KINH DO TĂNG GIÀ LA SÁT TẬP THÀNH

Như vậy, khi Bồ tát ra khỏi thành liền nghĩ rằng ” Ta không đắc đạo, thề không bao giờ trở về “. Giống như Bồ tát cởi xâu chuỗi anh lạc trao cho Xa- Nặc, khi ấy Bồ tát lại nghĩ: ” Chấp đắm cái y báu này là vật sở hữu cuối cùng của ta “. Hoặc là Bồ tát lấy ngựa trao cho Xa- Nặc khi ấy Ngài cũng nghĩ: ” Ðây là con ngựa ta cỡi cuối cùng “. Bấy giờ Bồ tát tay cầm dao tự cắt tóc trên đầu, khi ấy Bồ tát nghĩ rằng:” Ðây là râu tóc cuối cùng của ta “. Bấy giờ Bồ tát lấy y báu đổi da nai để làm cà sa, khi ấy Bồ tát nghĩ rằng:” Ðây là y phục ta nên mặc “. Hoặc lại Bồ tát ngồi nơi đạo tràng, bấy giờ Bồ tát lại nghĩ:” Ta không bỏ thế ngồi kiết già. Nếu chừng nào ta chưa được Nhất thiết trí, ta sẽ không bao giờ rời khỏi tòa này “.

—— Trích đoạn KINH DO TĂNG GIÀ LA SÁT TẬP THÀNH

 

Giới thiệu chung

Đây là một tuyển tập các bài thuyết pháp quan trọng được biên soạn và hệ thống hóa bởi một vị đại sư lỗi lạc người Ấn Độ, sống vào khoảng thế kỷ thứ hai hoặc thứ ba sau Công nguyên. Nội dung của tác phẩm chủ yếu tổng hợp những lời dạy cốt lõi của Đức Phật về con đường tu tập giác ngộ, từ những nền tảng luân lý đạo đức cơ bản cho đến các phương pháp thiền định và quán chiếu tuệ giác sâu sắc. Tuyển tập này đặc biệt chú trọng đến việc làm rõ các giai đoạn chuyển hóa tâm thức, trình bày chi tiết về cách đối trị với những phiền não, tham sân si để dần tiến tới trạng thái giải thoát. Các câu chuyện ngụ ngôn, những ví dụ sinh động và các bài kệ mang tính chất răn dạy thường xuyên được sử dụng để minh họa cho những khái niệm triết học vốn trừu tượng. Tác phẩm đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong việc bảo tồn và lưu truyền những di sản tư tưởng quý báu của Phật giáo nguyên thủy trong bối cảnh các trường phái bắt đầu có sự phân hóa. Việc nghiên cứu tuyển tập này giúp các học giả và hành giả đương đại có cái nhìn toàn diện hơn về quá trình phát triển của văn học Phật giáo buổi đầu.

Mục lục

Phần mở đầu

BÀI TỰA & QUYỂN THƯỢNG

Tăng Già La Sát, người nước Tu Lại. Sau khi

đức Phật nhập diệt 700 năm, ngài sanh ở nước này, xuất gia học đạo, du

hành, giáo hóa các nước, cho đến lãnh thổ nước Kiền Ðà Việt, làm thầy của

vua Chân Ðà Kề Nị. Ngài là bậc cao minh tuyệt thế, có nhiều dịch thuật và

sáng tác. Tại nước đó, ngài tập thành kinh ”  Tu Hành Kinh ” và ” Ðại Ðạo

Ðịa Kinh “. Ngài lại trước tác Hiến chương của kinh này rằng: ” Ðức Thế

Tôn từ lúc mới thành đạo đến nay bị chìm đắm hư vô, sở hành không có lớn,

nhỏ, phải theo sự việc mà luận bàn, từ việc du hóa, hạ tọa an cư, không

việc gì mà không thiếu sự khúc chiết. Tuy bổn hạnh chiếu khắp, vấn đề độ

đời như các kinh chép. Ðức Phật lúc đi, lúc ở thì hết sức bất ngờ. Nay xem

kinh này mà nhiều người được ngộ đạo, truyền bá cho đến nay. Cho dù ta có

được sức lực của đại lực sĩ, chân thật không hư dối, đứng ở dưới cây này,

tay vịn lá cây mà bỏ thân mạng. Cho dù có thế lực to lớn của con đại tượng

cũng không thể di chuyển được ta tí nào. Ngay lúc trà tỳ cũng không đốt lá

cây này, nhưng sau đó ta liền đứng mà mạng chung. Vua Kế Nị Tự đến nhưng

không thể lay động được. Vua liền dùng voi lớn kéo nhưng vẫn bất động, đến

chỗ trà tỳ, hơi nóng bốc lên mà lá vẫn không thương tổn. Ta liền bay lên

cõi trời Ðâu Thuật, cùng đàm luận điều cao xa trong của đạo sĩ  Di Lặc, lá

vị Phật sắp bổ xứ vào thời Hiền kiếp thứ tám “.

