KINH DO TĂNG GIÀ LA SÁT TẬP THÀNH · Chương 3/3
QUYỂN HẠ
Bấy giờ đức Thế Tôn nói về đạo tích như
thế nào?
– Khi Ngài nói về đạo tích, giống
như con đường lớn của nhà vua thì gọi đó là Vương-Lộ , đối với tinh tú
thì gọi là đường đi của tinh tú. Ở đây cũng như vậy, đi đế Niết
Bàn. Ðó là đẳng kiến xứ sở , đẳng chí, đẳng ngữ, đẳng mạng, không có sai
khác, đẳng phương tiện không khuyết lậu, đẳng niệm vô lượng, đẳng Tam
muội, sắc không đổi khác. Duyên nơi đó, hoặc bao nhiêu sắc, không có dâm
dục cũng không có trần cấu, vĩnh viễn không khởi kiết sử nữa, không có
ái trước sắc, cũng không có các gai nhọn, vì muốn diệt ái cho nên cũng
không có bùn lầy, vì muốn trừ bỏ tà kiến cho nên đầy đủ đẳng kiến
(chánh kiến) vì đẳng diệt các kiết sử cho nên chúng không còn khởi lên
nữa. Nhờ có quả vi diệu ấy cho nên hiện các thứ nghĩa, vì muốn trừ
bỏ hy vọng cho nên không có các tưởng, vì muốn cầu giải thoát an lạc cho
nên các quả thành tựu, vì không chấp vào sự giải thoát nên bình đẳng độ
các danh sắc. Vì du hành trong đó nên đạo này là một chứ không có hai,
đều được đến chỗ đệ nhất nghĩa, lấy đó làm sở duyên. Vì một lần đến với
đạo, tự tâm thệ nguyện, gọi đó là Nhất Nhập.
Bấy giờ đức Thế Tôn dùng đệ nhất biện
luận để biết đạo, hay nhờ tự giác tri nên không bại hoại, nhờ đã làm các
nghiệp tốt nên không có loạn tưởng, quả báo đã thành tựu, được các căn
lành, hay giác ngộ các chúng sanh, Ngài nói đạo này để khiến chúng
sanh được đến Vô Vi.
Bấy giờ liền nói bài kệ này:
Hưng khởi các chúng sanh
Bằng đạo pháp cam lồ
Phật có công đức này
Là đệ nhất thế gian
Ngày nay con tự được
Ðủ cấm giới thanh tịnh
Nói cho người Tu luân
Cho nên con đảnh lễ.
Bấy giờ đức Thế Tôn biết nay cần phải
giáo hóa Ương Khuật Man. Ngay khi ấy Ngài không có ngôn luận với Ác tri
chính thức, khi đã giác ngộ liền đến với đạo. Chỉ có một người
tồn tại, máu chảy như sông, ngập đường, mọi người đều biết chim quạ,
chim Thứu nơi nơi bay đến để ăn thịt. Khi ấy Ương Khuật Man đi nhanh như
gió. Nếu lúc y giở chân lên thì bầy nai, chim chóc đều hoảng hốt bỏ
chạy.
Bấy giờ Ương Khuật Man ở trong vườn Xà
Lê, ngó bên tả liếc bên hũu chẳng thấy ai cả, chỉ thấy có đức Thế Tôn
đoan chánh vô song, sắc thân vàng tía, lưng Ngài thẳng đứng thân
thể rất mềm mại, thong dong tản bộ, Ương Khuật Man dùng hết sức đuổi
theo sau đức Như Lai. Khi ấy đức Thế Tôn vẫn đi thong thả như ông
vẫn không đuổi kịp.
Bấy giờ đức Thế Tôn liền biến mặt đất này
trở thành hầm hố gai góc, vì vậy cho nên ông ta không đuổi theo
kịp Ngài, hoặc có chỗ nói: ” Chân Ngài bước nhẹ trên mặt đất mà
ông ta không thể theo kịp đức Thế Tôn “. Hoặc có chỗ nói: ” Ngài
hóa Tứ đại vô sắc cho nên nhãn thức không thể thấy được “. Hoặc có
chỗ nói: ” Công đức của Phật không thể nghĩ lường, dù sức của Ương
thuật Man có như voi hung cũng không thể địch nổi. Song oai lực
của Phật thì không thể nghĩ bàn được. Dù cho một ức, trăm ngàn con Thần
Long có sức mạnh của đại lực sĩ cũng không thể gần đức Như Lai
được.
Bấy giờ Ương Khuật Man khen rằng:
– Thật là chưa từng có, liền bạch đức
Phật:
– Ý của Ngài rất là kỳ đặc, Ngài không có
ý sân hận, giết hại.
Ông suy nghĩ rằng:
– Ðây là ân đức của ai? Ðây chắc là thần
Nhân chăng? Giống như trong đời ác thế này lại được sự tốt đẹp.
Giống như đói khác mà có lợi. cũng như sanh ra ý nghĩ thương yêu. Song
ta không thể chạy theo kịp Ngài. Vị này chắc chắn là Thiện Tri Thức. Nay
ta đứng một cách mệt mỏi ! Từ xa ông nói với Thế Tôn:
Hãy vì thân của con
Thế gian khó nghe thấy
Nay con thấy đức ngày
Xin dừng lại giây lát.
Ðức Thế Tôn bảo rằng:
– Tự ngươi không đứng, lại nói ta đứng.
Khi ấy Ương Khuật Man bạch đức Phật:
– Tự Sa môn không đứng
Tôi đứng bảo không đứng
Sao bảo tôi không đứng
Xin Thế Tôn nói rõ.
Bấy giờ đức Phật bảo:
– Không làm ác là đứng
Trì giới che chở người
Như đệ tử Ca Diếp
Vì vậy ngươi không đứng.
Bổn hạnh của Ương Khuật Man có chút ít,
vĩnh viễn bỏ các điều ác, như làm máu chảy ô uế thân thể. Ông liền bỏ
kiếm xuống, đứng qua một bên, bạch đức Phật:
Nay Ngài là Thầy con
được gặp Thánh sư này
Con xin làm đệ tử
Không phạm cấm giới ngài.
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo rằng:
– Thiện lai Tỳ kheo.
Rồi Ngài nói bài kệ:
Giống như nước biển cả
Cũng sanh khói lửa nóng
Ai chưa được hàng phục
Nay nghe ta giáo hóa
Ai đã khéo hàng phục
Thanh tịnh mà đắc độ
Ðã là đệ tử ta
như vậy không thọ hữu
Ai thấy cũng sợ hãi
Và các yêu quỷ thần
Là chỗ các quỷ thần
Ðấng tối thắng đến đó.
Bấy giờ quỷ A La Bà nghe quỷ Yết Ðà
Phi nói bừng bừng tức giận, sắc mặt đổi khác, lửa sân hận nổi lên làm
cho mắt như đồng đỏ, tiếng nói như sấm sét, rất tức giận, xí thạnh, lắc
đầu, bậm môi, chấn động thân thể, liền nói rằng:
– Ta ở thế gian cũng không thấy ai đến
chỗ ở của ta được, nó mới hồ nghi rằng: ” Tại sao người này đến được chỗ
ta ? ”
Các quỷ thần tên là Ba Ða, Lê Hê Ma Phi
Ðà làm thượng thủ (2 Thiện ly) sứ nói với đại quỷ thần kia rằng:
– Ðừng nói lời ấy. Ðức Phật Thế Tôn đối
với người chưa hàng phục thì Ngài có thể hàng phục .
Ngài có thể làm cho chúng sanh đạt được đạo vô thượng, Ngài khiến
cho chúng sanh hữu hình được ủng hộ. Ngươi làm như vậy là
không tương ưng với phước điền. nay ngươi nói lời thô
ác ấy là không phù hợp với Ngài.
Khi ấy quỷ này càng tức giận bừng
bừng hơn lúc trước. Bấy giờ quỷ A La Bà với hơi thở rất gấp giống
như lửa nóng, trông rất hung ác, liền bỏ cảnh giới của quỷ, bị sân
hận tấn công, làm cho thân thếch nó rất đen đúa, sắc mặt thay đổi
không giống lúc bình thường, miệng nhe bốn răng, tóc vàng như vàng ròng,
trên dưới giao nhau, máu người chảy làm hình dáng nó ô uế , ướt lẹp
nhẹp không khô, nó mặc da sư tử, da voi, da dê ngưu, vòng hoa lớn
trên đầu nó giống như vòng lửa lớn nóng bức, tay cầm dao kiếm,
khua dưới đất mà đi. Nó đập bể núi đồi, dời núi rừng, chặt đứt cây. Hoặc
nó nối mây lớn che khuất ánh sáng mặt trời, lấy nước rưới trên như
không, tiếng giống như sấm sét, nó liền đến (chỗ đó) muốn làm thương hại
đức Thế Tôn, các loại cây cối thảy đều đốt cháy, sắc mặt
thay đổi, tay cầm bánh xe, sấm sét đùng, nó sân hận như vậy, quán sát
đức Như Lai, làm các thứ biến hóa, chờ đợi đức Như Lai, làm các
thứ biến hóa, chờ đợi đức Như Lai phản ứng.
Bấy giờ đức Phật nói bài kệ:
Chúng sanh có lòng sợ
Tâm ta không di động
Nay được phép giải thoát
Không còn tâm sợ hãi
Lửa không làm lửa sợ
Cũng lại không sợ nước
Ngươi ôm các niệm ác
Làm sao hại được ta?
Bấy giờ quỷ A La Bà nghe đức Thế
Tôn nói liền tự dứt tâm, không thể phá hoại, nơi ấy là chỗ hãi
hùng, con người không đến đó, nó liền làm một trận mưa đá trên đức Như
Lai, nhưng những hạt mưa đá ấy không rơi xuống đất, chúng đều tan đi ở
chỗ khác, hoặc có hạt rơi trên thân đức Như Lai, chúng đều hóa
thành những hoa Mạn Ðà La.
Bấy giờ vua Quỷ thần thấy năng lực của
Như Lai, nó khen là chưa từng có liền phát ý hoan hỷ, đến chỗ đức Như
lai nói rằng:
– Sa môn đi ra mau.
Ðức Thế Tôn liền đi ra. Khi
ấy con quỷ này muốn thử đức Thế Tôn, liền nói rằng:
– Sa môn hãy vào lại .
Song đức Thế Tôn vẫn không có tâm oán
hận, Ngài liền trở vào. Như vậy cho đến ba lần, nói rộng như trong khế
kinh! Bấy giờ đức Thế Tôn liền nói bài kệ:
Ðế Thích và Phạm Thiên
Không động ta sợi lông
Huống chi sức của ngươi
Làm sao hại được ta?
Nay ngươi bỏ sân hận
Có điều nghi cứ hỏi
Ngươi có điều do dự
Ta sẽ giải thích cho.
Bấy giờ con quỷ kia liền hỏi rằng:
– Con người vì sao được ở trên? Nói rộng
như trong khế kinh.
Bấy giờ ở trong hiện pháp, chỗ đức
Như Lai, quỷ phát tâm hoan hỷ mà nói bài kệ này:
Chưa từng thấy điều này
Như vị sa môn đó
Ai bỏ được đại hải
Lấy nước dưới chân trâu
Xin hãy vì thân tôi
Mà nói về việc này?
Ai không uống vị này
Mà bỏ cam lồ đi
Như có người lực sĩ
Thấy người chìm dưới nước
Cứu kẻ đó thoát nạn
Ðể nơi bờ vô vi
Sắc đẹp không ai bằng
Người trí hãy quan sát
Sở dĩ có nghĩa này
Ðều nói ra pháp ấy
Ta nay quy y Phật
Tam Bảo rất tối tôn
Nếu ai cần điều gì
Tất cả được tế độ.
Nghe như vầy, Ðại thần Ngủ Ðịa ngụ tại
thành La Duyệt thuộc nước Ma Kiệt, Ðại Thế La Tha ủng hộ nhân dân có xe
cộ thật nhiều, đất đai phì nhiêu, Hiền Thánh nhân dân đều ở trong đó,
nhưng không bằng vị này, ăn như cam lồ, ba việc vi diệu, cũng không có
các phiền não. Giống như vườn Hoàn của Nan Ðà là bậc nhất trong chư
Thiên.
Bấy giờ đức Thế Tôn rất tối tôn không ai
sánh bằng. Khi ấy Ðiều Ðạt ở chỗ đức Thế Tôn thường ôm lòng sân hận,
chưa hề dừng nghỉ, ông làm phi pháp. Do vì lòng sân hận, ông leo lên núi
Kỳ Xà Quật, nơi ấy có nhiều viên quán, cây cối sầm uất, nguồn suối trong
vắt, tay ông cầm đá muốn ném vào đức Như Lai, ông liên đôi đá. Khi ấy
cục đá là vật vô tình mà còn tự mình có thể kềm chế từ từ rơi xuống đất.
Vì Ðiều Ðạt có việc làm phi nghĩa này,
cho nên tất cả bọn quỷ thần giữ cục đá lại muốn cho cục đá không rơi
xuống đất. Còn quỷ Kim Tỳ La, đang ở trong núi Kỳ Xà Quật, dùng sức lực
của chính mình, khi thấy cục đá sắp rơi liền nghĩ rằng: ” Viêc đó tuy là
nghiệp ác, song bọn Dạ Xoa chúng ta, thà lấy thân mình để hứng lấy cục
đá ấy, để cho đức Thế Tôn được hưởng trăm ngàn sự an lạc. Vậy ta nên làm
việc này, liền nói bài kệ:
Tâm thanh tịnh không uế
Khởi lên bao nhiêu nghĩa
Nay ta thà mất mạng
Không hại bậc tối thắng!
Bấy giờ Ðiều Ðạt liền dùng đá đôi lên đức
Thế Tôn. Khi ấy, ở trên núi, con quỷ kia dùng tay để chụp cục đá, có một
mảnh đá rơi trúng đức Như Lai làm cho ngón chân của đức Phật chảy máu.
Vì thọ lấy quả báo này cho nên Ðiều Ðạt đã chịu vô lượng tội. Do quả báo
này mà ông ta phải đọa vào địa ngục.
