Tăng Già La Sát, người nước Tu Lại. Sau khi
đức Phật nhập diệt 700 năm, ngài sanh ở nước này, xuất gia học đạo, du
hành, giáo hóa các nước, cho đến lãnh thổ nước Kiền Ðà Việt, làm thầy của
vua Chân Ðà Kề Nị. Ngài là bậc cao minh tuyệt thế, có nhiều dịch thuật và
sáng tác. Tại nước đó, ngài tập thành kinh ” Tu Hành Kinh ” và ” Ðại Ðạo
Ðịa Kinh “. Ngài lại trước tác Hiến chương của kinh này rằng: ” Ðức Thế
Tôn từ lúc mới thành đạo đến nay bị chìm đắm hư vô, sở hành không có lớn,
nhỏ, phải theo sự việc mà luận bàn, từ việc du hóa, hạ tọa an cư, không
việc gì mà không thiếu sự khúc chiết. Tuy bổn hạnh chiếu khắp, vấn đề độ
đời như các kinh chép. Ðức Phật lúc đi, lúc ở thì hết sức bất ngờ. Nay xem
kinh này mà nhiều người được ngộ đạo, truyền bá cho đến nay. Cho dù ta có
được sức lực của đại lực sĩ, chân thật không hư dối, đứng ở dưới cây này,
tay vịn lá cây mà bỏ thân mạng. Cho dù có thế lực to lớn của con đại tượng
cũng không thể di chuyển được ta tí nào. Ngay lúc trà tỳ cũng không đốt lá
cây này, nhưng sau đó ta liền đứng mà mạng chung. Vua Kế Nị Tự đến nhưng
không thể lay động được. Vua liền dùng voi lớn kéo nhưng vẫn bất động, đến
chỗ trà tỳ, hơi nóng bốc lên mà lá vẫn không thương tổn. Ta liền bay lên
cõi trời Ðâu Thuật, cùng đàm luận điều cao xa trong của đạo sĩ Di Lặc, lá
vị Phật sắp bổ xứ vào thời Hiền kiếp thứ tám “.
Vào năm 20 niên hiệu Kiến – Nguyên, Sa môn
Tăng Già Bạt Trừng, người nước Kế Tân mang kinh này đến Trường An, Thái
thú Võ Oai là Triệu Văn Nghiệp xin phép được xuất bản. Ngài Phật Niệm
phiên dịch, ngài Huệ Trung làm Bút thọ, chính lúc ngài Mộ Dung gặp nạn ở
ngoài thành (cận giao), nhưng dịch phẩm không ổn (?). Tôi cùng với Pháp
Hòa đối chiếu để kiểm định, đến ngày 30 tháng 11 mới xong. Năm này xuất
bản 60 quyển kinh A Hàm, 46 quyển kinh Tăng Nhất A Hàm, trong lúc đánh
trống (phạt cổ), gõ mõ (kích thác) để phổ cáo, xuất bản hơn 100 quyển kinh
này. Dù lúc cùng đường hay thông suốt vẫn không biến đổi, há chẳng phải là
di tích xưa của tiên sư đó sao?”.
TỲ KHEO TĂNG GIÀ LA SÁT
THÀNH KINH PHẬT HẠNH.
Quyển thứ nhất
Bấy giờ Bồ tát lúc mới tu hành, vì thương
xót thế gian nên phát tâm với đạo. Vì Ngài xuất gia cho nên thực hành
nhẫn nhục; vì không tương ứng nên tâm Tam muội bị đoạn; vì vô trí nên
hành trí huệ Kim-cang ; vì để trừ bỏ sự đùa giỡn, hành chơn đế, cho nên
từ bỏ ý ô uế ; vì trực hạnh nên hành khổ hạnh; vì có lòng từ hiếu với
cha mẹ cho nên kiên cố không bỏ thệ nghiện. Vì ly dục cho nên làm theo
điều nhiêu ích ; vì đã niệm báo ân cầu giải thoát cho nên mặc áo cà sa;
vì muốn tịch tĩnh ở nơi núi rừng cho nên không để ý mọi việc ; vì hành
giả tìm hiểu nơi người thân cho nên biết thân mình là sự trói buộc ; vì
miệng thực hành không nói dối cho nên đối với tất cả gốc khổ, ý không
niệm nhưng không xả hiện hữu vậy.