Vào năm 20 niên hiệu Kiến – Nguyên, Sa môn

Tăng Già Bạt Trừng, người nước Kế Tân mang kinh này đến Trường An, Thái

thú Võ Oai là Triệu Văn Nghiệp xin phép được xuất bản. Ngài Phật Niệm

phiên dịch, ngài Huệ Trung làm Bút thọ, chính lúc ngài Mộ Dung gặp nạn ở

ngoài thành (cận giao), nhưng dịch phẩm không ổn (?). Tôi cùng với Pháp

Hòa đối chiếu để kiểm định, đến ngày 30 tháng 11 mới xong. Năm này xuất

bản 60 quyển kinh A Hàm, 46 quyển kinh Tăng Nhất A Hàm, trong lúc đánh

trống (phạt cổ), gõ mõ (kích thác) để phổ cáo, xuất bản hơn 100 quyển kinh

này. Dù lúc cùng đường hay thông suốt vẫn không biến đổi, há chẳng phải là

di tích xưa của tiên sư đó sao?”.

TỲ KHEO TĂNG  GIÀ LA SÁT

THÀNH KINH PHẬT HẠNH.

Quyển thứ nhất

Bấy giờ Bồ tát lúc mới tu hành, vì thương

xót thế gian nên phát tâm với đạo. Vì Ngài xuất gia cho nên thực hành

nhẫn nhục; vì không tương ứng  nên tâm Tam muội bị đoạn; vì vô trí nên

hành trí huệ Kim-cang ; vì để trừ bỏ sự đùa giỡn, hành chơn đế, cho nên

từ bỏ ý ô uế ; vì trực hạnh nên hành khổ hạnh; vì có lòng từ hiếu với

cha mẹ cho nên kiên cố không bỏ thệ nghiện. Vì ly dục cho nên làm theo

điều nhiêu ích ; vì đã niệm báo ân cầu giải thoát cho nên mặc áo cà sa;

vì muốn tịch tĩnh ở nơi núi rừng cho nên không để ý mọi việc ; vì hành

giả tìm hiểu nơi người thân cho nên biết thân mình là sự trói buộc ; vì

miệng thực hành không nói dối cho nên đối với tất cả gốc khổ, ý không

niệm nhưng không xả hiện hữu vậy.

Hoặc lại lúc Bồ tát thực hành trí huệ,

nhờ những điều đã biết cho nên gọi là trí huệ, luôn luôn trong mọi hành

động của Ngài và sự không hiểu sâu nghĩa lý của các chúng sanh, Ngài mãi

mãi khuyến hóa, phân biệt bằng trí tuệ xác quyết của Ngài: đây là sâu,

đây là cạn, thanh tịnh, rất có lợi; đây là ác, đây là xấu, thân cận

thiện tri thức; pháp này không loạn, vô lượng vô hạn, cũng không tăng

giảm. Giống như cái kiếm, cái kích đã chặt thì đứt, trí huệ của Ngài

cũng lại như vậy. Vì hiện đệ nhất nghĩa cho nên có trí huệ sáng suốt ;

vì ý mình tối tăm, bế tắc cho nên mở cái thấy tương ứng với sự sáng suốt

; nhờ có cái hạnh nên căn môn đầy đủ. Vì không khiếp nhược cho nên thể

hiện oai lực của mình, vì muốn đoạn tài nghiệp bất thiện nên hiện ra có

tài nghiệp; bất thiện là không thể nắm bắt được, cho nên hiện ra trân

bảo như vậy; vì đoạn mạng cho nên hiện ra thọ mạng; vì đoạn các kiết sử

cho nên ra sức quán sát việc lâu xa; cùng người phân biệt đều khiến cho

họ giải quyết rỏ ràng để cứu mạng họ khỏ bị nguy khốn; vì sự ưu sầu cho

nên khởi tâm hoan hỷ; vì để dứt ý không khởi cho nên lìa pháp ác mà

thành tựu thiện pháp; vì bỏ tà theo chánh, nhờ vậy cho nên Ngài thành

tựu sức mạnh trí tuệ. Vì sự sanh tử cho nên muốn đoạn vọng kiến, đến chỗ

giải thoát. Vì dạo khắp thế gian cho nên tu hành tất cả cảnh giới. Cứu

cánh của nhất thiết trí và để đạt đến vô vi (Niết-bàn).