Ngay khi cục đá rơi xuống đất, lúc ấy chư
Thiên cõi trời thứ 33 rải hoa cúng dường đức Phật bằng không, giải
thoát, khi tung hoa đầy cả hư không, ngang nơi giảng đường Thọ Hóa, dưới
cây Trú Ðạt Thọ ở cõi trời thứ 33.
Ðức Phật phóng luồng ánh sáng chiếu xa,
không có lòng kiêu mạn, từ bi với chúng sanh.
Khi ấy Phả La Ðọa, Phạm Chí dùng 500 việc
để chửi mắng đức Thế Tôn.
Tôn giả Xá Lợi Phất, bằng cơ xá… Các Tỳ
kheo khen ngợi đức Như Lai.
Bấy giờ đức Như Lai dù bị hủy nhục, Ngài
vẫn không lấy đó làm buồn, hoặc lúc được khen ngợi Ngài vẫn không lấy đó
làm vui.
Bấy giờ liền nói bài kệ:
Khi khổ, tâm không dời,
An minh, tâm không động
Dứt ý, thật kiên cố.
Cho nên lạy Thần Tiên
Ngài vì các chúng sanh
Nên công đức vô lượng
Như người cha yêu con
Ai mà chẳng lạy Ngài.
Từng nghe như vầy:
– Ðức Thế Tôn ở tại nước Ma Kiệt. Bấy giờ
đức Thế Tôn có đầy đủ công đức vô lượng, đến giờ đắp y ôm bát, có đại
chúng đanh vây, các căn đầy đủ Ngài quán sát thân mình, Ngài cũng không
có các não loạn, bước đi vững vàng, thong thả hướng dẫn vô số chúng Tỳ
kheo, muốn đưa họ đến bỉ ngạn.
Ngay lúc bấy giờ Quốc vương Ma Kiệt có
một con voi tên là Ðàn Na Ba La, hình mạo đoan chánh, trên đầu sanh ra 3
cục (bứu) thịt dư, tiếng rống trong trẻo, đâu cũng nghe, ý muốn thành
tựu, khó ai có thể chế ngự được. Nếu nghe tiếng lạ nó liền tức
giận, nếu nó tự ngoái lại xem hình nó ở dưới nước, nó cũng tức
giận, không ai dám đứng trước nó, mà đuột như ý. Nếu khi chiến đấu
nó cũng không mất sức , cũng không yếu đi chút nào.
Bấy giờ đức Thế Tôn đi vào thành ấy,
trong thành có đầy đủ lầu, gác tường, hào để ngăn chận quân địch, nhân
dân đông đúc, hoặc có người buồn rầu, hoặc có người vui mừng, họ
đề sợ đức Như Lai bị hại, họ muốn thân cận đức Như Lai.
Khi ấy Ðề Bà Lạt Ða cho con voi uống rượu
say rồi thả voi ra, khi Ðiều Ðạt thả voi say ra rồi, liền nói bài
kệ:
Tự xưng có đại lực
Và thân có 10 lực
Ngày nay đã tập hội
Bị tiêu diệt ở đây.
Bấy giờ đức Thế Tôn không hề có sợ hãi,
liền nói bài kệ:
Có ngàn Y La bát (Long vương)
Cũng không thắng được ta
Huống con trùng nhỏ này
Muốn hại bậc cao tột.
Ngay khi ấy Ngài cũng không có tư tưởng,
nên liền nói bài kệ này:
Sức mạnh của vô dục
Chúng sanh có lòng dục
Ta trừ quả báo dục
Cũng không có loạn tưởng.
Lại nói bài kệ này:
Nay ta tuy phá hoại
Voi lớn rất kiên cố
Nay ta hàng phục nó
Bậc vô thượng ngàn đời.
Bấy giờ con voi Ðàn Ðà (?) Ba La nhìn kỹ
hình sắc đức Như Lai rất là đen, thấy Ngài là con voi có cánh, có
đuôi thân vuông vức, ngay thẳng, thấy xong nói liền sợ hãi, chạy về
hướng đức Như Lai .
Bấy giờ các Tỳ kheo nhờ thần lực đức Như
Lai, theo lời dạy của đức Như Lai, nên tránh xa con voi ác này, họ liền
chạy xa chỗ đức Như Lai, chỉ có tôn giả A Nan là đứng sau đức Như Lai.
Vì tôn giả trong vô số đời thường ở chung với đức Như Lai nên hôm
nay tuy không nhớ những thân mạng trước nhưng vẫn không bỏ đức Như Lai
mà đi.
Khi ấy con voi Ðàn Na Ba La bị lửa
sân thiêu đốt trong thân dữ dội, nó muốn hại đức Như Lai.
Bấy giờ lửa sân hận của nó từ từ lắng xuống. Nói rộng như trong khế
kinh. Khi ấy Ngài dùng bàn tay có tướng bánh xe hết sức vi diệu không ai
sánh bằng, lúc đó đức Như Lai đưa bàn tay đặt lên trên đầu con voi, ngài
dùng lòng từ bi, không có tâm sân hận. Con voi nghe đức Thế Tôn
nói, nó liền rơi nước mắt nó gục đầu, mặt trên chân đức Như Lai, lấy
lưỡi liếm chân Ngài, không di động. Bấy giờ con voi ôm lòng sợ hãi, thân
thể bất giác không còn sức lực, nghị lực nào. Sau đó đức Thế
Tôn, vì lòng Hiền Thánh, liền nói bài kệ:
Không có dục kiêu mạn
Thế Tôn không trần cấu
Khi phát tâm từ bi
Sẽ được sanh thiên xứ.
Bấy giờ đức Thế Tôn dùng âm hưởng (tiếng
vang) này, càng thêm hoan hỷ, nhan sắc hòa duyệt, ngay nơi chỗ đức Như
Lai con voi dùng trán, mũi, chạm vào chân Như Lai rồi trở về bổn quốc.
Có nhiều nhân dân thấy việc này cho là chưa từng có. Con voi nhờ được
hàng phục, nên có tâm hoan hỷ, không sợ hãi, đều có lòng tín nhạo
đối với đức Như Lai .
Bấy giờ liền nói bài kệ rằng:
Như núi không di động
Huống chiến thắng sân hận
Ðể chiến thắng oán địch
Như rồng Y La Bát
Có công đức như vậy
Sức lực không ai bằng
Hùng sư tử giữa người
Con mãi mãi cuối lạy
Chúng sanh loại như vậy,
Không có tâm ngu si
Ba cõi phục danh Ngài
Giác ý không ai bằng.
Chúng sanh loại như vậy,
Có tai hoạn sân hận
Tâm Ngài đã chấm dứt
Lòng kiên cố bay khắp
Trí tuệ như An lạc
Tâm tịnh không đám trước
Thập lực đều đầy đủ
Cho nên con cúi lạy.
Bấy giờ nhà vui giống như mặt trăng trên
hư không, không có các trần cấu, tịch tịch mọi việt đều thành tựu, có
bảy thần tiên đều là ngọc anh lạc cũng không có trần cấu, ngôi sao chính
là ngọc anh lạc, giống như con rồng Y La Bát, đi đấng đâu là có mây bay
theo sau, có các thứ anh lạc để trang nghiêm thân. Ðối với những
người đã nghe danh vua giống như con voi thần ấy du hành, có ngọc
báu, cũng không có hồ nghi, có Ðàn Na Ba La loại binh chủng, nhân dân tự
vây quanh, vua ở trên con voi ấy đốt lửa, vòi voi nắm đuốc.
Bấy giờ đức Thế Tôn ở tại thành La Duyệt
Kỳ, nhà vua muốn thấy đức Như Lai, hiện đi đến chỗ đức Thế Tôn. Khi ấy
đức Thế Tôn thấy nhà vua ở đó, thống xuất vô số binh chủng doanh
vây, nhà vui liền suy nghĩ rằng:
– ” Từ xa đến đây, ta nên tự giữ
mình “. Khi đã nghĩ như vậy, nhà vua liền bảo Kỳ Bà rằng: – Ngươi
không hại ta chứ?.
Bấy giờ nhà vua, trong khoảnh khắc nhan
sắc đoan chánh không ai bằng, đứng trước mọi người, như hoa trái tươi
tốt, cũng không có các trần cấu, ba bộ đầy đủ, giống như ong chúa, có
tiếng van náo động.
Khi ấy ở viên quán, các Tỳ kheo Tăng
trước sau đoanh vây, từ xa nhà vua muốn thấy đức Như Lai, thấy vậy rất
đông người quay lại nhìn Kỳ Bà, bảo rằng:
– Cái vật ở ngay chính giữa đỉnh Ngài đó
là cái gì?
Lúc đó Kỳ Bà tâu với vua rằng:
– Cái đó gọi là nhục kế vậy.
Bấy giờ nhà vua lại hỏi:
– Cái nhục kế ấy là tự nhiên hay chẳng tự
nhiên?
Kỳ Bà tâu với vua:
– Cái đó là do thành quả của đức Phật đã
gieo,chứ không phải ngày nay mới tạo ra.
Vua lại hỏi:
– Lại do cái quả gì mà thành Bồ – Tát? Từ
đó sanh ra đã thai, đã tạo hạnh, đã tạo ra thân? Nói rộng như trong khế
kinh.
Bấy giờ nhà vua lại nói bài tụng này:
Giống như mặt trời sáng
Hoặc có bao nhiêu loại
Không gì hơn nhục kế
Huống lại có các tướng
Nhan sắc đã hòa duyệt
Năng nhân không khiếp nhược.
Ðã phóng ánh sáng này
Chiếu khắp 10 phương cõi.
Bấy giờ nhà vua liền đến chỗ đức Phật,
đức Phật bảo Kỳ Bà rằng:
– Tại sao nhà vua lại nói lời ấy?
Kỳ Bà tâu với vua:
– Ở đây nếu đại vương có thể hàng
phục được tánh kiêu mạn, thì đại vương liền được sanh đến chỗ hào quý.
Người có tánh kiêu mạn phải sanh đến chỗ ty tiện.
Khi ấy nhà vua liền tự dứt ý, tư duy lời
nói ấy, liền nói rằng:
– Ðây là ruộng phước, ta nên thực hành
nghiệp này chăng? Nhưng ta là bật tôn quý, tại sao lại hướng đến
vị ấy mà lễ bái? Vị ấy không có phục sức, còn ta thì mặc áo vua,
đội mão trời, vị ấy tuy đoan chánh, tâm đã đừng nghỉ, đầy đủ các tướng,
không có xấu xa thô lậu, tướng vị ấy rất vi diệu, giống như hòn núi
không thể di động. nghĩ như vậy xong, nhà vua liền đến trước cửa, sanh
tâm hoan hỷ, lông trong người đều dựng đứng . Nhà vua nhờ có tâm
xuất yếu, nên có tưởng vô dục, lấy đầu mặt lạy dưới chân đức Thế Tôn,
liền nói như vầy:
– Giống như đức Thế Tôn , có sắc tướng
như vậy, tâm ý được ngay thẳng, tất cả đều thành tựu. Mong đức
Phật và Tỳ kheo Tăng hãy khiến cho thái tử Ưu Ðà Da Ðà La của con cũng
được như vậy.
Nhà vua liền hỏi ý nghĩa ấy nên hoan hỷ
như vậy, và nói bài kệ:
Như biển không có bờ
Gió thổi nên nước động
Thánh Tôn không di động
Nay xem bậc thượng nhân
Ðế Thích đến bái lạy
Kể cả chúng Phạm thiên
Con nay xin tôn kính
Tự quy mạng Thế Tôn.
Bấy giờ Phạm Chí Xà Ðề Tô Ni, giống
như hoa trắng tinh cỡi lên xe ngựa, có đệ tử vây quanh, ra khỏi
nước Xá Vệ, muốn đến thử đức Như Lai, mới đến chỗ để xe, ông ta cỡi lên
xe ngựa ra đi, đến chỗ đức Phật liền xuống xe, đi bộ vào trong
vườn, cùng đức Như Lai thong thả đàm luận ý nghĩa lý, rồi ngồi qua một
bên.
Bấy giờ ngay chỗ ở của đức
Thế Tôn, Phạm Chí không thấy vật sở hữu. Phạm Chí thấy nhan sắc của đức
Như Lai hết sức vi diệu không ai sánh bằng, ý nghĩ cũng không khiếp
nhược, có tướng của chuyển-luân-thánh-vương, Phạm Chí thấy thân thể
Ngài, mắt nhìn biết pháp như vậy, như pháp của đức Thế Tôn, thậm
thâm vi diệu, phạm hạnh cũng vô xứ sở, Ngài có đại công đức như
vậy, được người trí khen ngợi. Ngài nói:
– Ái dục không có lâu bền, là thứ hư
vọng.
Bấy giờ Phạm Chí liền hỏi rằng:
– Tại sao đức Thế Tôn tự biết thực hành
phạm hạnh? Chẳng phải thực hành phạm hạnh mà có các căn như vậy,
không thể lường được?
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo rằng:
– Nếu nói tất cả lời ấy, cũng không có
khuyết lậu, chẳng phải không có sức mạnh, cũng không có các hành, tu
phạm hạnh rất thanh tịnh, không tỳ vết. Nếu có người nói chúng ta
có lời đó: ” nghĩa ấy thế nào? ” Nói rộng như trong khế kinh.
Bấy giờ Phạm Chí Xà Ðề Thư Ni lại hỏi đức
Thế Tôn:
– Sao gọi là khuyết? Sao gọi là lậu?
Sao gọi là hành? sao gọi là chẳng phải không có sức mạnh? sao gọi là các
hạnh rất thanh tịnh. Có phạm hạnh này không ai sánh bằng?
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo rằng:
– Lúc ấy, này ba la môn nên làm như vậy
để cầu ái dục cánh lạc, hoặc có vị phạm hạnh mà tự giác trí khổ, lạc,
mắt xem sắc, phạm hạnh như vậy, ban đầu nên cầu phạm hạnh như vậy. Giả
sử khởi lên ý tưởng đám trước thì gọi là khuyết.
– Chấp vào các chúng số ấy gọi là lậu.