Hoặc lại lúc Bồ tát thực hành trí huệ,
nhờ những điều đã biết cho nên gọi là trí huệ, luôn luôn trong mọi hành
động của Ngài và sự không hiểu sâu nghĩa lý của các chúng sanh, Ngài mãi
mãi khuyến hóa, phân biệt bằng trí tuệ xác quyết của Ngài: đây là sâu,
đây là cạn, thanh tịnh, rất có lợi; đây là ác, đây là xấu, thân cận
thiện tri thức; pháp này không loạn, vô lượng vô hạn, cũng không tăng
giảm. Giống như cái kiếm, cái kích đã chặt thì đứt, trí huệ của Ngài
cũng lại như vậy. Vì hiện đệ nhất nghĩa cho nên có trí huệ sáng suốt ;
vì ý mình tối tăm, bế tắc cho nên mở cái thấy tương ứng với sự sáng suốt
; nhờ có cái hạnh nên căn môn đầy đủ. Vì không khiếp nhược cho nên thể
hiện oai lực của mình, vì muốn đoạn tài nghiệp bất thiện nên hiện ra có
tài nghiệp; bất thiện là không thể nắm bắt được, cho nên hiện ra trân
bảo như vậy; vì đoạn mạng cho nên hiện ra thọ mạng; vì đoạn các kiết sử
cho nên ra sức quán sát việc lâu xa; cùng người phân biệt đều khiến cho
họ giải quyết rỏ ràng để cứu mạng họ khỏ bị nguy khốn; vì sự ưu sầu cho
nên khởi tâm hoan hỷ; vì để dứt ý không khởi cho nên lìa pháp ác mà
thành tựu thiện pháp; vì bỏ tà theo chánh, nhờ vậy cho nên Ngài thành
tựu sức mạnh trí tuệ. Vì sự sanh tử cho nên muốn đoạn vọng kiến, đến chỗ
giải thoát. Vì dạo khắp thế gian cho nên tu hành tất cả cảnh giới. Cứu
cánh của nhất thiết trí và để đạt đến vô vi (Niết-bàn).
Khéo đứng không di động
Liền đến cõi Bất hoàn
cả trăm kiếp tu hành
Không có tưởng ba đời
Không có sợ sanh tử
Tiêu diệt hết ba cõi
Muốn thanh tịnh chúng sanh
Ngài không còn hy vọng.
Bấy giờ, khi Bồ tát tu hành chân đế, tên
của chân đế đó là tâm không hư vọng. Không nói hai lời, thường vui thích
việc đó, cũng không có bỉ – thử, luôn luôn vui thích sự thật ấy; trong
lúc thức hay ngủ, chưa từng đù giỡn, cũng không thích nói dối.
Lại nghe: Ngày xưa có một vị Vua tên là
Tu Ðà Ma, ở trong cung vua có chế ra loại trống pháp để thống lãnh 4
cõi, khi đánh lên thì quần thần, nhân dân không ai không nghe. Vị Vua có
đức như vậy, đi đến ao nước để tắm rửa, cởi lên xe Vũ Bảo, muốn ra khỏi
thành. Bấy giờ có một Bà la môn nhan sắc đoan chánh, thông minh trí tuệ,
muốn đến chỗ Vua để xin châu báu. Bà la môn liền tâu với Vua, tự xưng
tên họ, đưa tay lên, nói lời cầu xin.
Bấy giờ nhà vua nghe tiếng nói người hành
khất liền hoan hỷ, mới bảo rằng:
– Thôi đi, thôi đi, này Tôn giả ! Chờ ta
về nước sẽ cứu tế cho.