Khéo đứng không di động

Liền đến cõi Bất hoàn

cả trăm kiếp tu hành

Không có tưởng ba đời

Không có sợ sanh tử

Tiêu diệt hết ba cõi

Muốn thanh tịnh chúng sanh

Ngài không còn hy vọng.

Bấy giờ, khi Bồ tát tu hành chân đế, tên

của chân đế đó là tâm không hư vọng. Không nói hai lời, thường vui thích

việc đó, cũng không có bỉ – thử, luôn luôn vui thích sự thật ấy; trong

lúc thức hay ngủ, chưa từng đù giỡn, cũng không thích nói dối.

Lại nghe: Ngày xưa có một vị Vua tên là

Tu Ðà Ma, ở trong cung vua có chế ra loại trống pháp để thống lãnh 4

cõi, khi đánh lên thì quần thần, nhân dân không ai không nghe. Vị Vua có

đức như vậy, đi đến ao nước để tắm rửa, cởi lên xe Vũ Bảo, muốn ra khỏi

thành. Bấy giờ có một Bà la môn nhan sắc đoan chánh, thông minh trí tuệ,

muốn đến chỗ Vua để xin châu báu. Bà la môn liền tâu với Vua, tự xưng

tên họ, đưa tay lên, nói lời cầu xin.

Bấy giờ nhà vua nghe tiếng nói người hành

khất liền hoan hỷ, mới bảo rằng:

– Thôi đi, thôi đi, này Tôn giả ! Chờ ta

về nước sẽ cứu tế cho.

Phàm phép của Vua là không nói hai lời.

Nhà vua liền đến ao nước tắm rửa. Tắm rửa xong liền muốn trở về nước.

Bây giờ có con quỷ có cánh bay (Sí-Phi) tên là Yết-Ma-sa-ba-la, hiện

tướng khủng bố, tay cầm thân Vua. Khi ấy nhà vua liền tự rơi nước mắt.

Lúc đó con quỷ quán thấy tâm của nhà vua như vậy, liền hỏi:

Tại sao Ðại vương ? Vì sao Ngài lại khóc,

có tâm ưu sầu thế này?

Bây giờ Bồ tát trả lời:

– Ta không có cái tưởng về thân ta. vì ta

có hứa cho của báo cho vị Bà la môn cho nên ta mới ôm lòng sầu lo như

vậy.

Khi ấy con quỷ nói với nhà vua:

– Tôi chưa bao giờ nghe chuyện hết sức kỳ

quặc như vậy. Thế gian rất hiếm có. Nếu vì nhân dân của Ngài, vậy tôi

cũng đến để xem thử. Nay nếu tôi thả Vua ra, vậy Vua có trở lại chăng ?

Bây giờ Vua hết sức sung sướng.

Khi ấy con quỷ có hai cái cánh, nó bay

lên hư không, quán xét lời nói của Vua, liền thả Vua ra.

Bây giờ Bồ tát trở về nước, hoan hỷ lấy

của cho Bà la môn ấy. Ðó chính là lời nói sự bố thí không hu vọng, không

hối hận, có sự thẩn xét chân thật.

Khi ấy vị quốc vương liền trở lại chỗ

con quỷ, tự xưng tên họ nói:

– Ta đã đến đây.

Bây giờ con quỷ thấy hình mạo của nhà vua

liền kinh sợ, vì Vua đã nói lời thành thật. Nhan sắc của Vua không thay

đổi, trừ bỏ sân hận, không có ý sát hại. Nó liền nói:

– Thật là chuyện hết sức kỳ dặt, ta chưa

từng nghe bao giờ.

Nó nói bài kệ:

Ta thà uống chất độc

Dao bén cắt thân thể

Phước xưa sanh vương tộc

Dũng mãnh không hư dối

Nay tôi tôn kính Vua

Cải hối, tu hạnh thiện

Nước đồng sôi đổ miệng

Ai dám hại Pháp vương ?!

Ðức Ngài không ai bằng.

Nên theo với quốc vương

Theo Vua, không giết nữa.

Cúng sanh được an lạc.