– ý giác tri gọi là có sức mạnh.
– Không có trần cấu, ý dong ruổi trong ấy
mà khởi lên ý bất tịnh, gọi là cấu uế của phạm hạnh. Cho nên gọi
phạm hạnh. Nói rộng như trong khế kinh. Bà la môn đối với ta , hãy trong
da chứa đầy đồ bất tịnh, lựa chọn để thấy sắc đáng yêu trong thân của ta
đã chấm dứt, lại đối với con mắt mà quán nhãn sắc sao? Song ta xem
xúc (cánh lạc) của bà la môn cũng không có hành, há lại có
xúc sao? Dục nhiễm trước đối xúc, thọ lãnh sự trơn mịn này. Này, bà la
môn, ta quán tất cả đều vô thường, há lại có ý muốn không chấm
dứt, lại có nhiễm trước sau? – Nếu Bà la môn đối với các pháp này, ta
cũng không quán điều đó, hoặc người nam hay người nữ ta đều phân biệt
tất cả, làm sao phải khởi lên dục tưởng của người nữ rồi dong ruổi đám
trước họ. Nếu lại Bà la môn, kẻ ấy không có dục
tưởng về người nam, lại không có tương ưng với tướng của
người nữ, mà khởi lên dục tưởng sao? – Giống như Bà la môn có kỳ hạn
bình đẳng, được cái vui xuất yếu, sao lại phải nhớ những việc đã tạo từ
trước sao?
Sau đó, Bà la môn, nếu sanh ra các điều
phi nghĩa, muốn bạt tế khổ não, xuất gia học đạo, vì có thệ nguyện
này nên tu hành phạm hạnh. Vì có 7 việc này nên không tương ưng với phạm
hạnh, không khuyết lậu, cũng không có các hành. Nói rộng như trong khế
kinh. Hoặc lại, Bà la môn, chúng sanh có loạn tưởng , đám trước , không
lìa ái dục. Ðối với các chúng sanh ấy, làm sao để quán như vậy? các
chúng sanh có tưởng thanh tịnh, đối với trong thân này là chỗ chứa
đầy vật hôi thúi, thì dục tâm liền hết. Giống như, này Bà la môn,
lấy nước hòa với sữa. Giống như biết có sữa này, sự hiệp hội ái dục ấy
cũng lại như vậy. Hãy quán sát như vầy: Gân cốt nối liền, bên trong
chứa đầy vật hôi thúi, vậy có gì để tham luyến. Giống như, này Bà la
môn, những đứa tiểu nhi, trước tiên cho nó uống vị ngọc vào miệng,
sau cho nó uống đồ đắng. Ðiều này cũng vậy, vì hiệp hội nên khởi ra dục
tưởng, nó có thể chịu đựng tướng khổ của dục vô số có cả trăm
loại. Giống như trâu nghé mới chết, thấy bầu sữa của mẹ có nhiều
sữa. (lúc mới sinh con, trâu nghé bị chết, người ta lấy da đùm cỏ như
hình của con trâu con để trước trâu mẹ, nên trâu mẹ nghỉ rằng con đang
sống cho nên sữa không cạn). Ðiều này cũng giống như vậy. Các cảnh giới
chết đều đã vượt qua, kẻ ấy quán sát tướng mạo, liền khởi lên ý nhiễm
trước. Giống như, này Bà la môn, người đói khác mộng thấy được đồ ăn
ngon ngọt, khi ăn xong liền hoan hỷ nhảy nhót, song người đó vẫn không
có ăn. Ở đây cũng vậy, những người ngu si tham trước dục lạc giống như
người trong mộng ấy không khác.Hiệp hội sanh ra ý niệm. song người
ấy thật không hướng đến thiện hạnh, hoặc người nam, hoặc người nữ, hoặc
có các sự biến dị.
Bấy giờ liền nói bài kệ này:
Ðó chẳng phải pháp chơn
Sao lại tham dục, sân
Phạm Chí nên khéo quán
Gốc khổ khó nhổ sạch
Thân cận đạo tối yếu
Nên đoạn ý ái dục
Tám đạo phẩm Hiền Thánh
Mới đến được thiện xứ.
Bấy giờ có năm người từ xa thấy đức Như
Lai, thấy xong liền cùng nhau chào hỏi, đến chỗ đức Như Lai, vì họ vốn
có làm việc thiện, nay cũng không cần nói rõ, thấy nghe rộng rãi, tùy ý
muốn ăn gì cũng được, không có cấm kỵ khó khăn, làm các thứ siêng năng,
khổ hạnh mê hoặc, chưa thành đạo thuật, nói rộng như trong khế kinh.
Bấy giờ đức Thế Tôn liền nghĩ rằng:
– Xót thương bọn người ngu si mê hoặc
này, tự làm sự cấm chế, sự cấm chế của họ, không có tâm cung kính đối
với đức Như Lai.
Bấy giờ đức Thế Tôn đi đến chỗ họ, ngồi
ngay trên đất thanh tịnh, sự trói buộc do cái gì sanh ra, sao lại muốn
trị làm bệnh? Khi ấy đức Thế Tôn nói với năm người ấy:
– Vì sao các ngươi nói lời như vậy?, cùng
nhau khất thực, cùng nói pháp sâu xa?
Khi ấy họ không nhận sự giáo giới của
Ngài. Vì pháp này rất khó để hiểu biết.
Bấy giờ họ nói với đức Thế Tôn:
– Ngài vốn sáu năm cần khổ học đạo, một
ngày ăn một hạt mè hay một hạt lúa, mà còn không đắc đạo thay. Huống chi
ngày nay Ngài tùy ý, miệng tự buông lung mà nói là đã đắc đạo sao? Ăn
uống đồ ngon ngọt, mặc y phục trân bảo, tùy theo ý muốn để nuôi thân
mình.
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo rằng:
– Tại sao, này các Tỳ kheo, quán
xem nhan sắc của Như Lai có biến đổi chăng? Các căn tâm của ta vắng lặng
nhan mạo đoan chánh. Như sắc mặt của ta hiện nay so với trước kia đâu
khác nhau?
Các vị ấy đáp:
– Như nay Ngài đoan chánh không có ai
bằng.
Ðức Thế Tôn bảo rằng:
– Nếu ta vốn không được cam lồ này, ai có
thể đối với ba ngàn đời này mà được cam lồ? Ta cũng nghe trời, A Tu
Luân, đáy núi Tu Di ở trong đại hải mà được cam lồ. ở đây cũng vậy, Ta
đối với ba ngàn đời này, dùng ý dũng mãnh mà được mùi vị cam lồ. Ðiều
này hết sức kỳ đặc, thế gian chưa từng có, ví ta trong trăm ngàn kiếp đã
tạo hạnh tịch tịnh (dứt tâm) rất là mầu nhiệm, xa lìa danh sắc,
giải thoát tự tại, mùi vị cam lồ rất sâu xa, Ta vì các chúng sanh mà nói
pháp này. Ta kham nhẫn cần lao chưa từng mệt mõi, vì tất cả kiết sử cho
nên ta không khởi ra trần lao, vì muốn khai mở tâm trí cho nên ta
ở trong thai mẹ, vì sự sanh tử này, nên rốt ráo cội nguồn, vì không biến
mất cho nên không cùng tận, vì hữu thường cho nên pháp không giải đơn
độc, vì không buồn rầu cho nên ăn lạc, vì muốn diệt trừ các trói buộc,
cho nên không tạo ra lỗi mới. Ta được chúng đại thần tiên khen ngợi rằng
các chúng của ta thành tựu. Song ta đã tu hành cần khổ, vì tất cả mầm
móng chủng loại, cho nên ta thuyết pháp.
Bấy giờ đức Thế Tôn, thân tỏa ánh sáng 7
thước, nhan sắc như núi An Minh, được ba đời tôn trọng, bậc nhất thiết
trí đã thuyết không hề chướng ngại.
Này các Tỳ Kheo! Như vậy gọi là vì gốc
của khổ, nên thành tựu A Duy Tam Phật. Nói rộng như trong khế kinh, được
Thiên Nhân tán thán, hào quang vô cùng tận.
Khi ấy mặt trời bị che khuất không hiện,
vì người này xuất hiện, hoặc thân mặc y phục vi dịu, đi đến chỗ đức Thế
Tôn, hoặc mặc y phục cõi trời đi đến chỗ đức Thế Tôn, họ đều cởi mão
trời xuống, có nhiều màu sắc không đồng hoặc cỡi ngọc anh lạc bỏ xuống
đất, họ đói khát vị cam lồ của đức Thế Tôn.
Khi ấy liền nói bài kệ này:
Thế Tôn cũng vô sanh
Lợi ích chúng Trời, người,
Như ăn vị cam lồ
Quyết không còn đói khát
Hôm nay đấng thập lực
Lúc sanh đời khen ngợi
Uống pháp vị thâm diệu
Ðã được giải thoát giới.
Bấy giờ, các hành như vậy quán sát khổ
Hiền Thánh Ðế, các khổ lúc mới thọ thai là từ đâu sanh ra? mà mãi ở
trong chỗ u tối không thấy đèn sáng? Vì vậy cho nên nói sanh là rất khổ.
Quán tướng sanh của khổ này là sự lâu dài, không thể chịu nỗi, mãi bị
nghiệp khổ, ngay khi có có sức lực, có cái khổ hy vọng, ý không
bao giờ nhàm chán và biết đủ, muốn có cầu mong mà không được cho nên là
khổ, hy vọng không thành nên khổ, khởi ra biết bao phương tiện muốn
khiến cho của không mất, vì vậy nên gìn giữ, song dần dần nó bị tiêu
diệt cho nên khổ, biết bao thứ khổ não đều đến. Ngài đã được vượt qua bỉ
ngạn, cái nạn có người tròng ngoài cùng đấu tranh nhau cho nên là
khổ, thân tộc tiền tài đều bị bán tậm, tiếc nhớ không nguôi cho
nên gọi là khổ, không lìa khỏi ái dục, bị các kiết sử sai khiến cho nên
phải khổ, dục là khổ bậc nhất, vì chưa diệt dục cho nên sân hận là khổ.
Vì hành động tội ác chưa diệt cho nên ngu si là khổ bậc nhất. Vì không
có ánh sáng trí tuệ chiếu soi, nên kiêu mạn là khổ, vì do ý đốt cháy nên
tự đại là khổ. Vì không có ý tôn ty, cho nên đối với bạn bè là khổ, vì
tâm không có phân ly, cho nên ái là rất khổ, đắm trước vị ngọt không dứt
cho nên bị tham lam tật đố làm khổ, vì tâm không khai mở, không có giới
nên khổ, do tâm thay đổi hối hận, cho nên sở kiến là khổ, vì không thấy
chơn đế, song có các thứ tự sắc trói buộc nên bị khổ, vì không có chỗ
nương tựu nên khổ, vì cầu quả báo nên khổ. Các thứ cây cỏ và vật do tứ
đại tạo thành, cùng nhau trói buộc, khởi ra các nhân duyên, sự khổ
của tứ đại bên trong nhiều thứ biến quái, các ấm níu kéo, nên khổ. Do tự
nhiên nên các nhập là khổ, vì không lìa các sở y nên cảnh giới làm khổ,
chạy theo sắc bên ngoài, bị khổ thống làm khổ. Vì hình thể bị thiêu đốt,
bị lạc thống (thọ) làm khổ, do khổ mà sanh, vì không khổ không lạc nên
khổ. Do cảnh giới sanh ra tưởng cho nên rất khổ. Do chúng sanh có hành
động nên thức là rất khổ, duyên vào đó mà sanh ra già, nên các căn bại
liệt, bệnh là rất khổ. Bốn đại không hòa, chết là rất khổ, lại thọ lãnh
hình dạng khác nhau, oán tắng bội là khổ, có tâm thân cận nhau, sở dụng
không được, điều này rất khổ, thâm khổ.
Nói tóm lại ngủ ấm là khổ, phải
gánh lấy gánh nặng vì nó phải đi đến các cõi, địa ngục là khổ, vì thiêu
đốt thân hình. Súc sanh là khổ, vì ăn nuốt lẫn nhau, ngạ quỷ là khổ, vì
bị đói khát bức bách thân thể, thân người là khổ, vì có các thứ hành
động phi pháp. Cõi trời là khổ vì hết phước thì phải bị rơi rớt, tùy
theo cảnh giới mà đọa vào ba đường ác, dục giới là khổ vì ái dục trói
buộc, sắc giới, vô sắc giới, cũng như vô hữu trí, tất cả đều là
khổ. Như vậy là ba khổ bức bách, thảy đều nhiếp trì trong đó.
Bấy giờ vì hành động của thân ý, hoặc vì
một hành động mà tạo khổ, hành động đã tạo ra thảy đều là khổ, như
vậy các khổ không bao giờ dừng nghỉ, nhân duyên không cùng tận. Nên
biết rõ sắc là như vậy, do kẻ ngu tạo ra. Song vị Tu Ðà Hoàn đã
nghiên cứu cùng tận căn nguyên của nó. Vị Tư Ðà Hàm không còn sót một
mảy may nào mà không chấm dứt. A Na Hàm thì trừ hết, Cho đến A La
Hán đã chấm dứt, sự khổ không còn sót lại, vì đời mà hiện ra ánh
sáng.
Bấy giờ đức Thế Tôn Tam Da Tam Phật, làm
sự che chở cho tất cả chúng sanh loại, liền nói bài kệ này:
Vô số trăm loại hạnh
Thường tạo nghiệp khổ não
Vì ôm giữ sắc này
Hiện tại có chứng ngộ
Nó vốn là vô thường
Hiểu sắc vốn là không
Tự nhiên an lập pháp
Thường phải tự giác tri.
Khi ấy tại sao lại sanh ra khổ này?
– Ðó là cảnh giới của tự tướng, đầy đủ
ngủ căn. Nếu cảnh giới tự tướng của vị ấy tương ưng với trí hồi chuyển
thì sẽ được hết sức thanh tịnh. Người ngu không học, không tương ưng với
trí huệ. Có người lợi căn gọi là kẻ ngu si là mù lòa tăm tối.
Ðức Thế Tôn cùng các Thanh văn vốn đã tạo
hạnh trí huệ, thiện căn, tự tướng hiệp hội như điều sở tu, đối với khổ
Hiền Thánh Ðế thảy đều quan sát.
Sao là phải quán sát cái khổ sanh tử này?
– Biết có khổ Hiền Thánh Ðế, thảy đều vô
thường, cực nhọc, gìn giữ mà không xả bỏ, thảy đều đồng nhất, khởi tâm
như vậy, đối với khổ mà quán khổ. Ðiều ấy rất mầu nhiệm, đối với khổ,
quán là không, sự vi diệu đầu tiên, thảy đều vượt qua bờ kia. Ngay khi
với khổ quán không, nó là pháp phân tán, tự nhiên quán sát như vậy, đối
với khổ quán là vô ngã, trí và tín của vị ấy đã thành, ban đầu có sự
khéo tăng ích của đảnh pháp này luôn luôn cầu phương tiện, đẳng trí,
công đức, không có hy vọng, rừng Tam muội không có khuyết lậu, trần lao
bên ngoài vĩnh viễn chấm dứt, cũng không đắm trước, dùng tưởng tư duy
nên trừ khử hết trần cấu, tất cả cảnh giới khổ, không có bại hoại, trừ
khử hữu ái, cũng không sợ hãi, cũng không bạo loạn, nhan sắc hòa duyệt,
tự quán sát cảnh giới, với Ngài hiện ra ánh sáng, đối với ba đời khởi
lên ngọn đèn cực sáng, với dục hại, các kiết sử bạt tế con đường ác, vì
các chúng (sanh) nên không có tâm, bỉ thử, cũng không giãi đãi, được vị
cam lồ, phân biệt chương cú. Vì vượt qua sanh tử, cho nên lưu
chuyển 4 cảnh giới, vì muốn chiếu sáng các chúng sanh, nên siêng hành
khổ hạnh, châu biến tất cả, cũng không xứ sở, cũng không điên đảo, Ngài
trừ khử điên đảo, rất khó suy lường.
Bấy giờ liền nói bài kệ:
Nếu khi biết có khổ
Niệm thanh tịnh vô lượng
Không vị, rất tươi sáng
Ðược người đời khen ngợi
Ngài có trí như vậy
AÂm hưởng cùng vui thích
Quán 10 lực của Phật
Cứu chúng sanh ở đời
Như ai thấy cấm giới
Như Lai được tăng ích
Giữ chí như Kim Cang
Phân biệt tất cả không
Nếu nhổ gốc rễ ái
Cũng không các khổ não
Nên con đảnh lễ Ngài
Bậc tối thắng trên hết.
+ Làm sao để quán sát thế gian?
– Ðó là có trí tuệ vô lậu như vậy, vị ấy
quán chỗ đạo tràng, cũng có sức mạnh của cái thấy. Vì đời nên quán ánh
sáng của đời, ngay ở trung gian có tu khổ hạnh, thảy đều quán sát, tất
cả chúng sanh, quán tân từ bi, muốn khiến cho họ được an ổn, vị ấy có
khổ hạnh vô lượng, quán khổ hạnh như vậy, đối với cảnh giới khác cũng tự
quán sát. Ở trong đại chúng quán đức Như Lai thuyết pháp vi diệu, khiến
cho nghĩa lý được phân bố quán pháp nắm giữ, hoặc pháp nhãn thanh tịnh,
cũng quán pháp thân vị ấy, không có cái tưởng về chúng sanh. Nếu lại
quán như vậy cũng không nói cấm giới.
Ta từng nghe tôn giả tên là Ưu Ba Tư, có
người đệ tử tên là Bát Ma Ca, đi đến dừng nghỉ trong cảnh giới của Ma
Thâu La. Khi đến đó, vị này ôm y cầm bát. Nói rộng như trong khế kinh.
Người ta chưa bao giờ thấy, không hiểu được oai nghi của vị này. Vị này
liền vào trong thôn của dâm nữ. Người dâm nữ thấy vị Tỳ Kheo này tuổi
trẻ, đoan chánh thân không có trần cấu, thấy xong cô ta sanh tâm hoan
hỷ, ý dục bừng bừng.
Lúc đó vị Tỳ kheo liền vào nhà của dâm
nữ, quán sự kiết sử như vậy, không muốn tạo ra kiết sử, sự ô uế
như vầy, giải thoát pháp, để mau được quả pháp.
Bấy giờ vị Tỳ kheo liền nói lời này:
Dục giống như thuốc độc
Dục là hạnh bất tịnh.
Dục bị sắc dâm hoại
Ðưa người vào đường ác.
Nói lời ấy xong, liền bước ra và bỏ đi.
Người dâm nữ lúc ấy dục ý bừng cháy,
liền dùng chú thuật Chiên Ðà Lê để buộc vị Tỳ kheo đó, nàng nói lên ý
nghĩa của chú thuật Chiên Ðà Lê như vậy.
” Bấy giờ nhờ chú Chiên Ðà Lê làm trang
nghiêm thân của nữ nhân, hóa làm nơi thôn xóm, đặt nơi chỗ Tỳ kheo đi
đến, nàng quán sát chỗ ấy giống như là cung điện của Ðế Thích hoàn
nhân không khác, nhà cửa cao rộng, không có gì sánh bằng, ngọa cụ trang
nghiêm có nhiều màu sắc trải dưới sàn nhà, trên chỗ ngồi ấy có những tấm
thảm để ngồi, thêu vẽ đẹp đẽ, xem trên chỗ đất ấy có nhiều loại hoa
hương rải lên trên, đâu đâu cũng tràn đầy, có nhiều hoa sen xanh, phương
lan thơm phức, sanh ở bên trong “, quán như vậy xong liền kết thần chú,
nói với Tỳ kheo rằng:
– Nơi đây rất kỳ diệu, chúng ta hãy cùng
nhau vui chơi.
Bấy giờ Tỳ kheo Bát Mặc (Ma Ca) bảo rằng:
– Ta quán khắp nơi này, cũng sẽ quán chỗ
khác.
Chiên Ðà Lê hỏi:
– Chỗ khác là cái gì?
Bát Mặc nói bài kệ:
Nay ta xem quả thật
Dục là khổ số một
Sau phải vào địa ngục
Chịu vạc sôi khổ não.
Khi ấy Chiên Ðà Lê nói rằng:
– Thôi đi, thôi đi, này Tỳ kheo, đừng nói
với tôi những lời ấy!
Tỳ kheo Bát Mặc nói rằng:
– Lời nói của nàng là dục huyễn ngu
sì làm mê hoặc ta, ta không giống như ngươi.
Nàng Chiên Ðà Lê thấy vậy liền hóa làm
một hầm lửa lớn không có trần uế (bụi bặm). Khi ấy Tỳ kheo Bát Mặc bảo
rằng:
– Ta đã thấy hầm lửa này rồi.
Bấy giờ Chiên Ðà Lê nói:
– Nếu không muốn thân cận với người nữ ,
chi bằng hãy nhảy vào hầm lửa này mà chết đi.
Khi ấy vị Tỳ kheo này liền nghĩ:
– Ngọn lửa này tuy rất đáng sợ. Nếu
ta tránh ngọn lửa này mà thân cận với dục, thì dục còn cháy dữ hơn ngọn
lửa lớn. Nếu phạm về dục về sau phải bị tội báo vô lượng. Thà hôm nay ta
nhảy vào hầm lửa này mà không phạm dục. Song thầy của ta thần thông
không ai bằng, làm sao ta có thể trái lời Thầy dạy? Vì vậy cho nên ta
thà nhảy vào lửa mà chết chứ quyết không phạm dục mà sống. Nay ta
bỏ cả hai việc, tại sao ba đời đức Như Lai lập cấm giới mà nay ta lại vi
phạm? Vì vậy cho nên ta nhảy vào hầm lửa mà chết.
Suy nghĩ như vậy xong, vị ấy muốn đem y
Tăng già lê và bình bát cho người khác (cô ta?)
Bấy giờ Chiên Ðà Lê hỏi rằng:
– Dùng y bát này để làm gì?
Tỳ kheo Bát mặc nói:
” Nay các ngươi phạm hạnh
Nhận y bát ta cho
Các vị tụ tập lại
Ðem lời ta nói nàng ”
” Tỳ kheo tên Bát Mặc
Gặp chỗ ách nạn này
Nhảy hầm lửa mà chết
Không cùng nàng ái dục.”
cho đến… hai người này đồng xuất gia
học đạo, nói rộng như trong khế kinh.
Bấy giờ lại nói bài kệ này:
Người đời tu thiện ít
Tư duy mãi không quên
Cũng không hưởng dục lạc
Vì độ thoát chúng sanh
Huống lại mở cam lồ
Thế Tôn rất vi diệu
Vì sao tạo công đức
Kẻ trí tùy thời thí.
Bấy giờ đức Thế Tôn làm sao đi khắp nơi,
qua lại giác tri gốc của sanh?
– Ðó là bấy giờ đẳng ngữ có hai loại: Tâm
ý biết được hình thể công đức của gió. Ðó là hai loại gió- Hình thể của
loại gió ấy, sanh ra các ái niệm mà ý biết được, giống như hoa nở, tươi
sáng sạch sẽ, giống như loại gió ấy, quán kiến giải thoát, việc
làm thù thắng, giống như tuyết thành nước, mây của tâm này cũng lại như
vậy, nhiếp trì cảnh giới nội ngoại, có luồng gió mát thổi lên, biết rõ ý
ấy, nó gìn giữ tất cả (chủng tử) không phá hoại, có 6 cảnh cơ quan, bên
ngoài bị 6 đại sai sử, đại căn lực trói buộc, nó có luồng gió nhu nhuyễn
thổi lên, dần dần có trí sanh, giống như khi Ngài cất chân lên đều do
công đức của bổn hạnh, không mất cái tướng đạt ra. Xương gót chân khi
bước tới bước lui đều có lửa bốc lên, tất cả khớp xương hoặc cong,
thẳng, nắm lại, mở ra, gân, mạch, hòa hưỡn, có sự hy vọng. nếu lại quan
sát lúc mở mắt, căn thân bên trong có sự cảm xúc, dần dần đốt cháy tùy
theo ngài đến hoặc đi, hoặc lại khi ăn hay nuốt các khớp xương cong lại
hay thẳng ra, mở hay đóng, đều do hình thể tạo ra, và các tâm hạnh đã
tạo, dựa vào gió ấm mà trừ khử, luồng gió điên đảo cũng thôi âm hưởng
làm rách môi, gảy răng. Bốn ý đã tạo tất cả pháp chủng tử, song chỗ phát
xuất luống gió ấy mạnh hơn, nên đều có lời nói như vậy, có tiếng vang
như vậy, người ấy nói lên lời ấy, không phải vì làm phước, tại sao
không bị trói buộc? Còn ta nói lời này có động cơ này: bên ngoài có sự
phá hoại, bên trong có các hành.
Bấy giờ nếu không tạo tác liền có hữu
tận, liền có trưởng dưỡng. Giống như chiếc xe có trí, ngay nơi đó mà
thấy sức chở của nó! Nhờ duyên vào pháp hào quý như vậy, dựa vào cái
tưởng điên đảo lúc ấy, liền nói bài kệ này:
Ðiều này rất kỳ đặc
Giác tri không, vô trí
Dần dần nương tựa nhau
Bộ máy rất trọng yếu
Cũng không xúc vào ý
Thân ý đã nương nhau.
Có các việc như vậy
Huyễn hoặc rất vi tế.
Bấy giờ đức Thế Tôn tu hành phạm
hạnh, vì sao thanh tịnh không loạn, không theo người khác để học, du
hành một mình không bạn lữ?
– Ðối với loài người, Ngài có công đức
oai nghi hết sức vi diệu, không đắm trước với tất cả chúng sanh, những
nghiệp đã làm, không ai bì kịp, chúng sanh vô hạn lượng, nương tựa vào
tất cả pháp vi diệu. Vì pháp tự nhiên cho nên nhất thiết trí không hủy
hoại, thành Ðại yếu đạo, ý muốn thành tựu, chắc chắn chứng quả đầy đủ
các công đức, có Thanh Văn vây quanh, sanh ra tất cả đức, tất cả vi
diệu.
Bấy giờ đức Thế Tôn đối với chung sanh,
hình thể Ngài vi diệu bậc nhất, thành tựu các đức, trừ tối tăm cho đời,
vô sở trước, không đắm trước ba đời, bỏ các kiết sử, được đại từ bi, tâm
không loạn tưởng, đã vượt qua sự lo âu sợ hãi, đến chỗ an ổn, luôn luôn
hàng phục tâm mình, tự mình truyền thọ. Khi ấy liền nói bài kệ này:
Phạm hạnh rất vi diệu
Thành tựu công đức từ
Nếu ai nghe Ngài dạy
Trời người đều lễ bái
Với chánh pháp không hai
sự an lạc cũng vậy
Ngài là bậc Hiền Thánh
Cho nên con đảnh lễ.
Bấy giờ đức Thế Tôn Tam Da Tam Phật, tâm
nhẫn nhục của Ngài rất vi diệu, trừ các kiết sử, cũng không còn đắm
trước, lửa không thể đốt cháy, việc giác ngộ hơn cả gió, cũng có công
đức thù thắng, vô úy, thành tựu đại chúng, gánh nặng cho mọi người, hết
sức tương ưng, không thể nghĩ lường. Giống như con sư tử không có tâm
khiếp nhược. Nhan sắc hòa duyệt vì các người ngoại học nên đã tu không
đắm trước, giống như hoa sen không bị nhiễm ô, vì tự nương vào chúng,
cho nên tự bị phá hoại, ý có mong cầu, cũng có thể thành tựu, vì bạt trừ
các kiết sử cho nên rất mầu nhiệm, với mọi người càng nhiều sự tương
sanh, cho nên sự thọ nhận mầu nhiệm, Nếu tự cầu đối với tất cả đời sống,
nên mầu nhiệm, ta nên kính lạy bậc phước điền tối thượng, người bảo vệ
nhân dân, Vua là bậc nhất. Không quán như vậy, nghĩa ấy thậm thâm, xả
các pháp ô uế, mặt trăng là bậc nhất, phân biệt các pháp, tỳ sa môn là
bậc nhất, âm vang lan khắp trong trẻo, tiếng rống của sư tử là bậc nhất,
muốn trồng hạt giống vào ruộng phước tốt, có tăng thượng học, bỏ tất cả
việc đồng áng, Thích Ðế Hoàn Nhân là bậc nhất; với tất cả thế gian công
đức Ngài là bậc nhất; ngài thị hiện con đường Niết- bàn cũng là hơn cả,
thương xót che chở tất cả chúng sanh mở tất cả trói buộc, mầu nhiệm như
vậy. Khi ấy liền nói bài kệ này:
Công đức của Như Lai
Tung rải khắp tất cả
Sống như nhà họ Thích
Như biển có nhiều báu
Và các chúng Phật pháp
Sung mãn cả ba cõi
Muốn đến được bỉ ngạn
Phải theo học Như Lai.
Bấy giờ đức Thế Tôn là bậc hùng sư tử
trong loài người, hy vọng đối với nhất thiết trí, nhan sắc hòa duyệt.
Công đức yết hầu của Ngài không ai sánh bằng, công đức Phật pháp có bốn
thần túc, lời nói rất rõ ràng, xa lìa lời nói thô ác, thân ngay ý chánh,
các trí đầy đủ, con mắt là căn mầm của sự thanh tịnh, phân biệt các
pháp, xưng dương công đức, kẻ trí khó biết như mưa cam lồ, khó có thể
cản trở phá hoại, đầy đủ thập lực, dũng mãnh vượt lên tất cả, biết rõ
tất cả sự ưa thích mọi người nên đến để cứu tế, đại từ bi, thiền, giải
thoát tứ đẳng (Tứ vô lượng tâm), chưa từng thiếu xót, cũng không có mùi
ái dục, quán đồ ăn rồi mới ăn, được vô sở úy, hàng phục các chúng khác.
Ngài giống như sư tử, nai chúa, khi kêu, rống lên, ai nghe tiếng ấy cũng
đều bỏ chạy tứ tán, ở trong hang chạy đến hang, ở trong lỗ, chạy đến lỗ
như chim bay trên hư không, điều này cũng như vậy. Nếu nghe
tiếng ” Vô thường “. Ở đây người phàm phu đối với sự ưa thích trường
thọ, đều ôm lòng sợ hãi, đối với thân kiến đều chạy mãi không ngừng.
Giống như con rồng, con voi nghe tiếng rống của sư tử, bất giác hoảng
hốt, hoặc bứt đứt dây cương, xiềng xích bỏ chạy. Sự trường thọ của chúng
sanh, Chư Thiên cõi sắc giới cũng lại như vậy, nghe lời dạy về vô
thường, họ yêu thích mùi vị đã đắm trước, họ đều có cái tâm luyến
ái này.
Bấy giờ đức Thế Tôn là sư tử, nai chúa,
tâm Ngài hoàn toàn không sợ hãi, đã thành đạo quả, cũng không thối
chuyển, ai thấy Ngài cũng đều hoan hỷ, được chỉ quán vi diệu, biết công
đức của Ngài không có ngu hoặc.
Bấy giờ liền nói bài kệ này:
– Giống như sư tử rống
Ai nghe cũng kinh ngạc
Dùng trí phân biệt pháp
Mỗi mỗi có tên riêng
Nơi sanh từ hãi hùng
Phật đức không thể nói
Cho nên lạy sư tử
Sư tử vua các vua.
Bấy giờ đức Thế Tôn là đấng voi
hùng trong loài người, thảy đều có đầy đủ tất cả trí tuệ, tất cả chi
tiết trong người đều tương xứng với phần đầu của Ngài. Ðó gọi là đầu trí
tuệ, nhân trí tuệ mà có niệm, niệm là cái đầu, nương vào chỉ quán là
bụng, lấy sự đình chỉ giải thoát để biểu thị sự học của Ngài là không có
thầy. Tự nhiên thành tựu đầy đủ, lấy tín căn làm diệu pháp, dùng tín lực
mà trói, có sức lực như vậy, lấy sự giữ gìn thanh tịnh làm nanh
vuốt, để trừ bỏ đường ác; lấy sự hổ thẹn làm giàu có, nhờ đó mà thân
được vi diệu, thân Phật pháp trùm khắp, cũng không có ý hại mà tu hành
phạm hạnh, cứu cánh cội nguồn, tìm cầu phương tiện, dõng mãnh bất
thôi, tất cả các đời đều vi diệu, không ai hơn được công đức của Ngài.
Giống như núi An Minh, tập tu thiền định, giống như dao bén, giác ý tự
tại, bảy chỗ an tường, vô thường, khổ, không, tu tất cả pháp, thảy đều
vô ngã. Niết bàn là Diệt Tịnh, đã hành trì như cam lồ, thập lực, có thế
lực, ai thấy Ngài cũng đều hoan hỷ, Ngài đã phá hoại tánh kiêu mạn, quả
báo giải thoát, đã nương vào cam lồ, không còn tính toán vào chỗ
đắm trước mà bổn ý đã tạo ăn, món ăn cam lồ giải thoát, giống như cam lồ
sẽ được lợi dưỡng, trừ bỏ các điều uế trược, được món ăn
cũng không dự trữ. Vì đối với 91 kiếp Ngài đã khéo tự hàng phục nên bây
giờ liền có định tâm này, không có các náo loạn. Khi ấy liền nói bài kệ
này:
– Hòa duyệt không loạn tưởng
Ý định, rất thanh tịnh
Cúi lạy vô lượng đức
Là voi Chúa, người Hùng
Là chúng sanh có đức
Phá hoại các sắc tướng
Mắt sạch không bụi dơ
Lạy bậc giác tối thắng.
Ðức Tam Da Tam Phật có công đức như vậy,
có sự tự giác tri như vậy, có sự thậm thâm rất vi diệu, không ai sánh
bằng như vậy, bên trong tự giác các pháp.
Giả sử lại có người phỉ báng Ngài, kẻ ấy
hoặc có thinh tánh cùng tương ưng, có sự hữu dư như vậy, như có
người nói rằng:
– ” Có các sa môn xuất gia hoặc Bà la môn
thông minh biệt huệ, hoặc ở trên cõi trời, hoặc ma hoặc trời ở cõi
dục giới, hoặc phạm thiên, sắc giới vi diệu, làm như vậy để thuyết pháp,
ta cũng không thấy tướng của họ, cũng không nhân duyên như họ đã nói.
Hoặc lại không thấy tướng mạo, vì sao họ chẳng phải đẳng chánh giác,
cũng nói như vậy, thấy họ mà thuyết pháp, đến chỗ an ổn mà
tự vui thích, họ là đẳng chánh giác, cũng đến chỗ vô úy, và giống
các bậc vô trước khác. Nói rộng như trong khế kinh. Ngài rất mầu nhiệm,
không đắm trước chỗ không điều động, không có các danh từ, đang chuyển
pháp luân thanh tịnh. Ðức Thế Tôn thanh tịnh đang chuyển pháp này.
Ðó là con đường 8 phẩm đạo của hiền thánh.
+ Phải chuyển pháp ở chỗ nào?
Hoặc nói như vầy, ngay nơi chúng này
chuyển pháp mầu nhiệm, ngay nơi chúng này mà rống lên tiếng rống của sư
tử cũng không sợ hãi. Lại nói như vầy:- Vì muốn hàng phục chúng kia cho
nên trước tiên Ngài không sợ hãi.
+ Thứ hai là các lậu chưa hết, nghĩa ấy
thế nào?
– Ðó là ở trong lậu chướng có các sự sợ
hãi, hoặc lại đầy đủ đoạn trí.
Ðây là lần thứ hai, thứ ba ta đã nói đạo
pháp. Ðiều này có ý nghĩa gì?
– Ðó là sự thật như vầy, vì chúng sanh mà
cầu. Ngài nói như vầy: Ở đây tạo các nội nhập, điều thứ ba, thứ tư
có sự trói buộc. Nó có 10 việc, người nào đã tu hành, ở trước mọi người
không sợ hãi, kẻ kia hoặc không có tâm cung kính , như vậy không có oai
nghi, cho nên đối với đại chúng ôm lòng sợ hãi. Tuy lại tạo tâm cung
kính, trí huệ sáng suốt như thật, có oai nghi, kẻ ấy vẫn có sự sợ hãi,
đối với mọi người tuy có lòng cung kính với họ tuy vô úy, với giáo nghĩa
có sự ngu si, tuy lại có tâm thừa sự, cung kính cúng dường, song không
luôn luôn tu hành, tuy lại tu hành, cũng không qua thời gian lâu, trong
đó cũng có tâm sợ hãi. Với người tuy có tu hành lâu, ý không muốn cho
mau có kết quả, trong đó vẫn có sự sợ hãi; tuy có ý muốn cho mau cũng
không thân cận, do đó trong tâm vẫn lo sợ. Kẻ ấy tuy có thân cận nhưng
không thật lòng nương tựa, trong đó cũng có tâm lo sợ. Ý tuy nương
nơi điều thiện, tự mình không có điều thiện ấy, cho nên ở trong chúng
vẫn có tâm sợ hãi. Nếu lại có biến khắp ý này, nhưng không có phương
tiện thiện xảo, cho nên ở trong chúng vẫn có tâm sợ hãi.
Ðức Thế Tôn khi làm Bồ- tát, tôn thờ thầy
dạy và mọi người, với ba cõi Ngài dựng lọng báu vũng chắc; từ lúc
Phật Ðịnh Quang đến nay, Ngài thành Tam Da Tam Phật (chánh giác), biết
bao nhiêu kiếp Ngài hết sức thanh tịnh, không có tỳ vết, không có chỗ
tối tăm nào mà không rọi ánh hào quang đến, nhờ giác ý ấy, nên Ngài có
hình loại như vậy, việc làm thành tựu. Vì đi con đường ấy nên 91 kiếp
Ngài đã tạo thành.
Bấy giờ đức Thế Tôn đã được danh hiệu,
Khởi lên trí huệ siêu tuyệt như vậy, nên đã thành Phật, cùng tương ứng
với trí tuệ, tâm ý đã giác ngộ, nương theo thiện ý ấy, nên tất cả đều
thành tựu; với tất cả, ý không đắm trước. Ngài là người không nhiễm ô
bậc nhất, cũng không ôm lòng sợ hãi, cho nên đức Thế Tôn, thường trụ như
vậy, hằng nhập Tam muội với người có trí thì Ngài có trí hơn, Ngài vượt
trên mọi người trong số đời. Quán sát như vậy nếu có ai nạn vấn, Ngài
cũng không do dự, có đầy đủ văn tự để đối đáp.
Bây giờ liền nói bài kệ:
– Thân như sư tử chúa
Muốn đến nơi Viên- quán
Muôn thú đều sợ hãi
Ðều chạy đông chạy tây
Bậc vô trước như vậy
Dõng mãnh trước mọi người,
Không thích gốc sanh tử
Lấy pháp độ nhân thiên.
Bấy giờ đức Thế Tôn quán tất cả thế gian
giống như cây cỏ.Vậy làm sao để thí nghiệm?
Loại đầu tiên có năm hạnh, giống như cây
cỏ bên ngoài ở đó sao lại có năm loại? Lại nói rằng:
– Vì sao các cây ấy triển chuyển nương
nhau. Sanh ra các thứ trói buộc? khổ đế đã đoạn. Bên ngoài cũng có
sanh ra năm chủng hạnh. Quán chỗ đất phát sanh ra khổ ấy, đều
nương nơi bên ngoài mà sanh. Vậy đối với bên trong làm sao để
sanh? Có chỗ nói rằng: ” Ðối với nội thức xứ… có sự quán ấy. Như vậy
trụ bên ngoài tuy chủng loại liền sanh, trong đó có người cho rằng: ”
Như mặt trời, mặt trăng hiện không có ánh sáng, chúng mỗi mỗi nương nhau
“. Có chỗ cho rằng: ” Nương bên ngoài cũng sanh “. nghĩa ấy
thế nào? – Ðáp rằng: ” Ngay bây giờ nếu không nương nhau để ăn, bị
nước trôi, bị lửa cháy, an xử hình thể, hoặc bị gió thổi. Giống như
mặt đất sanh ra cây cối, tùy theo gió mà đến mà đi, trong đó đều biết
rõ. Gió trong thân đã xúc vào lỗ tai thì có sự nghe, lúc đó cũng có thể
hay biết. Bảo rằng:
– Ðó là vật trơn mịn vậy; nếu kiên cố
nương tựa bên ngoài kẻ ấy chẳng phải là người trí chăng?
– Loạn tưởng như vậy, hoặc do quả bên
ngoài sanh ra, thảy đều quán sát bên ngoài duyên bên trong.
Trong đó có chỗ nói: – Tất cả đều chẳng
tư duy sắc tưởng, không quán như vậy. Như quán sát tứ đại. Cảnh
giới như vậy thảy đều quán sát; hoặc quán một quả nhãn thức sanh biết
bao quả; lấy thức làm đầu, cho nên bại hoại, đối với trong đó nói như
vậy, bên ngoài cũng có tạo bao nhiêu quả. Giống như màu sắc nửa xanh nửa
vàng, giống như cây đồng một gốc sanh bao nhiêu là quả là củ, mùa
thu thì không có quả, hoặc tùy thời mà sanh, sự sanh tử của cái cây cũng
lại như vậy. Thân chính là cội gốc, gốc sanh cành lá. Giống như cảnh
giới Tam muội. Cho nên thức sanh ra quả là chính. Như vậy mà giác tri,
lấy con mắt dụ như cái cây kia. Nếu nhãn thức có sắc sở nhiếp, gốc
của nó là sắc, làm sao để thành?
– Ðó là như đã nói về sự quán chiếu. Quán
thì liền thấy mầu nhiệm. Nó hiện như vậy. Ngay khi hiện ra, đó là sanh
ra chủng tử, từ từ tăng trưởng, ngay khi sanh mà thành quả. Như tùy thời
mà cây bị héo, quả của cây ấy không có sở nhân… để có quả. Ðó là do
tâm cấu nhiễm, đối với trong đó mà nói vậy, nhãn thức đều biết rõ, ngay
lúc đó mà nói vậy, không phải ngay trung gian. Giống như sắc kia duyên
nơi quả kia mà sanh, như vậy duyên ý thức mà có cái cây sanh tử
ấy. Nhãn thức là dẫn đầu, ở trong đó mà nói vậy. Giống như bào thai dần
dần tăng trưởng, nơi đó sanh nhãn thức, như vậy có nhãn thức, ở trong đó
nói như vậy. Không phải ngay nơi nhãn thức, nếu khoảng trung gian đó mà
chết, không có thân căn, nên nhãn căn không thể tạo ra. Vì sao vậy? –
Hoặc là bên ngoài không nương vào gốc của căn quả, hoặc là quả đồng ảnh.
Ở đó, tại sao nói…Tất cả thân căn, vì quá khứ không dựa vào vô căn, vì
gốc của cây cỏ, quả, có sự bại hoại.
Lại có sự hiểu biết này: Bên ngoài
không có hữu tình, nhưng bên trong là hữu tình, trong đó nói như vậy,
tại sao loài có tình tưởng lại có thật quả? – Giống như hoa trái ở
bên ngoài. Ở đây gieo quả cũng lại như vậy, do đó hoặc là có tình, hoặc
lại cùng đồng tình, trong đó quả thật có sự vô ngại.
+ Sao gọi là đang có niệm? – Trong kinh
nói như vậy, nghĩa ấy thế nào? – Hoặc có chỗ nói vậy, nơi kia không có
trụ xứ?
Ðáp rằng:
– Giống như vị kia không xứ sở, liền có
sự thanh tịnh, bên ngoài không bại hoại, liền có nhân duyên ấy. Trong
kinh nói như vậy. Tứ đại ấy tằng tượng, như sở y có quả, việc này chẳng
phải vậy, nó lại là sở tri, những nghiệp đã làm ở bên ngoài không hiện
ra. Giống như bên trong có vật sở hữu mà không đến nên gọi là cây. Nếu
có đến thì không gọi là cây. Trong kinh nói như vậy.
Tại sao trong đất đó không bị bại hoại? –
Ðất đó cũng không có khí ấm, nếu y vào sự hữu ấy, thì hữu có tướng kiên
cố, bị gió thổi, liền có thể biết được. Ở đây cũng vậy, nhưng bên
ngoài có dược thảo, cây cối, bị vô thường, đoạn tuyệt, cùng tương ưng
với sự bại hoại. Phải luôn luôn quán sát như vậy. Nhân duyên vô thường,
khổ, không, vô ngã cũng lại như vậy. Song ngoại- không thì vô sở hữu,
chúng sanh cũng như vậy. Giống như vô ngã, nội quán cũng như vậy, huống
ngay bên trong có tạo tư tưởng bên trong. Chúng đều là ở bên ngoài.
Giống như khi hạt giống ẩm thấp liền sanh cây, Ở đây cũng vậy. Căn cứ đã
dạy giống như thân tâm nương nơi pháp qua lại, châu biến. Ở đây đều
không có sự nương tựa. Giống như tuổi thọ là nhờ hơi ấm, mạng căn và
thức. Ở đây cũng vậy, không có bắt đầu và kết thúc.
– Quán chí tánh chúng sanh
Bên ngoài đến cây cỏ
Thật không, vô quả thật
Với pháp nên phân biệt
Nó vốn có bại hoại
Với thân thảy, tư duy
Ðể diệt trần lao, kết
Năm căn cũng không còn.
Bấy giờ tôn giả Ðại Ca Diếp, siêng tu khổ
hạnh nên nhàm chán thân thể. Ngay nơi viên quán mà tự vui thích,
thờ lửa không giải đãi, đồ chúng vây quanh, Y tăng-ca-lê đã rách, tóc và
móng tay rất dài. Các căn thuần thục, bên trong đã hàng phục dâm, kinh
hành qua lại để quán sát Ngài đều đã biết rõ, thích ở chỗ an nhàn, danh
tiếng đồn xa, cho nên tôn giả được tâm đại từ bi, vượt hơn các vị tôn
đức, người trời cúng dường. Ngài là đại phước điền, nên mọi người
càng thêm cung kính lễ bái. Các người gặp sự khốn ách đều được Ngài độ
thoát, vượt qua sanh tử, tuyến bố pháp tướng, hiển hiện sự hoan
lạc, ủng hộ che chở chúng sanh như thờ cha mẹ không khác gì cả. Ngài đã
cúng dường như hòn núi không thể di động, vui mừng nhảy nhót, tôn giả
muốn quán sát đức Như Lai, muốn một mình ở chỗ an nhàn vắng vẻ, đi đến
chỗ đức Thế Tôn, ưa thích được nghe pháp lạ. Tôn giả đầu mặt lạy
dưới chân đức Thế Tôn rồi ngồi qua một bên.
Bấy giờ đức Thế tôn muốn khen ngợi đức
tính thiểu dục, liền bảo tôn giả Ðại Ca Diếp rằng:
– Này Ca Diếp! Nay ngươi thân hình già
nua, tuổi lớn không còn khỏe mạnh như lúc thiếu niên nữa, thân của
trưởng lão không còn kham nhận nữa, dần dần suy yếu, ý mạnh mẽ không
còn, lại không đắp y nặng đã may sẵn được dâng cúng, có thể hiện nay
thân ngươi không thể mặc nổi y nặng, vì tuổi ngươi đã quá già. Có các
trưởng giả mang y đến cúng dường thì hãy nên thọ nhân.
Bấy giờ tôn giả Ðại Ca Diếp có đầy đủ tâm
cung kính các pháp tưởng đối với Như Lai, liền từ tòa ngồi đứng dậy, quỳ
dài bạch đức Thế Tôn rằng:
– Sanh tử lâu dài, ý nghĩa đều không
chơn, thọ nạp sự vui khổ này, tâm con thường sầu lo. Các vị quý tộc
trưởng giả, con cũng không thích đến nhà họ, để tự con được ở nơi không
tịch (một trong mười hai hạnh đầu đà) con lại khen ngợi đức tính không
tịch, tự mình thiểu dục lại khen ngợi đức tính thiểu dục. Song xin đức
Thế Tôn, Chư Thiên chứng tri cho, nay con đối với quả đời này hoặc có
lực hay không có lực, con thảy đều đội lên trên đầu, huống chi
ngày hôm nay thân con không có dâm, nộ, si, kiêu mạn đã hết sạch, thanh
tịnh không tỳ vết, xuất ly thế gian không tương ưng cùng thế gian.
Con đã được những điều như vậy, hôm nay vì sao con lại bỏ y phục thô xấu
này?
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo rằng:
– Ðó là lý do tại sao… nói rộng như
trong khế kinh.
Khi ấy tôn giả Ðại Ca Diếp thưa rằng:
– Vì hai nghĩa cho nên con ở chỗ nhàn cư,
hoặc lại có lời khen ngợi đức nhàn cư, tự ở trong hiện pháp muốn được
hoan lạc, vì người đời sau nên chói sáng tung rãi các đức như vậy, lấy
đó để siêng tu khổ hạnh vậy.
Ðức Thế Tôn bảo:
– Lành thay, lành thay, này Ðại Ca Diếp,
phải thường ưa thích sự nhàn cư. Nói rộng như trong khế kinh.
Bấy giờ liền nói bài kệ này:
– Người được tự tại gì
Ðệ tử tu khổ hạnh?
Thanh tịnh không phiền não
Như trăng sáng giữa sao?
Như nay không hồ nghi
Người có đức lớn này
Nên gìn giữ chánh pháp
Trừ sạch các ô uế.
Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất tự nương nơi
trí huệ rất thậm thâm, không ngằn mé, như đại hải không có bờ, có thể
kham nhận luận nghi cùng kẻ ngoại học, Ngài đều hàng phục tất cả, xưng
dương thiện pháp, mà không làm mất lòng đối phương, Ngài đã được giải
thoát đối với ái dục, ý đã rõ biết sanh tử, đã chấm dứt nguyên
nhân luân hồi các thú, liền đi đến chỗ đức Thế Tôn, Ðầu mặt lại dưới
chân đức Thế Tôn bạch rằng:
– Con khởi lên ý nghĩa, thảy đều
kiên cố như vầy.Con đã ở các nơi của ngoại đạo dị học. Nay con đến đây
là muốn được uống nước cam lồ để trừ tất cả trói buộc, ý của con cũng
không đắm trước đối với chỗ ở của mình. Ðức Thế Tôn đã vì con mà nói ý
nghĩa như vậy, để trừ tai hoạn khổ não. Thế Tôn thuyết nghĩa như vậy
xong, các người phàm phu đều ôm lòng sầu lo, học giả cũng ôm lòng sầu
lo, các người không có sự hồ nghi, thảy đều muốn được nghe,
Bấy giờ đức Thế Tôn tư duy trong giây lát
bảo tôn giả Xá Lợi Phất rằng:
– Các hành này đều là hữu vi.
Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất thường thích
ở chỗ không nhàn, ưa thích nơi pháp, đảnh lễ đối với pháp, nhiễu quanh
ba vòng, liền đứng ngay thẳng quán sát thân đức Như Lai, rồi đến trong
thôn Na La Ðà, lấy cỏ trải dưới đất, nhập vào Tam muội sư tử phấn tấn.
Khi đã nhập vào định này rồi, dùng phương tiện ở chỗ đức Như Lai, ngay
nơi đó mà nhập Niết Bàn.
Bấy giờ Sa Di Quân Ðầu, thường cung cấp
những vật dụng cho tôn giả Xá Lợi Phất, đang cùng Ngài chuyển bánh xe
pháp tôn quý, tu hành Phật sự, là bậc Thanh văn tối đại, tất cả người
đời, không ai là không cúng dường, đem bình bát và ba pháp y của tôn giả
Xá Lợi Phất cúng dường cho đức Như Lai và tôn giả A Nan. Khi đến xong
liền thưa với tôn giả A Nan:
– Vị thầy mà con tôn thờ nay đã diệt độ !
Tôn giả A Nan hỏi Sa Di Quân Ðầu:
– Thầy của ngươi là ai? Tên là gì?
Thưa rằng:
– Thầy của con tôn thờ tên là Ưu Ba Ðề
Xá, nay đã Bát Niết- Bàn. Ðó chính là tôn giả Xá Lợi Phất vậy.
Khi ấy tôn giả A Nan nghe lời ấy xong,
liền ôm lòng sầu lo, bị lưới ngu si bao phủ, bị tâm ý thương nhớ tôn giả
Xá Lợi Phất mê hoặc, không còn hay biết gì nữa. Sầu phiền trong giây lát
như vậy liền dẫn Sa Di Quân Ðầu đi đến chỗ đức Thế Tôn, lấy lời
trên bạch đầy đủ với Thế Tôn rằng:
– Hôm nay thân con đau đớn vì nghe tôn
giả Xá Lợi Phất đã nhập Bát Niết- Bàn, nói rộng như trong khế kinh.
Ðức Thế Tôn bảo:
– Vị ấy đã trì- giới- thân mà mất chăng?
Và cũng đem theo pháp mà ta đã giác ngộ mà mất chăng? Ðó là 4 ý chỉ, nói
rộng như trong khế kinh, nhưng, này A Nan, các hành không thể bảo trì
lâu dài được, tất cả đều phải bại hoại. Này A Nan, các hành vô thường,
không có thường tồn, cũng không phải vì vậy mà không quán sát thiện
hạnh.
Này A Nan, các hành là cái không thể
nương tựa.
Này A Nan, nó làm hưng khởi khổ , cánh
lạc, ôm lòng điên đảo. Này A Nan, hành là vô ngã, không được tự tại. Này
A Nan, các hành khó có thể xả bỏ, thường thọ hữu giáo. Này A Nan, hành
có sự nguy hại thảy đều không tịch. Này A Nan, nên xa lìa các hành gấp,
vì nó khởi lên các tưởng khổ lạc.
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo Sa Di Quân Ðầu
rằng:
– Ngươi hãy đem các vật của tôn giả Xá
Lợi Phất để trong bàn tay của ta.
Khi ấy Sa Di Quân Ðầu liền dâng cho đức
Như Lai.
Bấy giờ đức Thế Tôn duỗi cánh tay rất mềm
dịu, có sắc vàng rồng, nhận lấy. Khi ấy đức Thế Tôn nhận xá lợi của
tôn giả, rất thanh tịnh, không có tỳ vết, tâm ý hoan hỷ, ai xem cũng vui
mừng, đem để ở chỗ kín đáo.
Bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo rằng:
– Này các Tỳ kheo, hãy đảng lễ xá lợi của
tôn giả Xá Lợi Phất, rồi tự tán thán, danh văn của tôn giả truyền xa, là
bậc tối tôn diệu trong hàng thanh văn. Chỉ có một vật tồn tại
ngoài ra tất cả đều đã biến mất, các loài hữu tình đều muốn cái vui ấy,
tôn giả hiện ra thần túc để trừ bỏ cấu trược, tôn giả lại có ánh
sáng ấy, thảy đều trùm khắp, giả như đang có sắc ấy, phải nên lễ bái trí
huệ của tôn giả. Ngài có danh xưng, tất cả thế gian thảy đều làm cho
sung mãn. Ðó là tôn giả Xá Lợi Phất, đối với ba cõi thân được tự tại,
hương lành huân ướp, cho nên cần phải lễ bái vị có công đức như
vậy. Tôn giả vì đời hiện ra ánh sáng, có nhiều công đức, phải học giải
thoát, để đến bờ bên kia.
Khi ấy đức Thế Tôn cũng sắp xả bỏ tuổi
thọ.
Bấy giờ đại địa chấn động lớn, bốn phương
sấm chớp nổi lên, chư thiên đứng nghẹt cả hư không, ca xướng kỷ nhạc, có
một luồng ánh sáng lớn, không nơi nào mà không được chiếu sáng,
mây và sương mù bao phủ đất trời, làm cho lửa cháy vẫn không có ánh
sáng, có lời truyền rao như vậy rằng: ” Tất cả người trí nên thủ lấy sự
diệt độ “.
Bấy giờ tôn giả A Nan, vào lúc sáng sớm,
từ tòa đứng dậy, đi đến chỗ đức Thế Tôn, đầu mặt lạy dưới chân đức Thế
Tôn, đứng qua một bên hỏi đức Thế Tôn rằng:
– Do nhân duyên gì khiến cho mặt đất chấn
động mạnh, mà tâm Thế Tôn vẫn không di động?
Ðức Thế Tôn liền bảo rằng:
– Này A Nan, có 8 nguyên nhân làm cho quả
đất chấn động mạnh.
Lại nữa, này A Nan, nếu có vị Thanh Văn
đệ nhất thập Bát Niết- Bàn, đức Như Lai cũng sẽ nhập Bát Niềt-
Bàn, nên có sự ứng điềm lành như vậy.
Tôn giả A Nan bạch đức Phật:
– Hôm nay đức Thế Tôn cũng sẽ bỏ tuổi thọ
sao?
Ðức Thế Tôn đáp rằng:
– Ðúng vậy, này A Nan, ta cũng sẽ bỏ tuổi
thọ.
Bấy giờ tôn giả A Nan tự nhào xuống đất.
Nói rộng như trong khế kinh. Bạch đức Thế Tôn rằng:
– Chính con nghe từ kim khẩu đức Như Lai
nói rằng:
– Nếu có các Tỳ kheo tu 4 thiền
thần túc, có thể sống ở đời một kiếp cho đến vô số kiếp. Nói rộng
như trong khế kinh.
Bấy giờ đức Thế Tôn ý Ngài không di động,
nói những lời ngôn giáo như vầy rằng:
– Thế nào A Nan, chẳng phải ta đã 2,3 lần
báo với ngươi rồi sao?
Bấy giờ tôn giả A Nan biết đức Thế Tôn
không bao giờ nói hai lời, cho nên tôn giả im lặng mà đứng. Giống như
ghe thuyền trong đại hải nếu bị vỡ thì không làm sao có thể đến bờ bên
kia được, nên bạch đức Thế Tôn rằng:
– Từ đức Tùy Diếp Thế Tôn đến nay, cảnh
giới của đức Tam Da Tam Phật ấy nhân dân thảy đều được thành tựu. Hôm
nay cảnh giới của đức Như Lai, Ngài đã tu hành rất cần khổ, tinh tấn,
huệ thí, không có hạn lượng. Nhưng như hôm nay thọ mạng của chúng sanh
thì ngắn ngủi, sự giáo hóa chúng sanh vẫn chưa hoàn tất?
Khi ấy đức Thế Tôn bảo:
– Nay ngươi làm thế nào để thế gian được
hòa bình, thịnh vượng, không có sự sợ hãi khổ nạn? Khi có vị pháp
vương xuất thế, vị chuyển luân thánh vương lấy pháp để giáo hóa, cây cối
thảo dược không sao kể hết, tất cả lao ngục, giam cầm đều được
phóng thích, hoặc lại có các đảnh nước sôi ở thế gian, như chuyển luân
thánh vương, tất cả các lao ngục giam cầm thảy đều được giải thoát,
không bị các khổ ách. Ngài có ân từ đối với các chúng sinh.
+ Sao gọi là Ngài có ân từ đối với các
chúng sanh?
Bấy giờ tôn giả A Nan bạch đức Thế Tôn:
– Ðức pháp vương là bậc nhất, xuất hiện ở
thế gian, những ai gặp nguy ách khổ não, Ngài có thể giải thoát khỏi khổ
não. Ðức Phật dạy:
– Giống như, này A Nan, thời thái bình có
chuyển luân thánh vương, ở thời đức Phật Tùy Diếp xuất thế cũng lại như
vậy. Giống như lao ngục kiên cố đều được độ thoát. Này, A Nan, như thọ
mạng của ta hôm nay rất ngắn, xuất hiện ở thế gian, các chúng sanh ấy,
giống như người sanh trong kiếp đao kiếm, cái ác kiếp ấy có các kiết sử
sâu dày, chưa thể lìa khỏi kiết sử ấy, họ nương vào các thứ tà kiến, có
kiết sử tà kiến, vì dục phi pháp cho nên có dục kiết sử ngay khoảng giữa
của các chúng sanh ấy, sanh ra các thứ như vậy. Vì cuộc đời ác trượt cho
nên sự giáo hóa rất ít, nên chúng sanh ấy cần phải siêng tu hạnh
này.
Này A Nan, Lúc ta chưa đắc đạo thì ta là
con khỉ. Ta không tiếc thân mạng, khiến cho đồng loại của ta đều được độ
thoát, không ai mà không được độ.
Lại nữa, khi xưa lúc ta làm con sư tử thì
ta đã độ thoát đoàn người thương nhân khi họ vượt qua ác
đạo, nhờ ta tu phạm hạnh đã lâu rồi.
Bây giờ nầy A Nan, trong các cảnh
giới ta sanh đến không có chúng sanh nào không được ta cứu độ.
Này A Nan ! ngay khi ấy ta lại làm thân
người ở trong nước Ma Kiệt, cứu vớt mọi người.
Lại khi ta làm chim Thanh Tước, đã độ
thoát vô số thương nhân.
Ta lại làm Ðại Tiên Nhân độ thoát vô số
Phạm Thiên. Ngay lúc ta được tám tuổi ta thệ nguyện ý không thối chuyển,
thân mặc áo cỏ, cần tu khổ hạnh, ở nơi nhàn tịnh để tu hành, đều được hộ
trì. Thế nào A Nan, ta đối với thiên hạ của cuộc đời mê hoặc này làm một
trận mưa pháp. Khi ấy Thích Ðề Hoàn Nhân liền cho đổ mưa.
Bấy giờ, này A Nan, khi ta chưa sanh,
thương yêu chúng sanh như con một.
Lại nữa này A Nan, ta vì các chúng sanh
nên trong một kiếp, ta thế họ mà chịu sự khổ trong địa ngục, vì các
chúng sanh mà chịu sự khổ như vậy.
Lại nữa, này A Nan, nay thân của Ta do
cha mẹ sanh ra, không có oán địch nào cói thể hại thân Ta được. Thân ta
là Kim Cang Tam muội, phân biệt các thứ Tam muội. Nếu sau khi ta diệt
độ, nếu ai cúng dường xá lợi thì nhỏ như hạt cải đi nữa, thì công đức ấy
cũng vô cùng.
Bấy giờ liền nói bài kệ này:
– Từ lúc mới phát ý
Việc Ngài làm bậc nhất
Ngài là bậc thượng nhơn
Ai có thể bằng Ngài
Hoặc cha mẹ vợ con
Ðời nay được tự tại
Mạng chung liền bỏ thân.
– Này A Nan, nay ngươi hãy vì đức Như Lai
đến giữa cây Song thọ.Nói rộng như trong khế kinh.
Bấy giờ tôn giả A Nan, vâng theo lời Phật
dạy, liền suy nghĩ rằng:
– Hôm nay đức Thế Tôn niết- bàn thật sao?
Tôn giả liền sầu não, song không dám trái
lời Phật dạy, liền sợ hãi, đi đến giữa cây ấy, đều là do túc mạng cùng
theo đuổi, nên mới cần khổ như vậy, muốn trình bày ý nghĩ mình,
nhưng lại hồ nghi, làm sao đễ trình bày điều này, liền bạch đức
Thế Tôn:
– Con đã làm xong.
Bấy giờ đức Thế Tôn liền đi đến chỗ ấy,
khi đức Thế Tôn cất bước muốn đi. Lúc ấy tâm ý của tôn giả A Nan bị
thiêu đốt, liền sanh ra tâm này:
– Ðây là huyễn mộng chăng? Hay là
sự thật chăng? Tôn giả suy tư, do dự như vậy
xong, liền trở lại tâm chơn chánh. Ðó gọi là Vô thường. Chúng sanh
lưu chuyển mà không thoát khỏi tai hoạn này.
Khi ấy đức Thế Tôn từ từ đi đến giữa cây
Song thọ, ở khoảng giữa đó, có chư thiên đứng đầy cả hư không. Có người
thì ca hát, kỷ nhạc, nhan sắc không thay đổi. Có người thì khóc lóc, rơi
lệ, các chúng A tu luân nhiều vô số. Họ hy vọng đối với giáo pháp,
cung kính đối với giáo pháp.
Bấy giờ họ liền nói bài kệ
rằng:
– Bậc tôn quý bậc nhất
Vì các loại chúng sanh
Pháp Ngài cũng vô thượng
Nay Ngài sắp diệt độ
Bấy giờ đức Thế Tôn đi đến ngồi giữa cây
Song thọ, khi ấy ở giữa cây Song thọ chư thiên cùng bải nhau rằng:
– Ðối với cuộc đời tao loạn, bậc nhất
thiết trí sắp diệt độ, tại sao Ngài lại bỏ tất cà nhân dân, mà lại
diệt độ?
Bấy giờ liền nói bài kệ:
– Nếu ai vì nghĩa mầu
Ban hưởng cam lồ vị
Ngài có năng lực này
Nhưng nay phải diệt độ
Như bánh xe kim cang
Nhân dân đều khen ngợi
Bánh xe có thể hư
Thế Tôn khó bị hoại
Ở khoảng giữa đó, Ngài dốc lòng tu pháp
quán Vô thường, sức mạnh tinh tấn không thể phá hoại. Các chàng trai
trũng đều vô thường. Các đức Phật Thế Tôn cũng diệt độ, tai hoạn này rất
khổ não, liền nói bài kệ này:
– Phải tư duy cho kỹ
Sắc tượng phải luân chuyển
Do cảnh lạc trói buộc
Thọ các sự khổ não
Trong đó hoặc có người nói bài kệ:
– Khởi thủy sanh là khó
Do ấm mà có danh
Không sanh thì không hoại
Có ai thoát nạn này?
Trong đó hoặc có người nói bài kệ, vô
thường do đó mà sanh
– Khi giác ngộ ban đầu
Tất cả niệm đều thành
Ngài có sắc như vậy
Chư Phật không thường trụ
Hôm nay chúng nên tu nghiệp gì?
Bấy giờ đức Thế Tôn thuyết bài pháp này
lần cuối cùng. Cho nên cần phải siêng năng tu tâm, bậc phước điền cũng
không thể giữ lại sắc thân này , mà phát tâm hoan hỷ.
Bấy giờ ở trong vườn Bà La, chư thiên
thảy đều đảnh lễ đức Thế Tôn, tung lên biết bao hoa Mạn Ðà La, họ đều
khóc lóc rơi lệ, liền nói bài kệ này:
– Ai quan sát Như Lai
Ngày đêm không giãi đãi
Khi Ngài sắp diệt độ
Bỏ thân hình tứ đại
Cần khổ là đức Ngài
Chưa từng sai chánh Pháp
Ðể vượt biển sanh tử
Nay phải bỏ ấm, Nhập
Bấy giờ đức Thế Tôn lúc sắp nhập niết
bàn, Ngài bảo các Tỳ kheo:
– Này các Tỳ kheo, ai có hồ nghi
gì, hãy đến hỏi ngay. Cho đến tất cả hành đều không có tịnh
thường.Vì sao. Tôn giả A Na Luật, đức Thế Tôn nhập niết bàn thật sao?
Khi đó các vị Phật Tích, Kim Cang, lực sĩ
đứng sau đức Như Lai, quan sát nhan sắc, gân cốt chi tiết trong người
của Ngài, thảy đều kiên cố có thể kham nhậm chịu đựng được, Ngài cũng có
thể còn sức để thuyết pháp vi diệu. Họ liền khóc lóc mà nói bài kệ rằng:
– Không bẩn không tỳ vết
Ai che chở thế gian
Giống như sắc vàng tía
Nay phải bỏ thân này
Giống như ở thế gian
Tuổi già thì phải chết
Thích Ca Văn, họ Thích
Vô tưởng hằng tịch diệt.
Trong đó hoặc có người nói:
– Thôi đi, thôi đi, đừng nói lời ấy.
Khi ấy họ ôm lòng ảo não, liền nói rằng:
– Tự nhớ đức Thế Tôn từ cõi trời Ðâu
Thuật giáng thần, sanh xuống nhân gian, nhớ Ngài có ngàn vạn chư Thiên,
nhờ công đức của Ngài mà họ đều mặc áo xanh, có oai thần lực, cho nên
sức mạnh không thể phá hoại Ngài được, có 500 vị không thối
chuyển. Lại có 12 đại quỷ thần, ai thấy cũng đều hoảng sợ, đều muốn đến
hộ vệ đức Như Lai. Họ tư duy như vậy, lại nói rằng:
– Mỗi chi thể của đức Như Lai
đều phát ra hòa quang sáng rạng, và bảo chúng tôi rằng: – Hãy ra lệnh
chư Thiên như vầy: ” Bảo thần Hộ thế đến đây “. Ngay chỗ ấy họ nói
rằng:
– Chúng ta hoan hỷ, thừa sự cúng dường
như khi Ngài còn ở trong thai, trong khi mộng mị cũng không xa lìa.
Chúng ta nhiễm trước chúng sanh đời này kiên cố, do đó mà có cái tưởng
khổ, vui, có tưởng cha và mẹ, có tưởng tất cả thế gian đều vô thượng,
vi diệu do Hộ Thế tạo ra, có tưởng anh em, vì thọ nhận của tín thí cho
nên có tưởng là phước điền, vì tâm không tà vậy, nên có tưởng chế
ngự. Vì bị dục trôi dạt cho nên có tưởng là Thuyền trưởng. Vì bất khả
đắc, cho nên có tường là của báu, vì đại từ bi cho nên có tưởng là che
chở thế gian. Như thân kim cang của Ta ngày nay, không thể phá hoại
thành trăm mảnh được.
Hoặc có chỗ nói: ” Thân này chắc chắn
phải có quả báo. Vì sao vậy? – Vì cúng dường đức Như Lai vậy”.