Phàm phép của Vua là không nói hai lời.
Nhà vua liền đến ao nước tắm rửa. Tắm rửa xong liền muốn trở về nước.
Bây giờ có con quỷ có cánh bay (Sí-Phi) tên là Yết-Ma-sa-ba-la, hiện
tướng khủng bố, tay cầm thân Vua. Khi ấy nhà vua liền tự rơi nước mắt.
Lúc đó con quỷ quán thấy tâm của nhà vua như vậy, liền hỏi:
Tại sao Ðại vương ? Vì sao Ngài lại khóc,
có tâm ưu sầu thế này?
Bây giờ Bồ tát trả lời:
– Ta không có cái tưởng về thân ta. vì ta
có hứa cho của báo cho vị Bà la môn cho nên ta mới ôm lòng sầu lo như
vậy.
Khi ấy con quỷ nói với nhà vua:
– Tôi chưa bao giờ nghe chuyện hết sức kỳ
quặc như vậy. Thế gian rất hiếm có. Nếu vì nhân dân của Ngài, vậy tôi
cũng đến để xem thử. Nay nếu tôi thả Vua ra, vậy Vua có trở lại chăng ?
Bây giờ Vua hết sức sung sướng.
Khi ấy con quỷ có hai cái cánh, nó bay
lên hư không, quán xét lời nói của Vua, liền thả Vua ra.
Bây giờ Bồ tát trở về nước, hoan hỷ lấy
của cho Bà la môn ấy. Ðó chính là lời nói sự bố thí không hu vọng, không
hối hận, có sự thẩn xét chân thật.
Khi ấy vị quốc vương liền trở lại chỗ
con quỷ, tự xưng tên họ nói:
– Ta đã đến đây.
Bây giờ con quỷ thấy hình mạo của nhà vua
liền kinh sợ, vì Vua đã nói lời thành thật. Nhan sắc của Vua không thay
đổi, trừ bỏ sân hận, không có ý sát hại. Nó liền nói:
– Thật là chuyện hết sức kỳ dặt, ta chưa
từng nghe bao giờ.
Nó nói bài kệ:
Ta thà uống chất độc
Dao bén cắt thân thể
Phước xưa sanh vương tộc
Dũng mãnh không hư dối
Nay tôi tôn kính Vua
Cải hối, tu hạnh thiện
Nước đồng sôi đổ miệng
Ai dám hại Pháp vương ?!
Ðức Ngài không ai bằng.
Nên theo với quốc vương
Theo Vua, không giết nữa.
Cúng sanh được an lạc.
Bây giờ khi Bồ tát tu hạnh nhu hòa, tâm
Ngài nhu hòa, có danh tiếng tốt, lời nói không thô bạo. Vì muốn cầu
pháp nên thường gìn giữ ý, chưa từng sanh lòng oán ác, không sanh hy
vọng, miệng không nói lời ác; vì người ngu si nên hiện tướng trí huệ ;
vì từ tâm cấu uế nên ai cũng khen ngợi, không có ý tưởng tự cao, không
tùy thuận các điều hư huyễn. Nhờ chư Phật ủng hộ nên đạt được cái đức
như vậy. Ngài cũng không có điều gian ngụy. Những ô uế như vậy thảy đều
tránh xa. Bên trong Ngài có được tâm nhu hòa, thiện căn vốn đầy đủ, mọi
người đều mến yêu; Ngài không tiếc thân mạng nên thần tiên đều khen
ngợi. Ngài có sự nhu hòa như vậy thì có thể quán biết quả báo thiện ác
của Ngài. Trí huệ công đức của Ngài đầy đủ như đã nói trên. Gốc thiện
cũng không đoạn mất khi bần cùng. Ngài bố thí vàng bạc, châu báu để trừ
bỏ các ô uế. Lúc Ngài thọ 10 tuổi, gặp điều ách nạn, vì muốn tự tại sống
còn nhưng Ngài cũng không sát sanh. thân tạo nghiệp lành, tâm sanh của
cải, miệng thì truyền giáo. khi hành động tạo nghiệp, Ngài trừ khử những
điều ô uế ngăn che.
Bây giờ, này các Tỳ Kheo, người ở thế
gian có thân đã được dừng nghỉ, nó không phải là sở hữu của thiện ác,
những ý tưởng sở hữu đã chất dứt hoàn toàn, nhờ đã chấm dứt hoàn toàn
nên xa lìa sự nhiễm trước mà đời trước đã tạo ra. Khi nhiễm trước đã
đoạn, đã hết nên không tạo ra nữa, nên đoạn trừ gốc khổ, hết sự bại
hoại.
Nói như vậy xong, làm pháp trụ này, ở
trong diệu pháp tâm sâu ấy, như tay cầm bánh xe 6 tháng mà không giãi
đãi.
Các đức Phật Thế tôn đều biết rỏ hết, đều
thành tựu hết. Bây giờ liền nói bài kệ:
– Không tạo ý dua nịnh
Nên không tạo nghiệp ấy
Ý dũng mãnh như biển
Ðầu mặt con đảnh lễ
Biết rõ nghiệp tà pháp
Luôn quán sát như vậy
Nhu hòa không thô bạo
Vô trước, đời hiếm có.
Bây giờ, lúc Bồ tát từ hiếu đối với cha
mẹ, tâm Ngài có sự báo ân, cung kính, thừa sự, xa điều ác, theo điều
thiện, tùy thời cúng cấp, tối ngủ dậy sớm thăm dò ý cha mẹ, không việc
gì mà không làm. Những điều cha mẹ giáo huấn, ngăn cấm, chưa từng vi
phạm. Ngài có tâm nhu hòa như vậy cho nên mới có việc làm như vậy. Tâm
Ngài đã tu hành, thường tự quán sát, nên làm việc gì, những điều đã nghe
giáo huấn liền biết rõ. Tâm thường hoan hỷ, ái kính tất cả. Nhớ nghĩ,
biết rỏ tâm của cha mẹ nên thường nghĩ việc muốn báo ân. Ðiều này không
bao giờ có: đó là không nói lời thô bạo.
Lại nghe, ngày xưa, lúc Ngài chưa thành
Bồ tát, còn làm con đại tượng vương, đoan chánh vô song, đầu,mắt, da,
lông thảy đều đoan chánh, ai xem cũng không chán, tai dầy, sung mãn hơn
các con voi khác, răng dài, móng vuông vức, có tâm vui thích, môi răng
đều đỏ, đầu tai đều tròn trịa. Hình thể vuông vức, hết sức to lớn, cao
rộng, giống như hòn núi cao, bước đi chững chạc, bảy chỗ đầy đủ, giống
như hoa sen xanh, bước đi vững vàng không có trở ngại, do long nữ sanh
ra, rong chơi trong núi đầm, sắc như tuyết trắng. Khi bị thợ săn bắt
được, dắt đi, bấy giờ cây cối, núi rừng thảy đều nghiên mình buồn thảm,
nước tự dâng lên chỗ voi ở, Thợ săn đem dâng các đồ ẩm thực ngon ngọt,
nhưng voi vũng không chịu ăn.
Bấy giờ người huấn luyện voi đến trước,
quỳ dài chắp tay nói với con voi ấy bằng bài kệ:
– Tôi vốn tạo thiện tâm
Sao lại không chịu ăn
Mời voi thần đến đây
như có tâm oán hận ?
Bấy giờ voi thần liền nói kệ đáp lại:
– Mẹ tôi bị mù mắt
Nhớ mẹ không thể ăn
Già yếu thêm sầu não
Cho nên xin tha mạng.
Ở trong núi sâu kia, mẹ tôi không ăn, đói
khát, chắc chắn sẽ bị chết, việc này hết sức độc hại, thống khổ làm cho
mẹ con phải ly biệt. Vì sự sầu lo ấy nên tôi không thể ăn được. Không có
quả ngon để dâng cho mẹ tôi, như vậy, cả tôi và mẹ tôi đều chết.
Con voi thần nói những lời chua cay ấy
xong, lúc ấy người thợ săn liền hoan hỷ thả voi ra.
Bấy giờ ở nước Câu Tát La có một trụ xứ ở
ẩn của một học sĩ tên là Diễm Thí. Vị này tu hành thập thiện đầy đủ công
đức, ôm bát đi lấy nước. Khi ấy quốc vương nước Câu Tát La xuất hành để
đi săn, đuổi theo con nai từ trong núi phóng ra. Nhà vua liền buông tên,
lỡ bắn trúng Diễm Thí. Bấy giờ Diễm Thí kêu la, lo cho cha mẹ, nói:
– Tôi giống như con chim mà không có hai
cánh, Cha mẹ tôi tuổi già, mù lòa không thấy đường, nay tôi bị trúng tên
độc, đều sẽ phải chết. Cha mẹ tôi thì tu Tứ đẳng tâm.
Liền nói bài kệ:
– Vì cha mẹ tôi già
Khi cha mẹ sanh con
Tự giác và giác tha
Như sắc, thinh và văn
Tối thắng thương quần sanh
Phát tâm đều diệt độ
Mắt mù không thấy đường
Muốn được nhờ sức con
Tất cả đồng tự tướng
Người trí tự dứt ý
Ðều đưa đến đạo tràng
Tối diệu nghĩa thế gian.
Lúc mới phát tâm thì gọi là Bồ Tát, có
các hạnh như vầy: tiêu diệt vô minh, mà không có khả năng trừ vô minh.
Vì muốn hiện trí tuệ sáng suốt để tu hành nên trừ bỏ cái sở giác. Bồ Tát
quán sát như vầy: Bấy giờ đối với các loại chúng sanh, thiện ác thực
hành lòng đại bi.Vì thương xót thế gian cho nên phát tâm đến với đạo.
Chúng sanh đều là ái trước, cũng không tự dùng năng lực để trừ sở giác.
Bồ Tát quán sát như vậy. Bấy giờ đối với các loài chúng sanh mà khởi
lòng đại từ. Chúng sanh bị sắc trói buộc, bị dục ái trói buộc, không ai
có thể hiểu sắc, ngoại trừ người trí tuệ.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với chúng
sanh khởi lòng đại từ. Ðó là: Chúng sanh bị hai ý niệm oán và ghét giao
nhau, trói buộc, không ai có thể biết được điều ấy, ngoại trừ người có
trí.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với loài
chúng sanh mà khởi tâm đại từ, đó là: Chúng sanh bị gánh nặng khổ, bị
khổ làm hại, không ai có thể vượt qua gánh nặng khổ này, ngoại trừ người
có trí.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với loài
chúng sanh mà phát sanh đại từ, là: Loài chúng sanh thường ôm lòng sợ
hãi, trăm thứ khổ cùng lúc ập đến, không ai có thể trừ được sự sợ hãi
này, ngoại trừ người có trí.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với loài
chúng sanh khởi tâm đại từ, đó là: Loài chúng sanh bị sự đói kém, khát
ái áp bức, không ai có thể trừ được đói kém này ngoại trừ người có trí.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với lòng
chúng sanh khởi lòng đại từ, đó là: Loài chúng sanh bị bệnh khốn bức
bách, một bệnh chuyển động thì trăm thứ bệnh tăng, không ai có thể thoát
khỏi bệnh này, ngoại trừ người có trí.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với chúng
sanh khởi lòng đại từ, đó là: Loài chúng sanh bị sanh, già, bệnh, chết
thường theo đuổi thân mà bị tai hoạn. Không ai có thể thoát khỏi sanh,
già, bệnh, chết để được vô vi ngoại trừ người có trí.
Bồ Tát quán sát như vầy nên đối với chúng
sanh khởi tâm đại từ, đó là: Loài chúng sanh mọi việc đều trở thành bỉ
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.