Bây giờ  khi Bồ tát tu hạnh nhu hòa, tâm

Ngài  nhu hòa, có danh tiếng tốt, lời nói không thô bạo. Vì muốn cầu

pháp nên thường gìn giữ ý, chưa từng sanh lòng oán ác, không sanh hy

vọng, miệng không nói lời ác; vì người ngu si nên hiện tướng trí huệ ;

vì từ tâm cấu uế nên ai cũng khen ngợi, không có ý tưởng tự cao, không

tùy thuận các điều hư huyễn. Nhờ chư Phật  ủng hộ nên đạt được cái đức

như vậy. Ngài cũng không có điều gian ngụy. Những ô uế như vậy thảy đều

tránh xa. Bên trong Ngài có được tâm nhu hòa, thiện căn vốn đầy đủ, mọi

người đều mến yêu; Ngài không tiếc thân mạng nên thần tiên đều khen

ngợi. Ngài có sự nhu hòa như vậy thì có thể quán biết quả báo thiện ác

của Ngài. Trí huệ công đức của Ngài đầy đủ như đã nói trên. Gốc thiện

cũng không đoạn mất khi bần cùng. Ngài bố thí vàng bạc, châu báu để trừ

bỏ các ô uế. Lúc Ngài thọ 10 tuổi, gặp điều ách nạn, vì muốn tự tại sống

còn nhưng Ngài cũng không sát sanh. thân tạo nghiệp lành, tâm sanh của

cải, miệng thì truyền giáo. khi hành động tạo nghiệp, Ngài trừ khử những

điều ô uế ngăn che.

Bây giờ, này các Tỳ Kheo, người ở thế

gian có thân đã được dừng nghỉ, nó không phải là sở hữu của thiện ác,

những ý tưởng sở hữu đã chất dứt hoàn toàn, nhờ đã chấm dứt hoàn toàn

nên xa lìa sự nhiễm trước mà đời trước đã tạo ra. Khi nhiễm trước đã

đoạn, đã hết nên không tạo ra nữa, nên đoạn trừ gốc khổ, hết sự bại

hoại.

Nói như vậy xong, làm pháp trụ này, ở

trong diệu pháp tâm sâu ấy, như tay cầm bánh xe 6 tháng mà không giãi

đãi.

Các đức Phật Thế tôn đều biết rỏ hết, đều

thành tựu hết. Bây giờ liền nói bài kệ:

– Không tạo ý dua nịnh

Nên không tạo nghiệp ấy

Ý dũng mãnh như biển

Ðầu mặt con đảnh lễ

Biết rõ nghiệp tà pháp

Luôn quán sát như vậy

Nhu hòa không thô bạo

Vô trước, đời hiếm có.

Bây giờ, lúc Bồ tát từ hiếu đối với cha

mẹ, tâm Ngài có sự báo ân, cung kính, thừa sự, xa điều ác, theo điều

thiện, tùy thời cúng cấp, tối ngủ dậy sớm thăm dò ý cha mẹ, không việc

gì mà không làm. Những điều cha mẹ giáo huấn, ngăn cấm, chưa từng vi

phạm. Ngài có tâm nhu hòa như vậy cho nên mới có việc làm như vậy. Tâm

Ngài đã tu hành, thường tự quán sát, nên làm việc gì, những điều đã nghe

giáo huấn liền biết rõ. Tâm thường hoan hỷ, ái kính tất cả. Nhớ nghĩ,

biết rỏ tâm của cha mẹ nên thường nghĩ việc muốn báo ân. Ðiều này không

bao giờ có: đó là không nói lời thô bạo.

Lại nghe, ngày xưa, lúc Ngài chưa thành

Bồ tát, còn làm con đại tượng vương, đoan chánh vô song, đầu,mắt, da,

lông thảy đều đoan chánh, ai xem cũng không chán, tai dầy, sung mãn hơn

các con voi khác, răng dài, móng vuông vức, có tâm vui thích, môi răng

đều đỏ, đầu tai đều tròn trịa. Hình thể vuông vức, hết sức to lớn, cao

rộng, giống như hòn núi cao, bước đi chững chạc, bảy chỗ đầy đủ, giống

như hoa sen xanh, bước đi vững vàng không có trở ngại, do long nữ sanh

ra, rong chơi trong núi đầm, sắc như tuyết trắng. Khi bị thợ săn bắt

được, dắt đi, bấy giờ cây cối, núi rừng thảy đều nghiên mình buồn thảm,

nước tự dâng lên chỗ voi ở, Thợ săn đem dâng các đồ  ẩm thực ngon ngọt,

nhưng voi vũng không chịu ăn.

Bấy giờ người huấn luyện voi đến trước,

quỳ dài chắp tay nói với con voi ấy bằng bài kệ:

– Tôi vốn tạo thiện tâm

Sao lại không chịu ăn

Mời voi thần đến đây

như có tâm oán hận ?