Bấy giờ, Mật Tích Kim Cang lực sĩ liền
nói:
– Việc này thế nào? Khi Thái tử cỡi xe
ngựa ra khỏi thành. Khi trở về 7 ngày không ăn, sanh ở cõi trời thứ 33.
Huống chi nay chúng ta, tôn thờ vâng lời dạy của đức Như Lai để vào
trong lổ tai, rồi đọc tụng, tất cả đều học tập, độ thoát
chúng sanh vô lượng. Nếu lại có cái biển châu báu, ta phải mong cầu chứ?
Bấy giờ Mật Tích Kim Cang lực sĩ có
hai vị Hiền thánh luận thuyết kệ rằng:
– Ngay nơi chỗ Thần Long
Kim-Cang hiện ở biển
Vì sao phải ủng hộ
Sư tử rống như vậy.
Khi ấy họ suy tư, lại nói kệ:
– Giống như biển thâm sâu
Không ai hơn đức Ngài
Ở đời tu tinh tấn
Ðức lớn không bến bờ.
Bấy giờ đức Thế Tôn ở nước Ba La Nại,
Ngài chuyển pháp luân, lúc mới chuyển pháp luân, làm lợi ích cho
chúng sanh rất nhiều. Ngài ở đó tọa hạ an cư làm lợi ích cho quốc vương
nước Ma Kiệt. Lần thứ hai, ba và thứ tư Ngài thuyết pháp ở đảnh núi Linh
Thứu, lần thứ năm ở Tỳ Thư Ly. Lần thứ sáu ở núi Ma Câu La cho Mẹ
Ngài nghe. Lần thứ bảy ở cung trời thứ 33. Lần thứ tám ở cõi quỷ thần.
Lần thứ chín ở nước Câu Khô ùTỳ. Lần thứ mười ở trong núi Chi Ðề. Lần
thứ mười một lại nói ở cõi quỷ thần. Lần thứ mười hai ở chỗ nhàn cư của
Ba Già Ðà. Lần thứ mười ba lại thuyết ở cõi quỷ thần. Lần thứ mười bốn
ngay chỗ đức Phật đang tu hành ở tại vườn ông Cấp Cô Ðộc, rừng cây ông
Kỳ Ðà, nước Xá Vệ. Lần thứ mười lăm ở trong thôn dòng họ Thích, thuộc
nước Ca Duy La Vệ, Lần thứ mười sáu lại thuyết ở nước Ca Duy La Vệ. Lần
thứ mười bảy ở thành La Duyệt. Lần thứ mười tám lại ở thành La
Duyệt. Lần thứ mười chín ở trong núi Cha Lê. Lần thứ hai mươi tọa hạ an
cư ở lại thành La Duyệt. Thứ hai mươi mốt, lại ở trong núi Cha Lê,
trong cõi quỷ thần, không đi các nơi khác, liên tục bốn mùa an cư.
Trong 19 năm không qua chỗ khác, Ngài tọa
hạ an cư ở nước Xá Vệ. Như vậy đức Như Lai khi tọa hạ an cư lần cuối
cùng, trong nước Bạt Kỳ, tọa hạ ở trong thôn Tỳ Tướng.
Ðức Thế Tôn đã vượt qua hang sâu ái dục,
như vậy. Thuở xưa chư Phật đã làm huệ thí, lợi căn đều đã thành tựu. Các
hạnh đầy đủ, kẻ chí tánh nhu hòa đã được độ thoát tất cả tiếp theo độ
hạng trung căn. Rồi độ cho hạng hạ căn. Khiến họ dần dần được quả
Tu-đà-Hoàn, cùng diễn thuyết cho kẻ ngoại học, Ðức Thế Tôn đã độ tất cả,
bấy giờ liền nhập Niết bàn. Khi ấy liền nói bài kệ:
– Muốn độ kẻ ngoại học
Ðại giác không ai bằng
Tự giác rồi độ người
không chìm trong hang thẳm
Trải qua các thứ vui
Cùng lúc thêm ích lợi
Bấy giờ sanh hoan hỷ
Ðều được đến bỉ ngạn.
Như nay Ngài thanh tịnh, không có chút ô
uế nào, những chỗ sanh ra thường gặp chỗ lành, việc làm đã thành tựu,
cũng không có các ngạo mạn, nhờ các công đức đều được thành tựu. Nhờ
cảnh giới ấy cho nên tương ưng thành tựu. Vì ân cần cho nên sự sanh thảy
đều thành tựu, vì cứu tế bạt trừ khổ ách, nên được thành tựu đến chỗ vô
vi, nếu sanh ở nhà hào quý thì cư gia thành tựu, nhờ sắc thân vi diệu
cho nên thân thuộc thành tựu cho nên. Vì việc làm đầy đủ, cho nên chỗ vô
vi thành tựu. Vì có hạn lượng cho nên làm việc gì cũng thành. Vì đoạn
trừ các thứ kiết sử cho nên thành tựu sự hàng phục. Vì đã hưng
khởi hạnh nghiệp cho nên thành tựu thệ nguyện. Vì trồng các công đức
chưa từng vi phạm, cho nên việc làm thành tựu. nhờ thành tựu oai nghi,
nên thành tựu các công đức luật nghi. Nhờ thành tựu việc diễn thuyết bốn
ý chỉ của oai nghi, nên thành tựu phân biệt ngôn giáo cảnh giới,
nhờ thành tựu việc hưng khởi, trí tuệ tập chúng đã xả các hữu thành tựu
các giới ba cụ túc luật nghi, nhờ trí chuyên tâm cũng không dựa vào
thiền, nên thành tựu Tam Muội, nhờ phân biệt như thật về
cảnh giới ấy, nên thành tựu trí tuệ, Nhờ đoạn trừ các kiết sử, cho nên
thành tựu giải thoát. Nhờ đoạn trừ các sự ngu si, cho nên thành tựu giải
thoát kiến huệ. Nhờ tập hợp các công đức, nên thành tựu tất cả. Nhờ đã
được tịch diệt, nên thành tự chỉ quán. Vì vậy con đảnh lễ bậc Thập lực.
Bấy giờ liền nói bài kệ:
– Sắc Ngài khó nghĩ bàn
Ðức Phật đã giác ngộ
Ba đời đều xưng dương
Thần tiên đến bỉ ngạn
Với đời đã chấm dứt
Vĩnh viễn không khởi diệt,
Ðại trí thông bậc nhất
Tất cả được tự tại.
Nghe rằng:- Ðức Như Lai sau khi Niết- Bàn
100 năm, bậc nhất Thiết Trí thấy xuất hiện ở thế gian. Ở thành Khi
La Lê có một vị vua tên là A Thúc, oai đức vòi vọi, giống như vị vua
cõi Trời không khác, vua có đại oai đức, thông minh trí tuệ tuyệt
đỉnh, có thể luận nghị với bất cứ ai, xem dân như con
đẻ. Nhà vua buổi tối lúc sắp đi ngủ, liền suy nghĩ rằng:
– Nay nguyện ta đã thành cũng không có mong
cầu, nên ủng hộ nhân dân, nay nên làm phương tiện gì và làm việc gì nên
hưng khởi việc gì, để nhân dân ở đời được nhờ vào oai đức của ta?. Khi vua
suy nghĩ như vậy xong liền đi ngủ, ở trong giấc mộng liền nghe bài kệ:
– Quán sát thật vi diệu
Ba đời đều kính thờ
Ngài rộng thí xá lợi
Bậc tối thắng diệt độ.
Khi nghe lời nói ấy rồi, nhà vua liền tỉnh
giấc. Khi nhà vua đã tỉnh rồi, liền than rằng:
– Lành thay chúng sanh kia
sau khi đã diệt độ
Trời xá lợi đã truyền
Chúng con phải kính lạy.
Lời khẩu truyền, khi tai đã được
nghe, bấy giờ đại vương triệu tập quần thần đại chúng, đem nghĩa này
để hỏi rằng:
– Ta nên dùng điều gì để cảm hóa nhân dân?
Các quần thần và nhân dân đều tâu rằng:
– Hoặc là cúng dường xá lợi của Như
Lai, hoặc là tế tự thờ cúng Thần trời.
Bấy giờ Nhà vua liền nói rằng:
– Nên dùng lời chí thành để ủng hộ pháp
này. Ðêm qua trong giấc mộng ta có nghe lời ấy, suy nghĩ đến xá lợi của
Phật hết sức quí giá, ví đời này cho nên chúng ta nên ủng hộ nhân
dân của thế gian, tự mình đã được phước, chúng sanh lại được độ thoát,
công đức vô lượng, nên thực hành oai nghi, ân từ, đều khiến mọi người
thấy được ánh sáng. Ở trong mộng, ta có nghe lời nói ấy. Lại nói bài
kệ:
– Nếu nghe âm vang ấy
Ðạo tràng, tự hay biết
Ngài là Thích sư tử
Nên cúng dường Xá Lợi.
Bấy giờ nhà vua mời các Tỳ kheo lại
lấy nghĩa trên để hỏi. Các Tỳ kheo bảo: ” Lấy chánh pháp để
chỉ giáo ”
Khi ấy nhà vua lại nói với các Tỳ kheo:
– Chư Hiền đã nói về giấc mộng mà tôi thấy,
chắc là đời trước tôi đã trồng gốc đức.
Khi ấy nhà vua thọ bát quan trai trong
8 ngày, mặc toàn vải trắng, đánh chuông, gõ trống, tấu kỹ nhạc, khảy đờn
cầm, đờn sắc, đánh trống, thổi tù và, đốt các thứ hương, ở trong thành La
Duyệt mà mong được xá lợi. Nhà vua nghe trong thành ấy có quyển sách bằng
vàng vua đã thấy được hình dạng của quyển sách ấy, là do nhà vua đời trước
đã bố thí nên mới thấy được sách ấy. (Từ khi vua nghe trở xuống là
lời của các Tỳ kheo).
Nhà vua suy nghĩ giây lát liền nói:
– Ðiều ấy chắc chắn phải được quả báo vi
diệu. Thật ra tôi muốn mở cái trắp đồng để thấy lời văn trong đó, nhà vua
liền mở ra và thấy có quyển sách bằng vàng và thấy lời văn trong trắp đó.
(Quyển sách đó do vua A Xà Thế ghi chép lời huyền ký của đức Phật là
có vua A Thúc ra đời).
Nhà vua thấy sự chứng nghiệm ấy liền cùng
mọi người đọc bản văn này: ” Trong thành La Duyệt của nước Ma Kiệt có một
vị trưởng giả tên là Ba La Mật Ða La, ông ta có một người con trai
tên là Tỳ Xà Da Mật Ða La. Người trưởng giả thứ hai tên là Ba Tu Ba Ðà La
có một người con trai tên là Ba Tu Ðạt Ma. Hai người con của hai trưởng
giả này đang vui chơi ở đầu ngã tư đường. Trong khi họ đang vui chơi, thì
con của trưởng giả tên là Tỳ Xà Da Mật Ða La trong lòng hoan hỷ, mới lấy
tay bụm đất dâng cúng (đức Phật), lại có tâm giúp đỡ những ngước tâm hoan
hỷ (làm việc ấy). Sau khi đức Như Lai nhập Niết- Bàn một trăm năm, thì Tỳ
Xà Da Mật Ða La sẽ xuất hiện ở thế gian. Nhờ công dức lấy đất cúng
dường cho đức Phật, nên có một vị vua tên là A Thúc sanh trong giòng họ
Một Da “. Khi ấy nhà vua đọc văn tự này, liền hoan hỷ khen là chưa từng
có, do đó vua ra lệnh các quần thần cùng đọc quyển sách vàng ấy, thì cũng
giống như vua đã đọc không khác. Lời ký rằng: ” Người sẽ thống lĩnh
toàn nhân dân của thế giới này, nhưng Ngài không khen ngợi Ba Tu Bạt Ma “.
Khi ấy nhà vua than rằng:
– Lành thay, bậc đại phước điền, làm một
chút bố thí mà được công đức to lớn, tâm được hoan hỷ.
Hoặc có chỗ nói rằng:
– Ta lấy Xá Lợi của 7 tháp, phân bố rộng
rãi để hóa độ thế giới.
Lành thay, nhà vua lúc đó thật là bậc trí
tuệ chưa từng có, đã hoan hỷ lấy xá lợi của ta.
Ở trong hư không nghe tiếng nói của Thần
Thánh, mới nói bài kệ này:
– Nên phát tâm hoan hỷ
Ðức lành khó nói được
Nên tung rãi công đức
Ðem xá lợi giáo hóa.
Vị Thiên Vương đối với Xá Lợi của Ngài, mưa
biết bao thứ hoa.
Bấy giờ nhà vua dựng 8 vạn 4 ngàn cái tháp,
hoàn thành trong một ngày. Khi ấy nhà vua bảo quần thần:
– Ngài có ngôn giáo chơn đế như vậy, được
thế gian khen ngợi, phân bố xá lợi của đức Phật khi Ngài đã diệt độ cho
thế giới, cũng không có các kiết sử, thân thanh tịnh như vàng ròng,
cũng giống như tuyết trắng, quán xem mặt đất này chưa từng khởi lên điều
ác, Ngài cũng như thế, thấy mặt đất này đã che chở muôn loài, điều Ngài
giáo thọ, trí không lay động, ở trong hang cốc trên đỉnh núi cao,
không vô hạn lượng, huống đang thống lĩnh tất cả, tất cả mặt đất là phước
điền, đấng Thập lực quán sát chúng sanh loại đã dựng tháp chùa, không
có tăng giảm.
Bấy giờ Xá Lợi của đức Thế Tôn chỉ vì tất
cả chủng loại, mỗi mỗi tạo ra bao nhiêu luận thuyết.
Khi ấy nhà vua nói rằng:
– Giống như sức mạnh của vô số Kim Cang Tam
Muội này làm cho nát xương mà tự được xả, an tịnh. Làm sao để độ chúng?
CÁC KINH DO TỲ KHEO TĂNG GIÀ LA SÁT TẬP
THÀNH
QUYỂN HẠ HẾT.