một trăm, sau phần thứ một trăm, của một ko.ti năm (đã trôi qua). Ðây là điều được nói đến: Mười lần mười là một trăm, mười trăm là một ngàn, mười lần mười ngàn là một trăm ngàn và một trăm lần một trăm ngàn là một ko.ti . Bằng cách tính những ko.ti này, một trăm ngàn ko.ti năm đã trôi qua sau lần thứ một trăm của một ko.ti năm, những điều này phải được hiểu như là một phương tiện và cách đếm năm của những người ấy ở trong địa ngục thôi, chứ không phải của loài người hay chư thiên. Thọ mạng của những người ở trong địa ngục là vô số như hàng trăm ngàn ko.ti năm. Vì lý do này người ta nói rằng “Trong một trăm ngàn ko.ti, những kẻ ấy bị nấu trong địa ngục.” Bằng sự chứng minh để chỉ cho thấy những loại ác nghiệp mà chúng sanh phải bị nấu sôi trong các địa ngục như vậy, “Ai có những tà kiến, ai cư xử xấu xa và ai lăng mạ những bậc thánh” được nói đến.
40. TÔI SẼ THỌ LÃNH (vedissa.m): Tôi sẽ lãnh chịu. Sau khi đã giải quả của những ác nghiệp của vị ấy rằng vị ấy sẽ phải lãnh chịu trong tương lai, và sau khi đã giải thích vấn đề mà đức vua đã dò hỏi, đó là “Bằng loại phạm hạnh nào mà oai lực này của ngài hiện ra?” Rồi vị ấy nói lên những câu kệ này bắt đầu bằng: “Hãy nghe điều này, tâu đại vương”, khi muốn an trú đức vua trong tam qui và ngũ giới.
42. LÀ NGƯỜI THA THIẾT VỚI NGŨ GIỚI VÀ BÁT QUAN TRAI GIỚI (siilesuposathe rataa): là người thoả thích trong những giới mà thường xuyên kết lại với nhau và những giới phụ được thọ trì trong những ngày bố tát.
45. ÐÃ CHO VỊ ẤY: adaa=adaasi (thể văn phạm hoán chuyển).
48. PHÁP ẤY (ta.m dhamma.m): Bát chánh đạo và pháp bất tử.
Ðược thức tỉnh bởi Peta ấy để đi vào sự thọ trì Tam qui và ngũ giới, đức vua với lòng tịnh tín trong tâm, tán dương vị ấy vì sự giúp đỡ mà vị ấy đã đem đến cho đức vua và khi được an trú trong Tam qui v.v… bèn nói ba câu kệ bắt đầu bằng. “Tôi sẽ trừ bỏ”, để công bố sự từ bỏ ác kiến mà đức vua đã chấp thủ trước kia.
54. Ở đây TÔI SẼ RỦ BỎ NHƯ BỎ VÀO TRONG CƠN GIÓ MẠNH (odhunaami mahaavaate): Tôi sẽ rủ bỏ, tôi sẽ quăng bỏ ác kiến ấy vào trong cơn gió của sự thuyết giảng chánh pháp của Ngài, hỡi Yakkha, như cọng rơm gặp cơn gió mạnh đang thổi. HAY VÀO DÒNG NƯỚC ÐANG CHẢY XIẾT (nadiyaa vaa siigha.m gaamiyaa): Hay tôi sẽ làm cho ác kiến ấy bị quét đi như cỏ, như những nhánh lá và những ngọn lá rơi bị cuốn đi trong dòng nước chảy nhanh của một con sông lớn – Ðây là ý nghĩa. TÔI SẼ PHỦ NHẬN ÁC KIẾN ẤY (vamaami paapaka.m di.t.thim): Tôi sẽ quăng bỏ ác kiến mà đã có mặt trước kia trong tâm của tôi. Vị ấy đã nêu ra lý do của mình đối với điều ấy: KHI THA THIẾT VỚI GIÁO PHÁP CỦA CHƯ PHẬT (buddhaana.m saasane rato): Bởi vì tôi tha thiết với giáo pháp của chư Phật, của các Ðấng Thế Tôn, mà chắc chắn sẽ đưa người đến chỗ bất tử, do đó tôi sẽ từ bỏ thứ độc hại này mà được biết đến là ác kiến – đây là cách nên được hiểu. Khi ấy những vị kiết tập Tam Tạng đã lồng vào câu kệ kết thúc bắt đầu bằng: “Khi Sora.t.tha đã nói điều này”:
55. Ở ÐÂY QUAY MẶT VỀ HƯỚNG ÐÔNG (Paamokkho): Xoay đầu về hướng đông. BƯỚC LÊN CỖ XE CỦA VỊ ẤY (ra.tha.m aaruyhi): Ðức vua bước lên chiếc xe của vị ấy mà đã sẵn sàng để ra đi. Vị ấy trèo lên chiếc xe ấy, và bằng oai lực của vị Yakkha ấy, đức vua đã đến kinh đô ấy trong chính ngày hôm ấy và đi vào hoàng cung của mình.
Ðến đúng lúc vị ấy nêu lên các vấn đề ấy với các vị Tỳ kheo và đến lượt các vị Tỳ kheo nêu lên vấn đề ấy đến các vị Trưởng lão. Các vị Trưởng lão đưa nó vào một trong những bài kiết tập ở Hội Kiết tập Tam Tạng lần thứ ba.
-ooOoo-
IV.4 QUỈ SỰ REVATII
(REVATII PETAVATTHUVA.N.NANAA)
‘Hãy dậy, này Revatii, này kẻ có tánh rất ác.’ Ðây là quỉ sự Revatii .
Bởi vì không có sự khác biệt nào giữa câu chuyện này với thiên cung sự Revatii, do đó điều gì được nói đến ở đây về nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và về những câu kệ, tất cả phải được hiểu đúng như đã được nêu ra trong bộ chú giải Thiên cung sự. Câu chuyện này được xem là được bao gồm trong bài kinh của bộ thiên cung sự. Bởi vì Devaputta Na.n.diya là một vị chư Thiên và cũng được bao gồm trong bài kinh này như là quỉ sự Revatii vì những câu kệ có liên quan đến Revatii (một nữ ngạ quỉ).
-ooOoo-
IV.5 CAM GIÁ QUỈ SỰ
(UCCHU PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Khu vườn mía lớn này của tôi”. Ðây là quỉ sự về cây mía. Chuyện bắt nguồn như thế nào?
Khi Ðức Thế Tôn đang ngụ ở Ve.luvana thì có một người đàn ông nọ đặt một bó mía trên vai của ông ta và vừa đi vừa nhai một cây mía. Bấy giờ một thiện tín nọ có giới đức và có tánh thiện đang đi sát sau anh ta với đứa con nhỏ của người ấy. Ðứa bé trông thấy cây mía và kêu lên rằng, “Hãy cho con một ít!” Vị thiện nam trông thấy đứa bé đang khóc và, khi đuổi kịp người đàn ông kia, ra sức bắt chuyện với ông ta. Nhưng người đàn ông không nói chuyện với anh chút nào cả. Ông ta cũng không cho đứa bé ngay cả một miếng mía do bởi ác ý của ông ta. Vị Thiện nam chỉ về đứa con của anh ta và nói rằng, “đứa bé này đang khóc quá đỗi. Xin làm ơn cho nó một miếng mía. Khi nghe qua điều này người đàn ông, không thể chịu được điều này, tỏ vẻ khinh bỉ và với tánh cách làm nhục quăng một cây mía ở đằng sau ông ta. Ðến đúng lúc ông ta chết và tái sanh trong cõi Ngạ quỉ vì đã lâu ông ta bị nhiễm tánh tham lam rồi. Quả của điều này quả thật theo đúng với nghiệp ấy, vì có sanh lên cho ông ta một khu rừng mía mà được che phủ dày đặc bởi những cây mía đen huyền có cỡ bằng cái chày và trải ra che khắp một vùng đến tám mẫu. Nhưng ngay khi ông ta đi đến vườn mía ấy vì muốn nhai một ít, bèn nghĩ rằng, “Ta sẽ lấy một ít mía.” thì cây mía ấy lại đánh vào đầu của ngạ quỉ, vì thế mà ông ta té xuống và ngất xỉu. Rồi vào một hôm nọ, khi Ðại Ðức Mahaa Moggallaana đang đi đến thành Raajagaha để khất thực, ngài trông thấy Ngạ quỉ ấy trên đường đi. Khi nó trông thấy Trưởng lão, nó bèn hỏi Ngài về nghiệp mà nó đã làm và theo sau đó là cuộc trao đổi đàm thoại bằng câu kệ giữa Peta và Trưởng lão.
1. Khu rừng mía lớn này của con sanh lên là quả của những việc phước không nhỏ, nhưng bây giờ nó không có ích gì cho con – Bạch Ngài, hãy nói cho con rõ rằng đây là kết quả của điều gì?
2. Con đã đến trạng thái khổ ưu và con bị băm xác khi con cố gắng, khi con tha thiết muốn ăn một ít mía. Sức mạnh của con đã mất và khi chịu sự khó khăn lớn, con kêu khóc – đây là kết quả của điều gì?
3. Trong nỗi thất vọng, con nằm sấp trên đất và quằn quại trong sức nóng như kẻ sống trong nước; nước mắt của con chảy xuống khi con khóc – Bạch Ngài, hãy nói cho con biết đây là kết quả của điều gì?
4. Con bị đói, mệt và khát nước; con bị khô cháy và không tìm ra sự thoải mái hay an nhàn nào. Con hỏi Ngài về vấn đề này, bạch Ngài, làm sao con có thể dùng được cây mía này?”
5. “Trong quá khứ, chính ngươi đã tạo ra một nghiệp – trong một kiếp quá khứ trong khi còn ở trong cõi người. Bây giờ ta sẽ nói cho ngươi biết vấn đề này – nếu ngươi lắng nghe, ngươi sẽ hiểu vấn đề này.
6. Ngươi đã khởi sự lên đường, đang nhai một cây mía, khi ấy một người đàn ông đi đến đằng sau ngươi, ông ta nói với người bằng sự mong mỏi nhưng ngươi không chịu nói chuyện với ông ta một chút nào cả.
7. Và trước con người khinh khỉnh nín lặng của ngươi, ông ta đã nài xin rằng, “Thưa Ngài, xin vui lòng cho một ít mía”. ông ta đã nói với ngươi. Ngươi cho ông ta một ít mía từ sau lưng của ngươi – đây chính là kết quả của nghiệp ấy.
8. Hãy nhìn đây, ngươi có thể lấy một ít mía từ đằng sau, khi ngươi đã lấy một ít rồi ngươi có thể nhai nó đến chừng nào ngươi thích – bằng cách này ngươi sẽ trở nên hoan hỉ, vui sướng, phấn khởi và được thoả mãn”.
9. Ngạ quỉ đến lấy một ít mía từ đằng sau, khi đã lấy một ít mía rồi, ngạ quỉ nhai số mía ấy đến thoả thích, bằng cách này, nó trở nên hoan hỉ, vui sướng, phấn chấn và được thoả mãn.
Chú giải:
1. Ở đây CỦA CÁI GÌ (kissa): của loại nghiệp nào – đây là ý nghĩa.
2. TÔI ÐÃ ÐI ÐẾN ƯU BI (viha~n~naami): Tôi đã bị bức bách, nghĩa là đặc biệt tôi bị nghiền nát. Tôi bị băm xác: khajjaami=khaadiyaami (thể văn phạm hoán chuyển); nghĩa là tôi bị cắt bởi những ngọn lá của cây mía tựa như tôi bị xé nát bởi những ngọn lá dao sắc bén. KHI TÔI CỐ GẮNG (vaayanaami): Khi tôi ra sức để ăn cây mía. KHI TÔI THA THIẾT (parivakkaami): Khi tôi dốc sức. ÐỂ TIÊU THỤ (paribhu~njitu.m) để tiêu thụ nước của cây mía, nghĩa là để nhai. SỨC MẠNH CỦA TÔI ÐÃ MẤT (chinnathaamo): Sự chịu đựng của tôi đã hết, sức mạnh của tôi đã bị tước đi, nghĩa là sức mạnh của tôi hoàn toàn bị kiệt quệ. VÀ ÐANG CHỊU KHÓ KHĂN LỚN (Kapa.no): Trong một trạng thái khốn đốn. CON KÊU KHÓC (laalapaami): con ta thán vì bị nỗi đau khổ cùng cực giáng xuống.
3. ÐẦY KHỔ LUỴ (vighaato): Ðầy khổ lụy hay sức mạnh của vị ấy bị suy kiệt. CON NẰM SẤP TRÊN ÐẤT (Paripataami chamaaya.m): Vì không thể đứng được nên con ngã xuống đất. QUẰN QUẠI (parivattaami): lăn lộn. NHƯ KẺ SỐNG Ở TRONG NƯỚC (varicaro va): như con cá. TRONG SỨC NÓNG (ghamme): Trên đất khô mà bị thiêu đốt bởi sức nóng.
4. CON BỊ KHÔ CHÁY (santassito): rất khát vì đôi môi, vòng miệng và cuống họng đã trở nên khô, SỰ THOẢI MÁI HAY AN NHÀN (saatasukha.m): một trạng thái đầy đủ tiện nghi hay an nhàn, CON KHÔNG TÌM THẤY (na vinde): con không kiếm được. NGÀI: ta.m = tuva.m (thể văn phạm hoán chuyển).
5. NGƯƠI SẼ HIỂU: vijaana = vijaanaahii (thể văn phạm hoán chuyển).
6. ÐÃ LÊN ÐƯỜNG (payaato): đã bắt đầu đi. ÐI ÐẾN (anvagacchi): đi theo. TRONG SỰ MONG MỎI: paccaasanto = paccaasi.msamaano (thể văn phạm hoán chuyển).
7. ÐÓ LÀ CỦA NGHIỆP ẤY (tass’eta.m kammassa): Ở đây eta.m (không được dịch) chỉ là một tiểu từ; nó có nghĩa rằng đó là của nghiệp ấy.
8. CÓ THỂ LẤY MỘT ÍT TỪ ÐẰNG SAU (pi.t.thito ga.nheyyaasi) có thể lấy một ít mía chỉ từ đằng sau lưng của ngươi mà thôi. ÐƯỢC THOẢ MÃN: Pamodito=pamudito (thể văn phạm hoán chuyển).
9. KHI VỊ ẤY ÐÃ LẤY MỘT ÍT VỊ ẤY NHAI NÓ NHIỀU ÐẾN THOẢ THÍCH (gahetvaana ta.m khaadi yaava d attha.m): Khi nó đã lấy một ít mía theo cách đã được chỉ bày bởi Trưởng lão và đã nhai ăn nhiều đến thoả thích, nó lấy một bó lớn mía và dâng nó đến Trưởng lão. Ðể giúp đỡ nó, Trưởng lão bảo nó hãy đem bó mía ấy đi đến Ve.luvana và Trưởng lão dâng bó mía ấy đến Bậc Ðạo sư. Ðức Thế Tôn cùng với chúng Tỳ kheo khi ấy ăn nó và nói lời phúc chúc. Vị Peta ấy với lòng tịnh tín ấy trong tâm, đảnh lễ Ðức Thế Tôn và ra đi. Từ đó trở đi nó ăn mía thoả thích thoải mái. Ðến đúng lúc nó chết và sanh trong cõi Ba mươi ba.
Tuy nhiên biến cố liên quan đến Ngạ quỉ này được biết rõ trong cõi nhân loại. Dân chúng đi đến Bậc Ðạo sư và hỏi ngài về biến cố ấy. Bậc Ðạo sư giải thích đầy đủ chi tiết vấn đề ấy và rồi thuyết giảng chánh Pháp. Khi họ đã nghe qua Pháp thoại này thì hội chúng ấy bèn từ bỏ bợn nhơ của lòng bỏn sẻn.
-ooOoo-
IV.6 TIỂU NHI QUỈ SỰ
(KUMAARA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Thành phố có tên là Saavatthi “. Bậc Ðạo sư khi đang ngụ ở jetavana, đã kể lại quỉ sự này, liên quan đến hai con Ngạ quỉ.
Tương truyền rằng tại Saavatthi, có hai đứa con trai của vua Kosala, cả hai đều đẹp trai và đang ở trong thời kỳ thanh xuân của cuộc đời, nhưng lại say mê với sự ngã mạn về tuổi trẻ, chúng đi đến với những người vợ của những người đàn ông khác. Khi chúng chết, chúng tái sanh làm những con Ngạ quỉ trong cái hào, và vào lúc ban đêm, chúng thường kêu than bằng tiếng kêu khủng khiếp. Khi dân chúng nghe tiếng này, họ bị khiếp đảm. Họ bố thí vật thực đến Chư Tăng có Ðức Phật dẫn đầu với ý nghĩ rằng, “khi đã hành động như vậy, điều xấu này có thể bị vơi dịu đi”, và nêu lên vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn nói rằng, “Này các Thiện tín, không có tai hoạ nào có thể đến với các nguơi do nghe tiếng kêu ấy”. Và rồi Ngài nói lên những câu kệ này để giải thích nguyên nhân của nó và để thuyết pháp cho họ:
1. Thành phố mang tên là Saavatthi nằm ở bên sườn của dãy núi Himaalaya. Ta đã nghe rằng ở đó có hai cậu con trai của vua.
2. Say mê trong sự quyến rủ và đang tìm khoái lạc trong sự thoả mãn các căn của chúng, chúng thèm khát hạnh phúc hiện tại và không quan tâm đến tương lai.
3. Và, khi lìa bỏ kiếp người, chúng đi từ đây đến thế giới bên kia, bây giờ không được trông thấy, chúng than phiền về điều ác mà chúng đã làm trong quá khứ khi nói rằng,
4. “Dầu vật tặng và những vật thí cúng dường có nhiều, đã được sửa soạn rồi, nhưng chúng ta đã không thể làm ngay cả đến một chừng mức có giới hạn để đem lại hạnh phúc cho chúng ta.
5. Ðiều ác nào có thể lớn hơn điều ác này – khiến chúng ta rơi khỏi gia đình của vua và sanh trong cõi Ngạ quỉ, chịu đói và khát?”
6. Sau khi đã làm những người cai trị ở chỗ này, chúng không còn là những người cai trị ở chỗ kia nữa- chúng đi lang thang trong sự đói khát; Trong khi còn làm người, chúng đã từng có địa vị cao tột. Bây giờ chúng ở địa vị thấp nhất.
7. Khi sự bất lợi bắt nguồn từ sự say mê với quyền lực được nhận ra và sự say mê quyền lực này được từ bỏ, thì con người đi về thiên giới; Vào lúc thân hoại mạng chung, con người có trí tuệ như vậy sẽ sanh trong cõi Chư thiên.
Chú giải:
1. Ở đây TA ÐÃ NGHE RẰNG (iti me suta.m): Nghĩa là không những ta đã trông thấy điều này bằng chính tuệ nhãn của ta, mà ta cũng đã nghe rằng nó đúng như vậy qua sự hiểu biết chung của nó trong thế gian.
2. KHI TÌM KIẾM KHOÁI LẠC TRONG SỰ THOẢ MÃN NHỮNG DỤC TRẦN (kaamassaadaabhinandino) Có tánh tìm kiếm khoái lạc bằng sự thoả mãn trong những khoái lạc của các căn. CHÚNG THÈM MUỐN HẠNH PHÚC HIỆN TẠI CỦA CHÚNG (paccuppannasukhe giddhaa): Chúng khao khát, thèm muốn, chỉ hạnh phúc tạm bợ. KHÔNG QUAN TÂM ÐẾN TƯƠNG LAI (na te pasi.msu naagata.m): Chúng không nghĩ về hạnh phúc sẽ có được trong cõi Chư thiên và cõi người trong tương lai, trong thời gian sắp đến, bằng cách từ bỏ ác hạnh và thực hành thiện hạnh.
3. BÂY GIỜ CHÚNG KHÔNG ÐƯỢC TRÔNG THẤY ÐANG KÊU THAN (te’ dha ghosentyadissantaa): Những Ngạ quỉ ấy mà trước kia là những đứa con trai của Ðức vua bây giờ kêu than không thể trông thấy được, chúng đang khóc than về điều gì? Ngài nói rằng. “Ðiều ác mà chúng đã làm trong quá khứ. Rồi để cho thấy bằng lối phân tích những từ về nhân và quả, lý do về sự than khóc này của chúng, những câu kệ bắt đầu bằng: “Dầu vật tặng có nhiều”, được nói đến.
4. Ở đây DẦU CHO HIỆN HỮU NHIỀU (Bahuusu vata santesu) Dầu có nhiều bậc xứng đáng thọ lãnh những vật thí sẽ được tìm thấy. VÀ NHỮNG VẬT CÚNG DƯỜNG ÐÃ ÐƯỢC SOẠN SẴN (deyyadhamme upa.t.thite): Và của cải của riêng chúng mà đáng được bố thí, là những vật cúng dường đang ở trong tâm tay, nghĩa là nó có sẵn. NGAY CẢ ÐẾN MỘT CHỪNG MỨC CÓ GIỚI HẠN MÀ SẼ ÐEM LẠI HẠNH PHÚC CHO CHÚNG TA (paritta.m sukhaavaha.m): Than ôi! chúng ta đã không thể hành động để đem lại sự an toàn cho chính chúng ta, sau khi đã không làm ngay cả một việc phước nhỏ nhặt nhất mà sẽ đem lại hạnh phúc cho chúng ta trong tương lai – đây là cách nên được hiểu.
5. CÓ ÁC NGHIỆP NÀO LỚN HƠN ÁC NGHIỆP NÀY (ki.m tato paapaka.m assa): Ðiều gì khác có thể đáng khinh hơn ác nghiệp này? RẰNG CHÚNG TA ÐÁNG PHẢI RƠI KHỎI GIA ÐÌNH CỦA VUA (yan no raajakulaa cutaa): nghĩa là chúng ta đáng phải rơi khỏi gia đình của hoàng gia do bởi những ác nghiệp ấy, và bây giờ sanh trong cõi Ngạ quỉ và đi lang thang đây đó, bị đói khát và vùi dập.
6. SAU KHI ÐÃ LÀM NHỮNG NGƯỜI CAI TRỊ Ở ÐÂY (Saamino idha hutvaana): Chúng đi lang thang ở đây trong thế gian này, trong chính chỗ này, nơi mà trước kia chúng là những người cai trị, nhưng chúng không còn là những người cai trị ở đó nữa, trong chính chỗ ấy. CÓ ĐỊAVỊ CAO CẢ TRONG KHI CÒN LÀM NGƯỜI, BÂY GIỜ CHÚNG CÓ ĐỊAVỊ THẤP NHỨT (manussaa unnatonataa): Dầu chúng là những người cai trị trong lúc chúng làm người, nhưng bây giờ, sau khi chết, chúng có địa vị thấp nhất và đi lang thang trong sự đói khát do bởi những ác nghiệp của chúng – hãy xem tánh chất của luân hồi đã được giải rõ.
7. KHI ÐIỀU BẤT LỢI BẮT NGUỒN TỪ SỰ SAY MÊ VỚI QUYỀN LỰC ÐƯỢC NHẬN RA (eta.m aadiinava.m ~natvaa issaramadasambhava.m): Khi điều bất lợi, sự lỗi lầm, mà bắt nguồn từ sự say mê với quyền thế, nghĩa là khi sanh trong cõi khổ được nhận ra và sự say mê với quyền uy này được từ bỏ, những việc phước sẽ được thực hiện đến cùng. NGƯỜI TA ÐI VỀ THIÊN GIỚI (bhave saggagato naro): Vị ấy sẽ đi đến cõi trời mà thôi, đến cõi devaloka .
Khi Bậc Ðạo sư đã giải thích như vậy vấn đề về các Ngạ quỉ ấy, và khiến cho sự bố thí vật thực mà những người ấy đã làm đem hồi hướng đến những Ngạ quỉ ấy, Ngài thuyết giảng chánh pháp thích hợp với những căn tánh của hội chúng đã tụ họp ở đó. Thời pháp ấy đem lại lợi ích cho những người ấy.
-ooOoo-
[4.3]
IV.7 VƯƠNG NHI QUỈ SỰ
(RAAJAPUTTA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Những ác nghiệp được làm trong quá khứ”. Bậc Ðạo sư khi đang ngụ ở Jetavana, đã kể lại quỉ sự này, liên quan đến một Peta mà đã từng làm con trai của một vị vua.
Liên quan đến điều này, ngạ quỉ kia là kẻ mà đã lâu là con trai của một vị vua tên là Kitava và cách đây đã lâu nó cũng đã xúc phạm đến một vị Phật Ðộc Giác, nên phải tái sanh trong cõi Ngạ quỉ như là một dư báo của chính nghiệp ấy; do bởi nghiệp ấy, nó đã bị nấu sôi trong địa ngục trong nhiều ngàn năm rồi, và chính nó là kẻ được nêu ra ở đầy bằng câu kệ “Vị peta ấy là kẻ đã từng làm con trai của Ðức vua.
Câu chuyện về Ngạ quỉ này đúng như câu chuyện đã được nêu ra đầy đủ chi tiết trong quỉ sự Saanuvaasi.m và do đó câu chuyên ấy nên được xem theo cùng cách như nó đã được nêu ra ở đó. Khi Trưởng lão đang giải thích vấn đề về những quyến thuộc Ngạ quỉ của vị ấy thì Bậc Ðạo sư nói rằng, “đây không chỉ là trường hợp đối với quyến thuộc của ngươi, vì ngươi cũng từng làm một Peta trong kiếp ngay trước của ngươi và đã chịu đau khổ lớn”, và theo lời thỉnh cầu của vị ấy, Bậc Ðạo sư kể lại Vương nhi quỉ sự.
1. Kết quả của những nghiệp được làm trong quá khứ thường làm nhiễu loạn tâm; đó là sắc, thinh, hương, vị, và xúc, tất cả đều làm cho tâm hoan hỉ.
2. Khi vị ấy đã hưởng sự nhảy múa, ca hát, khoái lạc và sự vui chơi đến một giới hạn không nhỏ, vị ấy vui chơi trong vườn Ngự uyển. Khi vị ấy đi vào Gibibbaja,
3. Vị ấy trông thấy ẩn sĩ Sunetta, bậc đã nhiếp phục tự ngã và đã tập trung, thiểu dục, có sự độ lượng và thoả thích trong bất cứ cái gì phát sanh đến trong bát khất thực của Ngài.
4. Hoàng tử đi xuống khỏi lưng voi và nói rằng, “Thưa Ngài, Ngài có kiếm được cái gì không?” Khi ấy vị Sát đế lỵ giựt lấy cái bát của Ngài và đưa nó lên.
5. Rồi đập vỡ cái bát xuống đất cứng và rồi vừa đi vừa cười to, khi nói rằng, “ta là con trai của vua Kitava . Ngươi có thể làm gì được ta, hỡi con người ăn xin như ngươi?” kết quả của ác nghiệp ấy mà đứa con trai của đức vua phải lãnh chịu trong khi bị giam hãm trong địa ngục thật ác liệt.
7. Trong bốn lần tám mươi bốn Nahuta năm, kẻ làm ác ấy chịu đau đớn dữ dội trong địa ngục.
8. Nó bị nấu sôi khi nằm ngưỡng mặt lên và úp mặt xuống dưới, ở bên trái và bên phải; hai chân bị treo ngược và chỉ đứng, kẻ ngu ấy bị nấu trong một thời gian dài.
9. Trong nhiều Nahuta và trong nhiều ngàn năm nữa, kẻ làm ác ấy chịu đau khổ mãnh liệt trong địa ngục.
10. Ðó là tính khốc liệt dành cho những kẻ làm hại những kẻ vô tội. những người làm những ác nghiệp như lăng mạ một vị ẩn sĩ có tâm đạo nhiệt thành, thì phải bị nấu sôi.
11. Nó lãnh chịu nhiều đau khổ ở đó trong nhiều năm và khi nó rơi khỏi đó, nó làm một ngạ quỉ thực sự bị đói và khát.
12. Khi điều bất lợi bắt nguồn từ sự say mê với quyền lực được nhận ra và sự say mê với quyền lực này được từ bỏ, thì người ta sẽ hành động bằng cách khiêm nhường.
13. Người mà có đầy sự tôn kính đối với chư Phật thì trong chính đời sống này sẽ được khen ngợi; và vào lúc thân hoại mạng chung, con người có trí tuệ này sẽ sanh lên trong thiên giới.
Chú giải:
1. Ở đây, KẾT QUẢ NHỮNG NGHIỆP ÐƯỢC LÀM TRONG QUÁ KHỨ THƯỜNG CHE MỜ TÂM TRÍ (pubbe kataana.m kammaana.m vipaako matthaye mana.m): khi quả của những bất thiện nghiệp được làm trong những kiếp quá khứ sanh lên và quả của nó được thực hiện bằng thân thường làm nhiễu loạn, nó thường tràn ngập tâm của những người mà bị che mờ bởi ngu si; Chúng thường đẩy mạnh những điều may mắn của riêng chúng để lấn áp và gây ra sự rủi ro tai hoạ cho những kẻ khác – đây là ý nghĩa. Bây giờ để chứng minh sự nhiễu loạn của tâm trí này, “về sắc, thinh v.v..” Ðược nói đến. Ở đây VỀ SẮC (ruupe): nghĩa là trong vấn đề thuộc sự thấy, nghĩa là về sự đạt được như được mong muốn, về những cảnh sắc khả ái. VỀ THINH (sadde): cách giải thích như thế cũng được áp dụng đối với những cảnh này. Rồi bằng những chữ đặc biệt, Ngài giải thích vấn đề mà trong đó ngài chỉ nói một chừng mức bằng những từ chung và nói lên những câu kệ đầu bằng, “khi vị ấy đã hưởng sự múa, hát”. Ðể chứng minh điều này.
2. Ở đây KHOÁI LẠC (rati.m): Dục lạc. SỰ VUI CHƠI (khidda.m): Vui chơi với những người bạn của mình v.v… Giribaja (giribbaja.m): Raajagaha
3. ẨN S~N (isi.m): vị ấy là một ẩn sĩ, bởi vì vị ấy đã nỗ lực hành theo những giới phần v.v… Và các pháp khác của những bậc trí tuệ. SUNETTA (Sunetta.m): Ðức Phật Ðộc Giác có tên ấy. ÐÃ NHIẾP PHỤC TỰ NGÃ (attadanta.m): có tâm được nhiếp phục bởi pháp nhiếp phục cao tột. ÐÃ TẬP TRUNG (saamaahita.m): đã tập trung bằng định của quả vị A la hán. THOẢ THÍCH TRONG CÁI GÌ MÀ ÐI VÀO TRONG CÁI BÁT KHẤT THỰC CỦA VỊ ẤY (u~nche pattagate rata.m): thoả thích trong, bằng lòng với, bất cứ vật thực nào mà đi vào trong cái bát khất thực của Ngài, cái mà được đặt vào trong bát của Ngài, cái được thọ lãnh khi đi khất thực để nuôi mạng.
4. VÀ NÓI RẰNG, “NGÀI CÓ KIẾM ÐƯỢC CÁI GÌ KHÔNG, THƯA NGÀI?” (laddhaa bhante ti c’abravi): vị ấy nói với mục đích đoan chắc rằng, “Ngài không kiếm được gì phải không, thưa Ngài?” ÐƯA NÓ LÊN TRÊN (ucca.m paggcayha ): đưa nó lên cao, đưa cái bát lên.
5. VÀ ÐẬP BỂ CÁI BÁT XUỐNG ÐẤT CỨNG (tha.ndile patta.m bhinditvaa): và làm bễ cái bát bằng cách ném nó xuống ở phần có đá trên mặt đất. BỎ ÐI (apakkami): bỏ đi cách một khoảng đường ngắn và khi đang đi thì nói với Ðức Phật Ðộc Giác – là người đứng nhìn với tâm bi mẫn khi nghĩ rằng, “bị che mờ bởi sự ngu si, người ấy đã tạo ra một sự bất hạnh lớn cho chính mình một cách vô cớ” – Khi nói rằng, “Ta là con trai của Ðức vua Kitava ngươi có thể làm gì được ta, hỡi người ăn xin như ngươi?”
6. ÐỘC ÁC (bharusassa): không biết thương hại. DỮ DỘI (Ka.tuko): khó chịu. Cái mà (ya.m), là kết quả mà . BỊ GIAM HÃM (Samappito): bị dính vào.
7. TRONG SÁU LẦN TÁM MƯƠI BỐN NAHUTA CỦA NĂM (chaơ eva caturaasiiti vassaani nahutaani ca): Nằm ngưỡng mặt lên trong tám mươi bốn ngàn năm; trong tự úp mặt xuống, về bên trái của vị ấy, về bên phải của vị ấy, treo chổng chân lên trời và đứng như vậy qua sáu thời kỳ mỗi thời kỳ có tám mươi bốn ngàn năm vì lý do này Ngài nói rằng, “Nó bị nấu sôi khi nằm ngưỡng mặt lên và úp mặt xuống, về bên trái và bên phải của nó, chân chổng ngược đứng như thế kẻ ngu ấy bị nấu sôi trong một thời gian dài”.
9. Những năm ấy, tuy nhiên, là những Nuhuta, bởi vì về số thì chúng có nhiều do đó Ngài nói, “Nahuta ” CHỊU ÐAU ÐỚN MÃNH LIỆT (bhusa.m dukkha.m nigaccit.tho): gặp phải đau đớn cùng cực. NHIỀU (puugaami): sự tập hợp của những năm. Cả nhóm từ này ở đây và nhóm từ ở trong câu kệ trước sẽ được xem là đối cách trong ý nghĩa của một thời gian liên tục.
10. NHƯ VẬY (etaadisa.m): có hình thức như vậy. TÍNH KHỐC LIỆT (ka.tuka.m): Ðau khổ cùng cực, sự mô tả này ở trung tánh cũng giống như câu “Vị ấy ngồi xuống ở một bên”. (Ekamanta.m nisiidi) v.v… Có hình thức như vậy là tánh khốc liệt, là đau khổ cùng cực, dành cho những người mà làm hại những kẻ vô tội; những người làm những ác nghiệp như lăng mạ, xúc phạm một vị ẩn sĩ chân chánh thì bị nấu sôi – Ðây là nên đuợc hiểu.
11. NÓ (so): con Ngạ quỉ mà đã từng làm con trai của đức vua. Ở ÐÓ (tattha): Trong địa ngục. THỌ LÃNH (vedayitvaa): chịu. THẬT SỰ (naama): vì rõ ràng và dễ thấy. KHI NÓ CHẾT Ở ÐÓ (tato cuto): khi nó mạng chung ở địa ngục. Phần còn lại cũng y như đã được nêu ra rồi.
Như vậy bằng bài pháp thoại này, liên quan đến Ngạ quỉ mà đã từng là con trai của một vị vua, Ðức Thế Tôn đã làm xúc động những người đã hội họp ở đó, và sau đó giảng giải tứ đế và vào lúc kết thúc của thời Pháp ấy, nhiều người chứng đắc quả thánh Tu-đà-huờn v.v…
-ooOoo-
IV: 8 PHẨN THỰC QUỶ SỰ
(GUUTHAKHAADAKA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Sau khi đứng dậy khỏi nhà xí”. Bậc Ðạo sư khi đang ngụ tại Jetavana, đã kể lại quỉ sự này liên quan đến một Ngạ quỉ ăn phẩn.
Tương truyền rằng trong một ngôi làng nọ không cách xa thành Saavatthi, một người đàn ông giàu có đã sai dựng lên một tịnh xá dành cho một vị Tỳ kheo mà sống nhờ vào vật thí trong gia đình của ông ta. Các vị Tỳ kheo từ nhiều vùng khác nhau thường đến và trú ngụ ở đó. Khi trông thấy các Ngài thì dân chúng, với lòng tịnh tín trong tâm, bèn dâng cúng đến các Ngài bốn món vật dụng tốt nhất. Bấy giờ vị Tỳ kheo mà sống nhờ vào vật thí của gia đình ấy không thể chịu đựng điều này và, bị chế ngự bởi lòng ganh tỵ, bèn chọc tức vị gia chủ giàu có ấy bằng cách nói cho vị gia chủ biết những lỗi lầm của những vị Tỳ kheo mà sống nhờ vào vật thí trong gia đình của ông ta, lăng mạ họ.
Rồi vị Tỳ kheo sống nhờ vào vật thí của gia đình chết và tái sanh làm một Ngạ quỉ trong nhà xí của chính tịnh xá ấy, trong khi người đàn ông giàu có chết, ông ta tái sanh làm một Ngạ quỉ ở ngay trên đầu của con ngạ quỉ kia. Khi Ðại Ðức Mahaamoggallaana trông thấy nó, Ngài bèn hỏi nó bằng câu kệ này:
1. “Ai mà đứng trong trạng thái khốn khổ sau khi đứng dậy khỏi nhà xí? Không nghi ngờ gì, ngươi là một kẻ làm ác – tại sao ngươi tạo ra tiếng ồn ấy”.
Khi nghe qua điều này, Ngạ quỉ ấy bèn để lộ chơn tướng của mình bằng câu kệ này:
2. “Bạch Ngài, con là một Ngạ quỉ đã đi đến kiếp sống đau khổ trong thế giới của Yama . Sau khi đã làm ác nghiệp, con đã ra đi từ đây đến thế giới của những Ngạ quỉ”.
Rồi Trưởng lão hỏi nó về nghiệp mà nó đã làm bằng câu kệ này:
3. “Vậy ác nghiệp nào được làm bởi ngươi bằng thân, khẩu hoặc ý? Do kết quả của ác nghiệp nào khiến ngươi bây giờ phải chịu đau khổ này?”
Rồi Ngạ quỉ ấy nói cho Trưởng lão biết về nghiệp mà nó đã làm bằng hai câu kệ này:
4. “Con đã từng cúng dường một người thường trú, là người có tánh ganh tỵ và bỏn sẻn, ở quanh gia đình của con; vị ấy luyến ái với gia đình của con, là người bần tiện và hay lăng mạ.
5. Khi con đã nghe điều mà vị ấy đã phải nói ra, con lăng mạ các vị Tỳ kheo – chính do kết quả của nghiệp ấy khiến con đã từ đây đến thế giới của những Ngạ quỉ”.
Chú giải:
4. Ở đây CON ÐÃ CÓ MỘT NGƯỜI THƯỜNG TRÚ (ahu aavaasiko mayha.m): Con có một vị Tỳ kheo thường trú, trú ngụ thường xuyên trong tịnh xá mà con đã xây dựng trong chỗ ngụ của con. VỊ ẤY LUYẾN ÁI VỚI NHÀ CỦA CON (Ajjho sito mayha.m ghare): Do vì vị ấy lệ thuộc vào gia đình của con về vật thực nên vị ấy bám chắc vào nhà của con bằng sự đeo níu của ái dục.
5. VỊ ẤY (tassa): Vị Tỳ kheo mà sống nhờ vào gia đình của con về vật thí: NHỮNG VỊ TỲ KHƯU Bhikkavo = Bhikkhuu (Thể văn phạm hoán chuyển): Con chửi mắng (Paribhaasina.m): Con lăng mạ. CON ÐÃ ÐI TỪ ÐÂY ÐẾN THẾ GIỚI CỦA NHỮNG NGẠ QUỈ (petaloka.m ito gato): Bằng cách này, con đi đến cõi Ngạ quỉ con trở thành một Ngạ quỉ.
Khi nghe qua điều này, Trưởng lão bèn nói lên câu kệ này để hỏi về số phận của vị Tỳ kheo kia:
6. Người mà sống nhờ vào gia đình của ngươi về vật thực, là một kẻ thù mang lốt một người bạn. Con người ngu si ấy đã đi đến sanh thú nào khi thân hoại mạng chung?
Chú giải:
6. Ở đây TRONG LỐT CỦA MỘT NGƯỜI BẠN (Mitta va.n.nena): Bằng tướng mạo của một người bạn, cải trang làm một người bạn.
Ngạ quỉ ấy lại giải thích vấn đề ấy với Trưởng lão:
7. Con đang đứng ở trên đầu, ở trên đỉnh đầu của chính người làm ác nghiệp ấy. Vị ấy đã đi đến cõi kia và làm một người hầu cho riêng con.
8. Bạch Ngài, cái gì mà những người khác thải ra thì cái đó trở thành vật thực của con; Trong khi đó cái gì chính con thải ra thì Ngạ quỉ hầu ấy phải sống bằng cái đó”.
Chú giải:
7. Ở đây CỦA CHÍNH NGƯỜI ẤY (tass’eva): Của con Ngạ quỉ mà trước kia là vị Tỳ kheo sống nhờ vào gia đình của con về vật thực. LÀ NGƯỜI ÐÃ LÀM ÁC NGHIỆP ẤY (paapakammassa): Là người có ác hạnh. CON ÐANG ÐỨNG Ở TRÊN ÐẦU, Ở TRÊN ÐỈNH (Siise ti.t.thaami matthake): Con đang đứng ở trên đầu, và bằng cách đứng như vậy, con đang đứng ngay trên chính đỉnh đầu, nghĩa là không phải ở bên trong cái đầu của hắn. ÐÃ ÐI ÐẾN CÕI BÊN KIA (paravisaya.m patto): Ðã đi đến cõi Ngạ quỉ, là cõi bên kia so với cõi người.
8. CÁI GÌ NGƯỜI KHÁC THẢI RA, BẠCH NGÀI, (ya.m bhadante hanant’a~n~ne): Cái gì những người khác thải ra ở trong nhà xí, là phẩn mà họ thải ra, bạch Ngài, thưa Ðức Ứng Cúng Mahaamoggallaana . CÁI ẤY TRỞ THÀNH VẬT THỰC CỦA CON (eta.m me hoti bhojana.m): Phẩn ấy trở thành vật thực của con ngày này qua ngày khác. CÁI GÌ CHÍNH CON THẢI RA (ya.m haanamii): Phẩn mà con cũng đã thải ra sau khi ăn phẩn trước. HẮN ÐÃ SỐNG BẰNG THỨ ẤY (eta.m so upajiivati): Ngạ quỉ trước kia là vị Tỳ kheo sống nhờ vào gia đình của con về vật thí, đã sống ngày này qua ngày khác bằng cách ăn phẩn ấy của con, nghĩa là hắn nuôi dưỡng kiếp sống của hắn bằng cách này, trong hai người này, thì người đàn ông giàu có đã lăng mạ các vị Tỳ kheo, là những bậc có hạnh kiểm tốt, khi nói rằng, “tôi hy vọng rằng, các ông phải ăn phẩn là loại vật thực mà các ông thọ hưởng”; nhưng người mà sống nhờ vào gia đình của ông ta về vật thực thì đã xúi dục người đàn ông giàu có ấy để nói theo cách ấy, do đó chính hắn nên được xem là đã lăng mạ các vị Tỳ kheo bằng cách ấy, vì lý do này nên đời sống của hắn còn tệ hơn của người kia.
Ðại Ðức Mahaamoggallaana nêu lên vấn đề với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đè ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và, sau khi chỉ ra những qủa khổ của sự nói lăng mạ, bèn thuyết pháp đến hội chúng đã tụ họp ở đó. Thời pháp ấy đem lại lợi ích cho những người ấy.
-ooOoo-
IV.9 THỰC PHẨN QUỈ SỰ
(GUUDHAKAADAKA PETAVATTHU VA.N.NANAA):
“Sau khi đứng dậy khỏi nhà xí”. Quỉ sự này được nói đến khi Bậc Ðạo sư đang ngụ tại Jetavana, liên quan đến một nữ Ngạ quỉ ăn phẩn.
Câu chuyện của nàng tương tự như câu chuyện trước. Ở đó, vì tịnh xá được dựng lên bởi nàng tín nữ ấy, nên nó đã được kể lại liên quan đến tín nữ ấy. Tuy nhiên ở đây, đó là một tín nữ – đây là sự khác biệt duy nhất. Trong phần còn lại của câu chuyện này và những câu kệ thì không có cái gì mà không có ở trong câu chuyện trước.
-ooOoo-
IV.10 QUẦN TẬP QUỈ SỰ
(GA.NA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Các ngươi trần truồng và có hình tướng xấu xí”. Quỉ sự này được kể lại trong khi Bậc Ðạo sư đang ngụ ở Jetavana, liên quan đến một số đông những Ngạ quỉ.
Tương truyền rằng, tại Saavatthi có một số đông những người nọ làm thành một nhóm người không có đức tin cũng không có lòng tịnh tín, tâm của họ bị ám ảnh bởi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn và chống lại các thiện hạnh như bố thí v.v… Chúng sống một thời gian dài và vào lúc thân hoại mạng chung, chúng tái sanh vào trong cõi Ngạ quỉ, ở gần với thành phố ấy. Bấy giờ vào một hôm nọ, khi Ðại Ðức Mahaamoggallaana đang đi đến Saavatthi để khất thực, Ngài trông thấy những Ngạ quỉ ấy trên đường đi của Ngài và hỏi chúng bằng câu kệ này:
1. Các ngươi trần truồng và có hình tướng thô xấu, gầy ốm với những đường gân lộ ra. Các ngươi là những người ốm yếu với những xương sườn lồi ra, bây giờ các ngươi là ai, thưa các ngài?
Chú giải:
1. Ở đây CÁC NGƯƠI CÓ HÌNH TƯỚNG THÔ XẤU, (dubba.n.naruupaa’tha): Các ngươi có thân hình xấu xí. Bây giờ CÁC NGƯƠI LÀ AI? (ke nu tumhe’tha): Bây giờ quả thật các ngươi có thể là ai. THƯA CÁC NGÀI (maarisaa): Ngài xưng hô với chúng như là những người ngang hàng với Ngài:
Khi chúng nghe qua điều này, thì những ngạ quỉ ấy bèn nói câu kệ này để cho biết rằng chúng là những Ngạ quỉ.
2. Bạch Ngài, chúng con là những ngạ quỉ, đã đi đến kiếp sống đau khổ trong thế giới của Yama. Sau khi đã làm những ác nghiệp, chúng con đã đi từ đây đến thế giới của những ngạ quỉ.
Trưởng lão lại hỏi một lần nữa về nghiệp mà chúng đã làm bằng câu kệ này:
3. “Vậy ác nghiệp nào được làm bởi các người bằng thân khẩu hay ý? Do quả của ác nghiệp nào khiến các ngươi phải đi từ đây đến thế giới của những Ngạ quỉ?”
Rồi chúng giải thích nghiệp mà chúng đã làm:
4. Ở những chỗ tắm công cộng, chúng con tìm kiếm những đồng tiền nhỏ; dầu những thí vật ở trong tầm tay nhưng chúng con không làm làm nơi nương tựa cho chính chúng con.
5. Chúng con đi đến con sông, cổ họng bị khô cháy, nhưng nó lại trở nên trống rỗng; giữa sức nóng, chúng con đi đến bóng mát nhưng nó trở nên bị thiêu đốt bởi mặt trời.
6. Và một làn gió như lửa thổi vào chúng con, đốt cháy chúng con, nhưng chúng con đáng bị điều này, bạch Ngài, và đau khổ khác còn kinh khủng hơn thế này.
7. Hơn nữa, chúng con đi dài những do tuần, bị đói và muốn vật thực, nhưng lại quay lui mà không kiếm được gì cả – phước của chúng con thật là mỏng manh.
8. Bị đói, mệt lả, lảo đảo và chìm xuống đất, chúng con nằm ngửa xoài người ra hay chúng con té ngã úp mặt xuống đất.
9. Khi chúng con té ngay chỗ ấy, lịm người xuống đất, chúng con đánh rầm những cái đầu và ngực của chúng con – quả thật phước của chúng con thật là mỏng manh.
10. nhưng chúng con đáng bị điều này, bạch Ngài, và đau khổ khác còn kinh khủng hơn thế này, vì dầu thí vật ở trong tầm tay, nhưng chúng con không làm chỗ nương tựa cho chính chúng con.
11. Rồi sau đó, khi chúng con đã ra đi khỏi đây và có được kiếp người trở lại, chúng con sẽ niềm nở, có giới đức và quyết tâm làm nhiều thiện nghiệp.
Chú giải:
7. Ở đây HƠN NỮA, CHÚNG CON ÐI NHIỀU DO TUẦN (api yojanaani gacchaama): Chúng con đi nhiều do tuần. Ði trong trạng thái như thế nào? BỊ ÐÓI VÀ MUỐN VẬT THỰC (chaataa aahaaragiddhino): Trong một thời gian dài chúng con bị đói, chúng con thèm muốn vật thực, khao khát nó, tuy nhiên dầu chúng con đã đi như thế, chúng con đã phải quay lại mà không kiếm được một ít vật thực nào. PHƯỚC CỦA CHÚNG CON THẬT MỎNG MANH (appapu~n~nataa): Về phước, chúng con không có, chúng con đã không làm thiện nghiệp nào.
8. CHÚNG CON NẰM NGỮA SẢI NGƯỜI RA (uttaanaa pa.tikiraama): Ðôi khi chúng con kết thúc bằng sự nằm ngửa mà xem ra tựa như tất cả tay chân của chúng con đã bị rã rời. CHÚNG CON TÉ SẤP (avakujjaa pataamase): Ðôi khi chúng con té sấp.
9. CHÚNG CON (te ca): Những người ấy trong chúng con. CHÚNG CON ÐÁNH VÀO NHAU ÐẦU VÀ NGỰC CỦA CHÚNG CON (ura.m siisa~n ca gha.t.tema) Sau khi đã té xuống, kết thúc bằng sự úp mặt và không thể đứng dậy được, chúng con chỉ đánh đầu và ngực của nhau khi chúng con quằn quại đau đớn.
Phần còn lại cũng như đã được giải thích ở trên.
Trưởng lão nêu lên vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã hội họp ở đó. Khi nghe qua pháp thoại này mọi người đều từ bỏ bợn nhơ của lòng bỏn sẻn và thiên về thiện hạnh, thực hành những việc phước như bố thí v.v…
-ooOoo-
IV.11 HOA TỬ QUỈ SỰ
(PAA.TALIPUTTA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Ngươi đã trông thấy những địa ngục và cõi súc sanh”. Quỉ sự này được kể lại khi Bậc Ðạo sư đang ngụ tại Jetavana, liên quan đến một Vimaanapeta nọ.
Tương truyền rằng nhiều thương nhân mà là những dân cư của thành Saavatthi và thành Paa.taliputa đang đi bằng những chiếc thuyền đến Suva.n.nabhumi khi ấy một vị thiện nam nọ, luyến ái với một người đàn bà, bị ngã bệnh và chết. Dầu anh ta đã làm những thiện nghiệp nhưng anh ta không sanh trong cõi Devaloka mà lại sanh làm một vị Vimaanapeta ở dưới đại dương, do bởi lòng luyến ái của anh ta với người đàn bà ấy. Người đàn bà mà anh ta đã luyến ái đang trên đường đi trong chiếc thuyền đến Suv.n.nabhuumi . Bấy giờ, vị peta vì muốn bắt người đàn bà ấy, bèn ngăn chặn không cho chiếc thuyền di chuyển. Rồi những thương nhân ấy khi tự hỏi lý do gì có thể khiến cho chiếc thuyền không di chuyển, bèn chuyền quanh cái thăm mà có điềm xấu và, do bởi năng lực thần thông của phi nhân, cái thăm đến nằm với người đàn bà không dưới ba lần, chính người đàn bà mà vị ấy ái luyến. Khi trông thấy điều này thì những thương nhân thả xuống một bó tre trong biển và để người đàn bà xuống ở trên bó tre ấy, và ngay khi người đàn bà đã được để xuống thì chiếc thuyền di chuyền đi nhanh đến Suva.n.nabhuumi . Vị phi nhân dẫn người dẫn người đàn bà lên đến cung điện của vị ấy và hưởng những thú vui tình ái với nàng. Khi nàng đã trải qua một năm ở đó, nàng trở nên bất mãn và xin vị peta ấy khi nói rằng, “Chừng nào em còn sống ở đây thì em không thể hành động cho lợi ích của em ở thế giới sau. Xin hãy đưa em đến Paa.taliputta, thưa Ngài”; Khi bị nài xin như vậy bởi nàng, vị ấy bèn nói lên câu kệ này:
1. Nàng đã trông thấy địa ngục và cõi súc sanh, những Ngạ quỉ, những vị A tu la, cũng như người và Chư thiên; Chính nàng đã trông thấy những quả nghiệp của một người rồi. Ta sẽ đưa nàng an toàn đến Paa.taliputta . Khi nàng đã đi đến đó rồi, nàng phải làm những việc thiện.
Chú giải:
1. Ở đây NÀNG ÐÃ TRÔNG THẤY NHỮNG ĐỊA NGỤC (di.t.thaa tayaa nirayaa): Nàng đã trông thấy ngay cả những địa ngục riêng biệt. CÕI SÚC SANH (Tiracchaanayonii): Nàng cũng đã trông thấy những con thú có thần lực lớn như rồng và kim xí điểu v.v.. Ðây là cách nên được hiểu. NHỮNG VỊ ASURA (Asuraa): loại kaalaka~njaka của Asuraa . NHỮNG VỊ CHƯ THIÊN (devaa): Một số Chư thiên thuộc cõi của bốn vị thiên vương.: Tương truyền rằng vị ấy thường dẫn nàng đi theo vị ấy thỉnh thoảng bằng oai lực của vị ấy và đi quanh chỉ cho nàng trông thấy những địa ngục riêng biệt v.v… Vì lý do này nên vị ấy nói rằng, “Chính nàng đã trông thấy quả nghiệp của một người . Nàng đã đi đến địa ngục khác nhau v.v.. Và khi nhìn quanh nàng đã trông thấy, nàng có trông thấy, đối với chính nàng, với chính mắt của nàng, những kết quả của các nghiệp được làm bởi một người. “TA SẼ ÐƯA NÀNG AN TOÀN ÐẾN PAA.TALIPUTTA (nessaami ta.m paa.taliputta.m akkhata.m): Bây giờ ta sẽ đưa nàng đi, mà không bị làm hại, không bị làm tổn thương, đến Paataliputta trong hình tướng của con người nhưng khi nàng đi đến đó rồi, nàng phải làm những thiện nghiệp, nghĩa là vì nàng đã trông thấy bằng chính mắt của nàng những kết quả của các nghiệp thì nàng nên chuyên tâm vào thoả thích trong việc thực hành những việc phước.
Khi người đàn bà đã nghe điều mà vị ấy đã phải nói ra, nàng lấy làm hoan hỉ và nói lên câu kệ này:
2. ngài muốn cho tôi được tốt, hỡi yakkha, Ngài muốn cho tôi được lợi ích, Hỡi Devataa ; tôi sẽ làm điều gì mà ngài nói, Ngài là thầy của tôi. Tôi đã trông thấy những địa ngục và cõi súc sanh, những vị Peta, những vị Asura cũng như loài người và Chư thiên; Chính tôi đã trông thấy những quả nghiệp của một người. Những việc phước mà tôi quyết định sẽ làm không phải nhỏ.
Rồi vị Peta ấy dẫn người đàn bà đi xuyên qua hư không và đặt nàng ở giữa thành phố Paa.taliputta rồi ra đi. Khi những người bạn và những quyến thuộc v.v.. của nàng trông thấy nàng, thì họ vui mừng nghĩ rằng, dầu họ đã nghe trước kia rằng nàng đã bị thả vào trong biển và đã chết, tuy nhiên bây giờ nàng được trông thấy và, đầy biết ơn, đã trở về an toàn. Và họ tụ họp và hỏi nàng về biến cố. Nàng đã kể cho họ nghe mọi chuyện mà nàng đã thấy và đã trải qua, ngay từ đầu. Hơn nữa, những thương nhân mà là những dân cư của thành Saavatthi đúng lúc đã đến tại Saavatthi . Họ đi đến Bậc Ðạo sư trong thời gian thích hợp, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống ở một bên, nêu lên vấn đề với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết giảng Chánh Pháp cho tứ chúng. Dân chúng, đầy xúc động, trở nên thiên về những thiện nghiệp như bố thí v.v…
-ooOoo-
[4.4]
IV.12 ÂM-BA QUỈ SỰ
(AMBA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Hồ sen này của ngươi thật vô cùng khả ái”. Quỉ sự này được Bậc Ðạo sư kể lại khi Ngài đang ngụ ở Saavatthi, liên quan đến một Ambapeta .
Tương truyền rằng, tại Saavatthi có một gia chủ nọ có của cải đã trở nên cạn hết. Vợ của ông ta đã chết và ông ta có một đứa con gái duy nhất, là người mà ông ta bỏ lại ở nhà của một người bạn và rồi, khi mang hàng hoá mà ông ta đã mua với số tiền vay một trăm Kahaapana, ông ta lên đường với một đoàn thương nhân để buôn bán, và chẳng bao lâu quay về nhà với đoàn thương nhân sau khi đã kiếm được một món tiền lời gồm năm trăm Kahaapana, phụ thêm với số tiền vốn. Trên đường đi, những tên cướp đi đến đoàn thương nhân và bao vây họ, và những người trong đoàn thương buôn bỏ chạy tứ tán. Tuy nhiên, vị gia chủ, để những đồng Kahaapana trong một cái bị và giấu gần đó, nhưng những tên cướp lại bắt và giết ông ta. Vì lòng tham lam của cải nên ông ta phải tái sanh làm một peta trong chính chỗ ấy.
Khi những vị thương nhân trở lại Saavatthi, họ thuật lại biến cố ấy với đứa con gái của ông ta, nàng đầy bất an và khóc than thảm thiết cho cả cái chết của cha nàng và khóc vì lòng mong mỏi phương tiện kiếm sống của chính nàng. Một người đàn ông giàu có mà đã từng là bạn của cha nàng khi ấy an ủi nàng, nói rằng, “cũng như những cái nồi của người thợ gốm, tất cả đều có sự hoại diệt khi chúng kết thúc; Do đó đời sống của chúng sanh cũng có sự hoại diệt vì sự kết thúc, cũng vậy đời sống của chúng sanh cũng có sự hoại diệt vì sự kết thúc của nó. Cái chết là thông thường đối với tất cả và không có loại thuốc chữa trị nào. Bởi vậy, con đừng nên ưu bi và ta thán quá mức cho cha của con. Ta sẽ làm cha của con và con sẽ là con gái của ta. Ta sẽ làm điều gì phải được làm cho cha của con. Con có thể sống hạnh phúc trong ngôi nhà này, không lo lắng, cũng như nó là nhà của cha con vậy”. Nỗi sầu khổ của nàng được lắng dịu khi nghe những lời dạy này của ông ta và nàng trở nên có đầy sự tôn kính và tôn trọng đối với ông ta, tựa như ông ta chính là cha của nàng vậy; và do những hoàn cảnh khốn khổ của nàng, nàng trở thành người giữ nhà cho ông ta.
Khi thời gian trôi qua, nàng muốn tổ chức những lễ cúng cho người chết đến cha của nàng. Nàng nấu một ít cháo và trong một cái bát bằng đồng, nàng đặt một số trái xoài ngọt và đã chín lụng và có màu đỏ của chất tỳ sương, nàng sai người tớ gái mang cháo, những trái xoài đi theo nàng đến tịnh xá, vào đảnh lễ Bậc Ðạo sư và rồi nói như vầy, “Cầu xin Bậc Ðạo sư rũ lòng bi mẫn mà thọ nhận vật thí này của con”. Bậc Ðạo sư, tâm của Ngài bị rung động bởi lòng đại bi, khi làm cho ước muốn của nàng được thành tựu viên mãn, bèn tỏ ý muốn rằng Ngài sắp ngồi xuống. Quá vui sướng,nàng trải ra một tấm vải sạch và mới mà nàng đã đem theo, và sửa soạn một chỗ ngồi cho đức Phật cao quí, rồi dâng cúng chỗ ngồi này. Ðức Thế Tôn ngồi xuống trên chỗ ngồi đã được sửa soạn. Rồi nàng dâng món cháo đến Ðức Thế Tôn và Ðức Thế Tôn nhận lãnh món cháo. Rồi nàng cũng dâng cháo đến Chư Tăng, dành cho Chư Tăng. Sau khi nàng đã bố thí món cháo, một lần nữa với hai tay sạch sẽ, nàng dâng đến Ðức Thế Tôn những trái xoài và rồi Ðức Thế Tôn thọ thực. Nàng đảnh lễ Ðức Thế Tôn và tác bạch như vầy, “Bạch Ðức Thế Tôn, sự bố thí này mà con đã làm bằng vật thí gồm cái toạ cụ được trải ra, món cháo và những trái xoài, cầu xin cho vật thí ấy thấu đến cha của con”; Ðức Thế Tôn nói rằng, “chúc thành tựu như ý” Và ban lời phúc chúc. Nàng đảnh lễ Ðức Thế Tôn, đi vòng quanh Ngài và hướng về hướng phải rồi ra đi.
Ngay khi nàng hồi hướng phước thí ấy thì vị Peta ấy có được một rừng xoài, một công viên, một lâu đài, một cây như ý và một hồ sen như là sự vinh quang của Chư thiên. Rồi vào một dịp khác nọ, khi những thương nhân ấy đang đi để buôn bán, họ đi đến chính con đường ấy và cắm trại qua đêm ở chỗ mà họ đã ngụ lúc trước. Khi trông thấy họ, vị Vimaanapeta hiện ra trước mặt họ cùng với công viên lâu đài v.v… của vị ấy. Khi trông thấy vị peta ấy, những vị thương nhân bèn nói lên hai câu kệ này để hỏi về sự vinh quang mà vị ấy đã nhận được:
1. Hồ sen này của ngài thật vô cùng khả ái. Những bờ hồ xinh đẹp của nó bằng phẳng và nó có nhiều nước. Nó có nhiều hoa và lấm tấm khắp nơi những đàn ong – Làm sao ngài sanh ra mà có được cái hồ khả ái này?
2. Và khu rừng xoài này của ngài thật vô cùng khả ái và có trái suốt bốn mùa. Nó đang nở hoa và lấm tấm khắp nơi những đàn ong, làm sao Ngài sanh ra mà có được lâu đài này?
Chú giải:
1. Ở đây VÔ CÙNG KHẢ ÁI: Surammaa= su.t.thu rama.niiyaa (phối hợp cách). BẰNG PHẲNG (samaa): Có những bề mặt ngang bằng. NHỮNG BỜ HỒ XINH ÐẸP (Supatitthaa): Những chỗ tắm xinh đẹp do bởi những chiếc cầu thang của chúng được làm bằng châu báu. NÓ CÓ NHIỀU NƯỚC (mahodakaa): Hồ sen ấy có nhiều nước
2. TRONG TẤT CẢ CÁC MÙA (sabbotuka.m): Nó tạo ra sự hạnh phúc do bởi những cây của nó v.v… đầy những bông hoa và mang những trái trong khắp các mùa. Vì lý do này người ta nói rằng, “và mang những trái” NÓ ÐANG NỞ ÐẦY HOA (Supupphita.m): Vườn xoài nở hoa thường xuyên.
Khi nghe qua điều này, vị Peta bèn nói lên câu kệ này để giải thích cái gì là nguyên nhân khiến vị ấy có được hồ sen ấy v.v…:
3. Một vật thí bằng những trái xoài chín, nước và cháo, được cho ra bởi con gái của tôi – chính do bởi điều này khiến cho tôi nhận được bóng che mát mẻ và khả ái này ở đây.
Chú giải:
3. Ở đây CHÍNH DO BỞI ÐIỀU NÀY… ÐƯỢC NHẬN LÃNH BỞI TÔI Ở ÐÂY (tena me idha labhati): Bởi vì vật thí ấy gồm những trái xoài chín, nước và cháo được cho ra bởi con gái tôi đến Ðức Thế Tôn và các vị Tỳ kheo, được cho ra bởi nàng dành cho tôi, chính do bởi vật thí này được cho ra bởi con gái của tôi nên những trái xoài chín được nhận lãnh bởi tôi ở đây trong rừng xoài Chư thiên này, trong tất cả các mùa, và cũng có được nước Chư thiên trong cái hồ sen Chư thiên khả ái nầy; Trong khi đó, chính do vật thí nầy gồm món cháo và tấm vải được trải ra nên bóng mát khả ái và mát mẻ này được tìm thấy trong công viên này, cung điện này và cây như ý này v.v… Ðược nhận lãnh ở đây, nghĩa là được thành tựu.
Khi đã nói như vậy, vị Peta dẫn những thương nhân đi và chỉ cho họ thấy năm trăm Kahaapana khi nói rằng, “Các người có thể lấy một nửa của số tiền này và cho nửa kia đến con gái của tôi, bảo nàng hãy làm sạch món nợ của tôi và sống thanh thản”.
Ðến đúng lúc, những thương nhân đi đến Saavatthi kể cho đứa con gái của ông ta biết và cho nàng mọi thứ bao gồm phần tiền mà ông ta đã trao cho họ. Nàng trả một trăm Kahaapana đến những chủ nợ của ông ta và cho phần còn lại đến người đàn ông giàu có mà đã là bạn của cha nàng và, đối với chính nàng, vẫn ở lại làm người giữ nhà cho ông ta. Nhưng ông ta cho lại nàng món tiền ấy khi nói rằng, “Tất cả món tiền này là của riêng con”. Và cho nàng làm nữ chủ trong ngôi nhà của đứa con trai đầu lòng của ông ta. thời gian sau, nàng có một đứa con trai và nàng thường nói câu kệ này khi nàng chăm sóc nó:
4. Hãy xem kết quả, ngay trong đời sống này, của sự bố thí, của sự thu thúc và tự chế. Tôi là một nữ nô lệ trong gia đình của chủ tôi, và bây giờ là nàng dâu của ông ta cũng là nữ gia chủ.
Rồi một hôm nọ Bậc Ðạo sư, sau khi đã xem kỹ sự chín muồi trong tâm của nàng, bèn phóng ra hào quang của Ngài và hiện ra tựa như đang đứng đối diện với nàng, và rồi nói lên câu kệ này:
5. Người mà không siêng năng, bị chinh phục bởi sắc khả ái của những kẻ không khả ái, bởi sắc tướng dễ thương của những kẻ không dễ thương và bởi sắc tướng khả ái của cái đem lại đau khổ.
Nghĩa là: Những người nào mà không siêng năng và chánh niệm không hiện hữu trong họ, thì bị ngự trị, bị chiến thắng và bị che mờ bởi sắc tướng hảo huyền của ba cái này.
Vào lúc kết thúc của câu kệ này, nàng được an trú trong quả Thánh Tu- Ðà- hườn; và ngày hôm sau, nàng bố thí vật thực đến Chư Tăng có Ðức Phật dẫn đầu, và rồi nêu lên vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã tụ họp ở đó. Thời pháp ấy đem lại lợi ích cho những người ấy.
-ooOoo-
IV.13 MỘC TRỤC QUỈ SỰ
(AKKHARUKKHA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Khi một người cho ra thì không phải ngay ở đó”. Ðây là quỉ sự về người bố thí một cái trục xe. Câu chuyện bắt nguồn như thế nào?
Khi Ðức Thế Tôn đang ngụ ở Saavatthi, thì có một vị Thiện nam nọ, là dân cư của thành Saavatthi chất đầy hàng hoá vào một số cỗ xe và đi đến videha để buôn bán. Ông ta bán hàng hoá của ông ta ở đó và chất đầy những hàng hoá mà ông ta đã mua lại, cho vào trong những cỗ xe của ông và rồi đi vào con đường dẫn đến Saavatthi . Khi ông đang đi dọc theo con đường ấy ở trong khu rừng thì cái trục xe của một trong những chiếc xe của ông bị gãy. Bấy giờ có một người đàn ông nọ mà sau khi đã rời khỏi ngôi làng của ông ta và đang cho người mang theo cái rìu và búa để đốn cây đem về, đang lang thang trong rừng và đi đến chỗ ấy. Ông ta trông thấy tâm trạng chán nản của vị thiện nam do vì cái trục xe bị gãy ấy, bèn nghĩ rằng, “Vị thương nhân này đang sầu khổ ở trong rừng do vì cái trục xe bị gãy ấy”. Và khi đem lòng thương hại vị thương nhân ấy, ông ta đốn hạ một cây, làm một cái trục xe cứng cáp, tặng nó cho vị thương nhân và gắn nó vào cỗ xe. Ðến đúng lúc, ông ta chết và sanh làm một vị Chư thiên địa cầu trong cùng chỗ ấy ở trong khu rừng.
Khi đã quán xét về những nghiệp của mình vào lúc ban đêm, ông ta đi đến nhà của vị thiện nam ấy và nói lên câu kệ này khi đứng ở cửa nhà:
1. Khi người bố thí thì nó không phải chỉ nằm ở đó thôi đâu – người nên cho ra những vật thí đi; Khi người đã bố thí rồi thì người sẽ vượt qua cả hai, người đi đến cả hai bằng phương tiện này. Hãy giác tỉnh! Ðừng dễ duôi!
Chú giải:
1. Ở đây KHI NGƯỜI CHO RA THÌ NÓ KHÔNG PHẢI CHỈ Ở ÐÓ (Ya.m dadaati na ta.m hoti) khi người cho ra một thí vật thì nó không phải chỉ nằm ở đó, mà trong thế giới bên kia, quả của vật thí cũng sẽ hiện ra nữa vì có nhiều quả khả ái và đầy hoan hỷ nữa. DO ÐÓ NGƯỜI NÊN TINH TẤN CHO RA NHỮNG VẬT THÍ (deth’eva daana.m): Người cũng nên cho ra những vật thí thích hợp. Rồi vị ấy giải thích lý do: KHI NGƯỜI ÐÃ CHO, NGƯỜI SẼ VƯỢT QUA CẢ HAI (datvaa ubhaya.m tarati): Khi người đã cho những vật thí thì người sẽ vượt qua đau khổ và rủi ro cả trong đời này và trong đời sau nữa. NGƯỜI SẼ ÐI ÐẾN CẢ HAI BẰNG PHƯƠNG TIỆN NÀY (ubhaya.m tena gacchati): Người sẽ đến, người sẽ đạt đến, cả hạnh phúc trong đời này và trong đời sau bằng phương tiện của những vật thí này. Hơn nữa ý nghĩa nên được hiểu là, lợi ích và hạnh phúc dành cho cả chính mình và những người khác nữa. HÃY CẢNH GIÁC! ÐỪNG DỄ DUÔI! (jaagaratha mà pajjaha): Nghĩa là hãy tỉnh táo tìm kiếm những vật thí mà sẽ trổ sanh cả hai loại lợi ích và sự xua tan cả hai loại khổ đau bằng cách này. Hãy sửa soạn những món đồ vật để làm những vật thí và hãy siêng năng ở trong đó. Ðiều này được nói đến bằng cách lập lại ở đây để cho thấy sự tôn kính.
Khi vị thương nhân đã làm xong điều gì ông ta cần phải làm, ông ta quay về và đúng lúc đến tại Saavatthi vào ngày hôm sau. Ông ta đi đến Bậc Ðạo sư, đảnh lễ Ngài, và khi ngồi xuống ở một bên, ông ta nêu lên vấn đề với Ðức Thế Tôn. Bậc Ðạo sư lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã tụ họp ở đó. Thời pháp đã đem lại lợi ích cho những người đã tụ họp ở đó.
-ooOoo-
IV.14 SÚC TÀI QUỈ SỰ
(BHOGASA.MHARA.NA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Chúng ta tích lũy của cải”. Ðây là quỉ sự về sự tích lũy. Nó bắt nguồn như thế nào?
Tương truyền rằng khi Ðức Thế Tôn đang ngụ tại Ve.luvana, có bốn người đàn bà ở thành Raajagaha đang bận rộn trong việc buôn bán thục tô, mật ong, dầu và ngũ cốc v.v… kiếm lợi một cách phi pháp bằng sự đong lường gian dối và bằng những mánh khóe bịp bợm khác. Vào lúc thân hoại mạng chung sau khi chết, họ sanh làm những nữ Ngạ quỉ trong một cái hào ở bên ngoài thành phố. Vào lúc ban đêm, họ bị hành hạ bởi nỗi đau khổ và đi lang thang phát ra tiếng kêu to lớn và kinh khủng khi gào lên rằng:
1. “Chúng ta tích lũy của cải đúng pháp và phi pháp. Bây giờ của cải này được hưởng bởi những người khác, trong khi số phận của chúng ta là đau khổ”.
Dân chúng lấy làm khiếp đảm khi họ nghe tiếng gào la này; và khi trời hừng sáng, họ tổ chức một cuộc bố thí vật thực lớn đến Chư Tăng có Ðức Phật dẫn đầu và khi thỉnh Bậc Ðạo sư và Tăng chúng đến, họ phục vụ các Ngài bằng vật thực thượng vị loại cứng loại mềm. Khi Ðức Thế Tôn đã thọ thực xong và tay rời khỏi bát, họ ngồi xuống ở gần kề và kể lại biến cố ấy. Ðức Thế Tôn nói rằng, “Nầy chư thiện tín, không có tai hoạ nào đến với các ngươi trong tiếng ấy cả. Ðó chỉ là bốn nữ Ngạ quỉ bị hành hạ đau khổ, đang ta thán kêu to trong nỗi thất vọng của chúng sau khi nói về ác nghiệp mà chúng đã làm, chúng đã nói câu kệ này:
2. Chúng ta tích lũy của cải đúng Pháp và không đúng pháp. Bây giờ của cải này được hưởng bởi những người khác, trong khi đó số phần của chúng ta là đau khổ”.
Chú giải:
2. Ở đây CỦA CẢI (Bhoge): Những của cải và phương tiện đặc biệt như y phục và những vật trang sức v.v… Mà được biết đến là “của cải” (Bhoga), bởi vì những của cải ấy có thể được người ta hưởng dụng (paribhu~njitabbatthena): CHÚNG TA TÍCH LUỸ (Sa.mharimha) với tâm của chúng ta bị ngự trị bởi bợn nhơ của lòng bỏn sẻn, chúng ta chất lên, mà không cho đến một ai cả. ÐÚNG PHÁP VÀ KHÔNG ÐÚNG PHÁP (Samenavisamena ca): Phải đạo và sái quấy, nhưng có vẻ hợp pháp. TRONG KHI ÐÓ PHẦN CỦA CHÚNG TA LÀ ÐAU KHỔ (maya.m dukkhassa bhaaginii): Do chúng ta không có thiện hạnh đối với bất cứ ai và do bởi ác hạnh của chúng ta khiến bây giờ chúng ta phải lãnh lấy số phần đau khổ to lớn này ở trong cõi Ngạ quỉ, nghĩa là chúng ta đang chịu đau khổ lớn.
Khi Ðức Thế Tôn đã nói câu kệ như vậy mà được thốt lên bởi những Ngạ quỉ và kể lại biến cố ấy, Ngài lấy đó làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và thuyết pháp đến hội chúng đã tụ họp ở đó. Sau khi giải thích bốn chân lý cao thượng và sau khi kết thúc thời pháp ấy, nhiều người chứng đắc quả thánh Tu-Ðà-hườn v.v…
-ooOoo-
IV.15 THƯƠNG TỬ QUỈ SỰ
(SE.T.THIPUTTA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Trong sáu chục ngàn năm”. Ðây là quỉ sự về những đứa con trai của vị phú thương. Câu chuyện bắt nguồn như thế nào?
Ðức Thế Tôn đang ngụ ở Jetavana, tại Saavatthii . Lúc bấy giờ vua nước Kosala là Paasenadi, đang đi quanh thành phố trong uy quyền vĩ đại của vua, trong sự rực rỡ vĩ đại của vua, trang phục oai phong và cỡi trên con voi kiết tường nhất. Vị ấy trông thấy một người đàn bà có sắc đẹp giống như một nữ thần, nàng mở các cửa sổ ở gác trên của một ngôi nhà nọ và đang nhìn xuống xem sự vinh quang của vua. Với tâm bị ngự trị bởi sự tấn công dồn dập của những ô nhiễm đã nhanh chóng sanh lên trước một cảnh sắc mà vị ấy chưa hề trông thấy trước kia và dầu vị ấy đã có một hậu cung mà ở trong đó những cung nữ có những đặc tánh nổi bật như gia đình quí phái, sắc đẹp và thiện hạnh v.v.. Tuy nhiên đức vua vẫn đem lòng yêu thương người đàn bà ấy vì tâm của vị ấy phù phiếm và khó nhiếp phục. Ðức vua ra hiệu cho người đàn ông ngồi ở gần tựa như muốn nói rằng, “Ngươi hãy để ý chỗ ngụ có tầng gác ấy và người đàn bà ấy”, và rồi đi vào hoàng cung. Mọi điều khác sẽ được hiểu như đã giải thích ở trước rồi trong quỉ sự Ambasakkhara nhưng có sự khác biệt này. Ở đây người đàn ông đi đến ngay trước khi mặt trời lặn, khi cổng thành bị đóng lại, và treo đất sét đỏ và những hoa súng mà anh ta đã mang về ở trên cột của cái cổng, và rồi đi đến jetavana để ngủ. Trong khi đó đức vua, là người đã đi ngủ trong phòng ngủ của vua, vào canh giữa nghe bốn tiếng, “Du, sa, na, so”, tựa như được thốt ra trong nỗi thất vọng từ cuống họng.
Tương truyền rằng đây là những chữ đầu của những câu kệ được thốt ra bởi bốn đứa con trai của vị phú thương mà đã lâu là những dân cư của thành Saavatthi, và là những người mà trong thời thanh xuân của chúng đã say mê với sự ngã mạn về của cải và đi chung với vợ của những người đàn ông khác, nên đã gây ra nhiều tội lỗi. Về sau chúng chết và sanh ra trong một cái vạc sắt gần chính thành phố ấy. Khi chúng đang bị nấu sôi, chúng thường nổi lên ở bờ miệng của cái vạc sắt, mỗi người nói lên một câu kệ, nhưng ngay khi chúng thốt ra chữ đầu thì chúng bị những cảm thọ đau đớn giáng xuống và chìm vào cái vạc sắt.
Khi Ðức vua nghe tiếng ồn ào ấy, vị ấy đầy kinh hãi, bị giao động và tóc dựng đứng. Vị ấy trải qua phần còn lại của đêm trong đau khổ, và vào lúc trời rạng sáng sai gọi vị Tư Tế quan đến và kể cho ông ta nghe biến cố ấy. Khi vị Tư tế quan ấy biết được sự sợ hãi của đức vua, thì vị ấy, vì tham lam lợi lộc, suy nghĩ rằng, “một cách kiếm lợi dành cho ta và những Bà la môn đã sanh lên”, Và nói rằng, “Tâu đại vương, một tai hoạ lớn chắc chắn đã sanh lên. Ngài phải cúng tế bốn cái của mỗi loài sinh vật”. Khi nghe qua lời đáp lại này, đức vua bèn truyền lịnh cho những vị quan cố vấn đặc biệt rằng, “hãy sai sửa soạn bất cứ cái gì cần thiết cho cuộc cúng tế bốn vật của mỗi loại”: Khi nghe qua lệnh truyền này, hoàng hậu Ma.llikaa nói với đức vua rằng, “Tâu đại vương, tại sao ngài lắng nghe những lời của những vị Bà la môn ấy và bây giờ muốn tổ chức những buổi lễ mà trong đó vô số chúng sanh sẽ phải bị giết hại? chắc chắn chính Ðức Thế Tôn là người vận dụng trí tuệ vô ngại trong tất cả các pháp, là người nên được hỏi đến và sau đó bệ hạ nên hành động đúng theo lời đáp lại của Ðức Thế Tôn”.
Khi đức vua nghe qua điều mà nàng đã phải nói ra, vị ấy đi đến yết kiến Bậc Ðạo sư và nên lên vấn đề với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn nói rằng, “Tâu đại vương, không có tai hoạ nào đến với với bệ hạ dù bất cứ điều gì từ nguyên nhân ấy”. Và rồi giải thích vấn đề ngay từ đầu về những chúng sanh mà đã sanh trong địa ngục vạc dầu bằng sắt. Rồi Ngài làm cho đầy đủ những câu kệ mà mỗi chúng sanh ấy bắt đầu nói ra, khi nói rằng:
1. Cả thảy chúng ta đều bị nấu sôi trong địa ngục đủ sáu chục ngàn năm – khi nào mới hết bị như thế này?
2. Sẽ không có sự chấm dứt – Tại sao có sự chấm dứt? không có sự chấm dứt ấy được vì đó là cách mà những ác nghiệp được làm bởi các bạn và tôi, thưa các Ngài.
3. Chúng ta đã sống một cuộc sống ác; dầu ở trong tầm tay nhưng chúng ta đã không bố thí từ đó – Dầu những vật thí ở trong tầm tay nhưng chúng ta không làm chỗ nương tựa cho chính chúng ta.
4. Như vậy, khi chúng ta đã đi khỏi đây và được sanh trong cõi người, tôi sẽ tỏ ra cởi mở, có giới đức và quyết tâm làm nhiều việc thiện.
Chú giải:
1. Ở đây TRONG SÁU CHỤC NGÀN NĂM: Sa.t.thi vassasahassaaani = vassaana.m sa.t.thisahassaani (phối hợp cách). Tương truyền rằng hễ chúng sanh nào sanh trong cái vạc sắt địa ngục sẽ đi xuống trong ba chục ngàn năm cho đến khi hắn đi đến mức thấp nhất, nhân đó hắn đi lên lại cũng trong ba chục ngàn năm cho đến khi hắn đến chỗ ở bờ miệng của nó. Ðể làm cho chúng ta nhận biết điều này, nó muốn nói lên câu kệ bắt đầu bằng: “Cả thảy chúng ta đã bị nấu sôi trong địa ngục trong sáu chục ngàn năm”, Nhưng sau khi nói “sa” Nó bị rơi xuống bởi những cảm thọ đau đớn và chìm lại xuống dưới. Tuy nhiên, Ðức Thế Tôn đã làm cho nó đầy đủ và kể lại nó cho đức vua nghe. Phần này cũng sẽ được áp dụng trong những câu kệ còn lại. Ở đây KHI NÀO SẼ CÓ SỰ CHẤM DỨT NỖI KHỔ NÀY (kadaa anto bhavissati): Khi nào sẽ có sự chấm dứt, có sự kết thúc nỗi đau khổ này là bị nấu sôi trong địa ngục vạc dầu bằng sắt?
2. Vì đó là cách mà (tathaa hi): Cũng như sẽ không có sự chấm dứt có thể thấy được về nỗi khổ này của các anh và tôi, đó là cách mà những ác nghiệp được làm bởi các anh và tôi – Nó sẽ được xem như vậy bằng sự thay đổi của biến tố.
3. MỘT ÐỜI SỐNG ÁC (dujjiivita.m): Một đời sống đáng bị chê trách bởi những bậc trí tuệ. DẦU Ở TRONG TẦM TAY (Ye sante): Dầu những vật thí ấy ở trong tầm tay, có sẵn đối với chúng ta. CHÚNG TA ÐÃ KHÔNG BỐ THÍ na dada.mhase = na dadamha (thể văn phạm hoán chuyển): Ðể làm cho sáng tỏ ý nghĩa của điều mà hắn đã nói, khi ấy Ngài nói rằng, “Dầu những vật thí ở trong tầm tay, nhưng chúng ta không làm chỗ nương tựa cho chính chúng ta”.
4. TÔI=so ‘ha.m= So aha.m (phối hợp cách): Khi ấy (nuna): là một bất biến từ về sự suy xét điều được nói ra. TỪ ÐÂY (ito): Từ địa ngục vạc sắt này. ÐÃ ÐI (gantvaa): Ðã ra đi. ÐƯỢC VÀO CÕI NGƯỜI (yoni.m laddhaana maanusi.m): Có được cõi người, kiếp sống trong cõi người. CỞI MỞ (vada~n~nuu): có tánh rộng rãi hay tử tế với những người ăn xin. CÓ GIỚI ÐỨC (siilasampanno): Có giới hạnh. VÀ QUYẾT TÂM LÀM NHIỀU VIỆC THIỆN (kaahaami kusala.mbahu.m) Không rơi vào trong sự dễ duôi như trước kia chúng ta đã làm, ta quyết tâm làm nhiều việc thiện, nhiều việc phước, nghĩa là chúng ta sẽ tích lũy chúng.
Khi Bậc Ðạo sư đã nói những câu kệ này, Ngài thuyết giảng chánh pháp đầy đủ những chi tiết. Vào lúc kết thúc của thời pháp ấy, người đàn ông mà đã kiếm về đất sét đỏ được an trú trong quả thánh Tu- Ðà- hườn. Ðức vua đầy xúc động, bèn từ bỏ sự tham luyến vợ của người đàn ông khác và thoả mãn với vợ của chính mình.
-ooOoo-
IV.16: QUỈ SỰ VỀ SÁU CHỤC NGÀN CÁI BÚA
(SA.T.THIKUU.TA SAHASSA PETAVATTHUVA.N.NANAA)
“Tại sao ngươi, như một người điên?” Quỉ sự này được kể lại trong khi Bậc Ðạo sư đang ngụ ở Ve.luvana, liên quan đến một Ngạ quỉ nọ.
Tương truyền rằng, cách đây đã lâu ở trong thành phố Ba la nại, có một người què nọ có tài trong việc búng sỏi. Khi ông ta đã đạt đến sự toàn hảo như vậy về nghệ thuật búng sỏi, ông ta thường ngồi ở gốc của một cây đa ở cổng thành và bằng cách bắn vào những ngọn là của cây đa bằng những viên sỏi, ông ta thường tạo ra những mẫu hình về những con voi, những con ngựa, chiếc xe, người, những ngôi nhà tháp nhọn với những lá cờ, những cái lu đầy nước v.v… khiến cho chúng hiện ra trên những ngọn lá ấy. Những đứa trẻ của thành phố ấy thường trả công cho ông ta bằng những đồng tiền bỏ túi của chúng và bảo ông ta trổ tài theo ý thích của chúng. Rồi một hôm nọ, khi đức vua của thành Ba la nại rời khỏi thành phố, vị ấy đi đến gốc của cây đa ấy. Ðức vua trông thấy nhiều hình thức và mẫu mã khác nhau như hình của con voi v.v… dính vào những ngọn lá của cây đa ấy và hỏi mọi người rằng, “ai đã tạo ra những hình thể và những mẫu mã khác nhau bằng cách này trên những ngọn lá đa này?” Dân chúng chỉ về người què mà nói rằng, “Tâu bệ hạ, chúng được làm bởi người đàn ông ấy”. Ðức vua gọi người đàn ông ấy đến và nói rằng, “Hãy nhìn đây, có thể nào để ngươi làm đầy bụng một người đàn ông bằng những viên phân dê trong khi ông ta đang nói chuyện, mà không để cho ông ta biết, nếu ta chỉ cho thấy ông ta?” “Tâu bệ hạ, điều ấy có thể được”. Ông ta đáp lại.
Đức vua dẫn ông ta đi đến hoàng cung và, chán nghe những lời lãi nhãi của vị tư tế quan, đã cho gọi vị tư tế quan ấy đến. Ðức vua ngồi chung với vị Tư tế quan trong một chỗ cách biệt được bao quanh bởi một vách màng, và trong khi tham khảo ý kiến với vị Tư tế quan, bèn cho gọi người què đến. Người què đi đến mang theo một ống tre chứa đầy những viên phân dê, khi lưu ý chỗ ngồi của đức vua, ngồi xuống xoay mặt về phía vị Tư tế quan, và khi miệng của vị Tư tế quan hả ra thì ông ta bắn vào những viên phân dê xuyên qua một lỗ hở trên bức màng, viên này đến viên khác, đến đầy cuống họng của vị Tư tế quan. Do xấu hổ, không thể nôn ra trước mặt của đức vua, vị Tư tế quan đành phải nuốt hết tất cả những viên phân dê. Khi cái bao tử của vị Tư tế quan đã chứa đầy phân dê thì đức vua cho vị ấy ra về khi nói rằng, “Hãy đi, này ông Bà la môn, ông đã nhận lãnh kết quả của sự nói lảm nhảm của ông rồi đó. Khi ông đã uống thứ nước được làm từ trái cây được nghiền nát và những loại lá v.v…. Của cây Piya”ngu thì ông sẽ nôn ra. Bằng cách này ông sẽ hoàn toàn khỏe lại”, và, thoả thích với điều mà người què kia đã làm, bèn cho ông ta mười bốn ngôi làng.
Sau khi có được những ngôi làng này, chính ông ta được hạnh phúc và vui sướng luôn. Ông ta sống đầy đủ tiện nghi, nhưng không quên lãng những điều lợi ích trong cả đời sống này và thế giới bên kia và ông ta thường cho bất cứ cái gì cần thiết đến mọi người như những vị sa môn và những vị Bà la môn; trong khi đó ông ta cho vật thực và sự hưởng công đến những người mà đã đến với ông ta khi họ rèn luyện nghệ thuật của ông ta. Rồi một người đàn ông nọ, đi đến với ông ta và nói như vầy, “Xin hãy làm thầy của con và dạy cho con về môn này, nhưng con không dùng gì đến vật thực của thầy gọi là sự trả công”. Ông ta dạy cho người đàn ông ấy về môn búng sỏi của mình. Sau khi trở thành lão luyện trong nghệ thuật búng sỏi bằng cách bắn sỏi vào người, anh ta đã làm bể đầu của Ðức Phật Ðộc Giác Sunetta khi ngài đang ngồi trên bờ sông và Ðức Phật Ðộc Giác nhập Niết bàn ngay tại đó ở trên bờ sông. Khi dân chúng nghe tin về biến cố này, họ đánh anh ta ngay tại đó bằng những cục đất và những cây gậy v.v… Và đã giết chết anh ta.
Khi anh ta chết, anh ta tái sanh trong đại địa ngục Aviici và bị nấu sôi trong nhiều ngàn năm trong địa ngục ấy. Trong suốt thời kỳ của Ðức Phật này anh ta sanh lên, do bởi dư báo của nghiệp ấy, làm một Ngạ quỉ không cách xa thành vương xá. Vì kết quả phải theo đúng với nghiệp, sáu chục ngàn cái búa được đưa lên vào buổi sáng, trưa và tối do bởi lực thôi thúc của nghiệp ấy và rồi giáng xuống trên đầu của hắn; nhân đó, cái đầu của hắn bị đánh và bị bể ra khiến hắn phải lãnh chịu những cảm thọ đau đớn cùng cực. Hắn thường té xuống đất, nhưng ngay khi những cái búa đã đi khỏi rồi thì hắn đứng dậy với cái đầu của hắn trở lại như cũ. Rồi một hôm nọ, Ðại Ðức Mahaamoggallaana đi xuống từ núi Kỳ xà quật, trông thấy hắn và hỏi hắn bằng câu kệ này:
1. Tại sao ngươi, như một người điên, lao đi chỗ này chỗ kia như một con nai bị khiếp đảm vậy? Không nghi ngờ gì ngươi là một kẻ làm ác – tại sao ngươi tạo ra tiếng ồn ấy?
Chú giải:
1. Ở đây NHƯ MỘT NGƯỜI ÐIÊN (Ummattaruupo va): Như người mà có tánh điên, như người bị phát điên. LAO ÐI CHỖ NÀY CHỖ KIA NHƯ MỘT CON NAI BỊ KHIẾP ÐẢM (Migobhanto va dhaavasi): lao đi chỗ này chỗ kia như một con nai bị hốt hoảng. Vì không thấy chỗ tránh né nào khi những cái búa sắt đang giáng xuống khiến hắn phải lao đi chỗ này chỗ kia hy vọng rằng, có lẻ nó sẽ không đánh ta ở chỗ này. Nhưng bị đưa lên bởi lực thôi thúc của nghiệp ấy chúng rơi xuống ngay trên đỉnh đầu của hắn ở bất cứ chỗ nào mà hắn đang đứng. TẠI SAO NGƯƠI TẠO RA TIẾNG ỒN ẤY (ki.m nu saddaayase tuva.m): Tại sao ngươi tạo ra âm thanh ấy, tại sao ngươi đi chỗ này chỗ kia tạo ra tiếng gào rất tuyệt vọng ấy?
Khi nghe qua điều này, Ngạ quỉ bèn đáp lại bằng hai câu kệ này:
2. Bạch Ngài, con là một Ngạ quỉ đã đi đến kiếp sống đau khổ của Yamma. Sau khi đã làm ác nghiệp, con đã đi từ đây đến thế giới của những Ngạ quỉ.
3. Cả thảy đủ sáu chục ngàn cái búa rơi xuống trên dầu của con và những cái búa này đập vỡ cái đầu của con.
Chú giải:
3. Ở đây SÁU CHỤC NGÀN CÁI BÚA (Sa.t.thikuu.ta sahassaani): Ðến sáu chục ngàn cái búa bằng sắt. CẢ THẢY (Sabbaso): Tổng số, tương truyền rằng cái đầu của hắn có cỡ bằng cái đỉnh núi, đủ lớn để sáu chục ngàn cái búa giáng xuống. Những cái búa đang giáng xuống ấy làm bể cái đầu của hắn đến mức độ mà ngay cả một chỗ để đầu của cọng tóc có thể xuyên qua cũng không có. Vì lý do này hắn tạo ra tiếng kêu đau đớn; vì lý do này khiến hắn nói rằng, “Cả thảy đủ sáu chục ngàn cái búa, rơi xuống trên đầu của con và những cái búa này đập bể cái đầu của con”.
Rồi Trưởng lão dò hỏi về nghiệp mà hắn đã làm bằng hai câu kệ:
4. Bây giờ ác nghiệp nào được làm bởi ngươi do thân, khẩu hoặc ý? do kết quả của nghiệp nào khiến ngươi đã đi từ đây đến thế giới của những Ngạ quỉ?
5. Tại sao đủ cả thảy sáu chục ngàn cái búa rơi xuống trên đầu của ngươi, và tại sao những cái búa này đập bể cái đầu của ngươi?
Ngạ quỉ ấy nói lên ba câu kệ để giải thích nghiệp mà hắn đã làm:
6. Con đã trông thấy Ðức Phật Sunetta, là người mà trong đó các căn đã được tu tập, đang ngồi dưới một cội cây, đang thiền quán và không sợ gì từ bất cứ hướng nào.
7. Do một cú búng những viên sỏi của con, con đã làm bể cái đầu của Ngài – chính do kết quả của nghiệp ấy khiến con phải chịu đau khổ.
8. Ðủ cả thảy sáu chục ngàn cái búa rơi xuống trên đầu của con và những cái búa này đập bể cái đầu của con.
Chú giải:
6. Ở đấy ÐỨC PHẬT (Sambuddha.m): đức Phật Ðộc Giác. SUNETTA (sunetta.m): người có tên ấy. NGƯỜI MÀ TRONG ÐÓ CÁC CĂN ÐÃ ÐƯỢC TU TẬP (bhaaviti~ndriya.m): Người mà trong đó các căn như tín căn v.v.. đã được tu tập bằng sự tu tiến của thánh Ðạo.
7. Do một cú búng những viên sỏi (saalittakappahaarena): Do sự đánh bằng cách búng đi những viên sỏi theo cách như sau: Sự thực hành về việc búng sỏi bằng những ngón tay hay một cái ná nhỏ. Một cách đọc khác là, Bằng sự đánh qua việc búng đi những viên sỏi (Saalittakappahaga.nena): CON LÀM VỠ: Bhindissa.m = bhindi.m (thể văn phạm hoán chuyển).
Khi nghe qua điều này Trưởng lão bèn nói lên câu kệ kết thúc, để cho thấy rằng quả của nghiệp trước mà bây giờ hắn đang nhận lãnh thật hoàn toàn đúng với việc mà hắn đã làm:
9. Thật đáng đời cho ngươi, một kẻ hèn hạ như ngươi, rằng cả thảy đủ sáu chục ngàn cái búa giáng xuống trên đầu của ngươi và những cái búa này đập bể cái đầu của ngươi.
Chú giải:
9. Ở đây ÐÁNG ÐỜI CHO NGƯƠI (dhammena): Nó đúng với nhân của nó (Ngươi, te = tava; thể văn phạm hoán chuyển). Quả này mà đến với ngươi thật hoàn toàn thích hợp với ác nghiệp mà ngươi đã làm trong việc xúc phạm vị Phật Ðộc Giác ấy. Do đó Trưởng lão chỉ cho thấy rằng điều này không thể được tránh né bởi bất cứ ai, dầu là Chư thiên hay ma vương hay Phạm thiên, hơn nữa ngay cả Ðức Phật Toàn giác.
Bấy giờ, khi Trưởng lão đã nói như vậy, ngài bèn đi từ đó đến thành phố để khất thực và khi ngài đã thọ thực xong, Ngài đi đến Bậc Ðạo sư vào buổi chiều và nêu lên vấn đề ấy với Ðức Thế Tôn. Ðức Thế Tôn lấy vấn đề ấy làm nguyên nhân cần thiết đã sanh lên và, trong khi thuyết giảng Pháp đến tứ chúng, cho biết những đức tánh kỳ diệu của Chư Phật Ðộc Giác và tánh cách mà các nghiệp không bị vô hiệu. Mọi người đầy xúc động, đầy niềm tin; Họ từ bỏ những ác nghiệp và thiên về những việc phước như bố thí v.v…
Phần trình bày quỉ sự về sáu chục ngàn cái búa đã kết thúc- Như vậy phần trình bày về ý nghĩa của phẩm thứ tư, Ðại phẩm, mà được tôi điểm bởi mười sáu câu chuyện trong những câu chuyện Ngạ quỉ này của bộ Khuddaka Nikaaya đã kết thúc.
– * * * –
NHỮNG LỜI NHẬN XÉT ÐỂ KẾT LUẬN
Như vậy:
1. Những kẻ mà đã sanh trong cõi Ngạ quỉ tất cả đều là những người đã làm ác nghiệp; Do bởi những ác nghiệp ấy, quả dành cho chúng là xấu và khốc liệt.
2. Sự chứng minh và giải thích điều này bằng lối vấn đáp là giáo lý cần thiết, khiến cho chúng sanh phải kinh cảm.
3. Bộ Ngạ quỉ ấy hình thành một thiện luận sự và được khéo thành lập trên một sự hiểu biết toàn diện về đề tài, nghĩa là, những quỉ sự mà đã được kiết tập bởi những bậc thầy vĩ đại.
4. Khi dựa vào trên đó, theo cách của bộ chú giải cổ xưa của chúng, để làm trong sáng ý nghĩa của chúng, tôi đã thực hiện phần trình bày này về ý nghĩa của chúng.
5. Nghĩa là, phần giải thích về ý nghĩa bên trong, làm sáng tỏ một cách đúng đắn những ý nghĩa bên trong ở nhiều chỗ trong đó.
6. Sự phân tích có thứ lớp này về những ý nghĩa vi tế mà bao gồm đến mười lăm phần tụng đọc về kinh bây giờ đã đến chỗ kết thúc rồi.
7-8. Do nhờ oai lực của bất cứ phước báu nào mà tôi đã làm được qua sự biên soạn bộ chú giải bằng cách này, cầu mong tất cả chúng sanh đều được thấm nhuần giáo pháp của đấng cứu rỗi thế gian và cầu mong tất cả chúng sanh được nếm hương vị giải thoát qua hạnh kiểm thanh tịnh và giới đức đầy đủ v.v…
9. Cầu mong cho giáo pháp của Ðức Phật toàn giác được trường tồn trong thế gian và cầu mong cho tất cả chúng sanh luôn luôn có lòng kính mộ giáo pháp ấy.
10. Cầu mong thần mưa cũng rơi xuống thích hợp và đúng lúc, và cầu mong chúa của quả đất sùng mộ giáo pháp chân chánh và trị vì thế gian theo đúng với chánh pháp.
Như vậy phần trình bày về ý nghĩa của những quỉ sự được thực hiện bởi Ðại Ðức Aacariya Dhammapaala, là vị Tỳ kheo và là bậc hiền trí cao quí và cũng là vị Sa môn trú ngụ trong tịnh xá Badaratittha, đã kết thúc.
– Kết thúc bộ Chú giải Ngạ quỉ sự –
-ooOoo-