Bấy giờ voi thần liền nói kệ đáp lại:

– Mẹ tôi bị mù mắt

Nhớ mẹ không thể ăn

Già yếu thêm sầu não

Cho nên xin tha mạng.

Ở trong núi sâu kia, mẹ tôi không ăn, đói

khát, chắc chắn sẽ bị chết, việc này hết sức độc hại, thống khổ làm cho

mẹ con phải ly biệt. Vì sự sầu lo ấy nên tôi không thể ăn được. Không có

quả ngon để dâng cho mẹ tôi, như vậy, cả tôi và mẹ tôi đều chết.

Con voi thần nói những lời chua cay ấy

xong, lúc ấy người thợ săn liền hoan hỷ thả voi ra.

Bấy giờ ở nước Câu Tát La có một trụ xứ ở

ẩn của một học sĩ tên là Diễm Thí. Vị này tu hành thập thiện đầy đủ công

đức, ôm bát đi lấy nước. Khi ấy quốc vương nước Câu Tát La xuất hành để

đi săn, đuổi theo con nai từ trong núi phóng ra. Nhà vua liền buông tên,

lỡ bắn trúng Diễm Thí. Bấy giờ Diễm Thí kêu la, lo cho cha mẹ, nói:

– Tôi giống như con chim mà không có hai

cánh, Cha mẹ tôi tuổi già, mù lòa không thấy đường, nay tôi bị trúng tên

độc, đều sẽ phải chết. Cha mẹ tôi thì tu Tứ đẳng tâm.

Liền nói bài kệ:

– Vì cha mẹ tôi già

Khi cha mẹ sanh con

Tự giác và giác tha

Như sắc, thinh và văn

Tối thắng thương quần sanh

Phát tâm đều diệt độ

Mắt mù không thấy đường

Muốn được nhờ sức con

Tất cả đồng tự tướng

Người trí tự dứt ý

Ðều đưa đến đạo tràng

Tối diệu nghĩa thế gian.

Lúc mới phát tâm thì gọi là Bồ Tát, có

các hạnh như vầy: tiêu diệt vô minh, mà không có khả năng trừ vô minh.

Vì muốn hiện trí tuệ sáng suốt để tu hành nên trừ bỏ cái sở giác. Bồ Tát

quán sát như vầy:   Bấy giờ đối với các loại chúng sanh, thiện ác thực

hành lòng đại bi.Vì thương xót thế gian cho nên phát tâm đến với đạo.

Chúng sanh đều là ái trước, cũng không tự dùng năng lực để trừ sở giác.

Bồ Tát quán sát như vậy. Bấy giờ đối với các loài chúng sanh mà khởi

lòng đại từ. Chúng sanh bị sắc trói buộc, bị dục ái trói buộc, không ai

có thể hiểu sắc, ngoại trừ người trí tuệ.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với chúng

sanh khởi lòng đại từ. Ðó là: Chúng sanh bị hai ý niệm oán và ghét giao

nhau, trói buộc, không ai có thể biết được điều ấy, ngoại trừ người có

trí.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với loài

chúng sanh mà khởi tâm đại từ, đó là: Chúng sanh bị gánh nặng khổ, bị

khổ làm hại, không ai có thể vượt qua gánh nặng khổ này, ngoại trừ người

có trí.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với loài

chúng sanh mà phát sanh đại từ, là: Loài chúng sanh thường ôm lòng sợ

hãi, trăm thứ khổ cùng lúc ập đến, không ai có thể trừ được sự sợ hãi

này, ngoại trừ người có trí.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với loài

chúng sanh khởi tâm đại từ, đó là: Loài chúng sanh bị sự đói kém, khát

ái áp bức, không ai có thể trừ được đói kém này ngoại trừ người có trí.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với lòng

chúng sanh khởi lòng đại từ, đó là: Loài chúng sanh bị bệnh khốn bức

bách, một bệnh chuyển động thì trăm thứ bệnh tăng, không ai có thể thoát

khỏi bệnh này, ngoại trừ người có trí.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với chúng

sanh khởi lòng đại từ, đó là:  Loài chúng sanh bị sanh, già, bệnh, chết

thường theo đuổi thân mà bị tai hoạn. Không ai có thể thoát khỏi sanh,

già, bệnh, chết để được vô vi ngoại trừ người có trí.

Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với chúng

sanh khởi tâm đại từ, đó là: Loài chúng sanh mọi việc đều trở thành bỉ

Đọc tiếp: BÀI TỰA & QUYỂN THƯỢNG →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *