PHÂN BIỆT KINH

PHÂN BIỆT DUYÊN SANH KINH. Như thật tôi nghe một thuở nọ, sau ngày Phật thành đạo, Ngài ngồi một mình dưới gốc cây Bồ-đề, gần bờ ao Ô-lô vĩ loa, bên sông Ni-liên, tâm tự nghĩ rằng: “ Pháp khổ, thế gian không ai có thể tránh. Thế nhưng chẳng mấy ai…

—— Trích đoạn PHÂN BIỆT KINH

 

Giới thiệu chung

Đây là một tài liệu cốt lõi đóng vai trò thiết yếu trong việc định hình nền tảng đạo đức và trí tuệ của người tu học theo giáo lý nguyên thủy. Bối cảnh hình thành văn bản gắn liền với những thời khắc lịch sử quan trọng, khi bậc Đạo sư trực tiếp giải đáp những nghi vấn thầm kín về vũ trụ và nhân sinh. Nội dung chính tập trung khai thác các khía cạnh vi tế của tâm trí, đồng thời đề ra những nguyên tắc sinh hoạt chuẩn mực nhằm tránh xa hố sâu của sự vô minh. Qua những câu chuyện thực tiễn sinh động, độc giả được hướng dẫn cách quan sát sự vận hành của các pháp, từ đó tháo gỡ từng nút thắt vướng mắc trong nội tâm. Về mặt ý nghĩa, tác phẩm mang đến một luồng sinh khí mới cho những ai khao khát tìm kiếm sự an lạc giữa vòng xoáy sinh tử luân hồi. Giá trị của nó vượt qua mọi ranh giới thời gian, tiếp tục chứng minh tính ứng dụng sâu sắc trước những biến đổi của xã hội đương đại. Việc gìn giữ cẩn thận di sản này đã giúp tài liệu đến tay hậu thế trọn vẹn, nuôi dưỡng hạt giống từ bi trong lòng mỗi người. Có thể khẳng định rằng, đây là một mảnh ghép không thể thiếu trong bức tranh triết học, soi rọi ánh sáng giác ngộ cho vô số sinh linh.

Nội dung kinh

Như thật tôi nghe một thuở nọ, sau ngày Phật thành đạo, Ngài ngồi một mình dưới gốc cây Bồ-đề, gần bờ ao Ô-lô vĩ loa, bên sông Ni-liên, tâm tự nghĩ rằng: “ Pháp khổ, thế gian không ai có thể tránh. Thế nhưng chẳng mấy ai biết lo sợ. Ðó là pháp quyết định có thật. Nếu người nào quan sát đúng như vậy là điều phước lợi lớn. Pháp vui, thế gian cũng lại như vậy. Không ai có thể tránh khỏi. Thế nhưng chẳng mấy ai biết nhàm chán. Ðó là pháp quyết định có thật. Nếu người nào quan sát đúng như vậy là điều phước lợi lớn.”

Phật còn nghĩ rằng: “Mọi giới ở thế gian như Trời, Người, Ma, Phạm, Sa-môn, Bà-la-môn v.v… đối với pháp này không thể biết rõ một cách hoàn toàn được. Nếu như có người nào hay suy nghĩ và cảnh giác về sự khổ vui, thấu rõ được sự khổ vui như vậy chẳng phải là pháp cứu cánh, thường suy nghĩ và tu hành đúng theo pháp ấy, người đó sẽ được đầy đủ các pháp lành Giới, Ðịnh, Huệ, Giải thoát và Giải thoát tri kiến, v.v…

Tất cả chư Phật quá khứ, vị lai đều biết rõ được mỗi mỗi sự khổ vui của thế gian, và đã tu hành đúng theo pháp ấy. Nhờ sức tự tu hành mới thành bậc Chánh-giác.

Tại sao thế? Vì pháp này là pháp chưa từng có, không ai có thể hiểu biết một cách thấu đáo hoàn toàn. Các đức Như lai Ứng cúng Chánh-đẳng Chánh giác đều biết pháp ấy một cách hoàn toàn và đã tu hành đúng như pháp ấy mới thành bậc Chánh-giác. Các đức Như-lai Ứng-cúng Chánh-đẳng Chánh-giác vị lai cũng sẽ biết rõ các pháp khổ vui của thế gian như vậy, và tu hành theo đúng như pháp ấy mới viên thành đạo quả.”

Lúc bấy giờ Ðại-Phạm-Thiên-Vương là vị Trời làm chủ cõi Ta-bà, do oai lực của Phật, mới biết được điều mà Phật đã nghĩ đến. Trong khoảnh khắc như người lực sĩ co duỗi cánh tay, liền rời cõi Trời Phạm Thiên và đi thẳng đến chỗ Phật. Ðại-Phạm-Thiên đến nơi, lễ kính xong, đứng trước Phật thưa rằng: Ðiều mà Phật vừa suy nghĩ đúng lắm! Sự khổ vui ở thế gian không ai có thể tránh khỏi. Ðiều Phật nghĩ đó là điều nghĩa lợi lớn. Quá khứ, vị lai cũng lại như vậy. Trong các giới Trời, Người, Ma, Phạm,v.v… duy có Phật mới có đủ trí lực có thể phân biệt và biết một cách rõ ràng các pháp duyên sanh, hoặc tăng, hoặc giảm, hoặc thiện, hoặc ác hoàn toàn đúng như sự thật.

Phật dạy: “Ðúng thế, đúng thế! Này Phạm-Thiên-Vương, chúng sanh thế gian không trí tuệ nên không hiểu biết. Không thể biết rõ được tất cả các pháp bởi si ám che lấp – đó là vô minh. Duyên Vô-minh sanh ra Hành. Hành có ba: thân, miệng và ý. Lại duyên nơi Hành sanh ra Thức. Thức có sáu: nhãn-thức, nhĩ-thức, tỹ-thức, thiệt-thức thân-thức và ý-thức. Duyên Thức sanh ra Danh-Sắc và Trừ-Sắc, Danh có bốn: Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc là bốn đại và tất cả sắc pháp do bốn đại sanh. Hai thứ Danh uẩn và Sắc uẩn, gọi tắt là Danh Sắc. Duyên Danh Sắc sanh ra sáu xứ. Sáu xứ thuộc nội thân có sáu: Nhãn-xứ, Nhĩ-xứ, Tỹ-xứ, Thiệt-xứ, Thân-xứ và Ý-xứ. Duyên sáu xứ sanh ra Xúc. Xúc có sáu: Nhãn-xúc, Nhĩ-xúc, Tỹ-xúc, Thiệt-xúc, Thân-xúc, Ý-xúc. Duyên xúc sanh ra Thọ. Thọ có ba: Thọ-vui, Thọ-khổ và Thọ-không-khổ không vui. Duyên thọ sanh ra Aùi. Aùi có ba: Dục-ái, Sắc-ái và Vô-sắc-ái. Duyên ái sanh ra Thủ. Thủ có bốn: Dục-thủ, Kiến-thủ, Giới-cấm-thủ, Ngã-ngữ-thủ. Duyên Thủ sanh ra Hữu, Hữu có ba: Dục-hữu, Sắc-hữu và Vô-sắc-hữu. Duyên Hữu mới có Sanh. Sanh là cõi chúng-sanh tuỳ uẩn sanh khởi, có xứ xứ sai biệt. Các pháp: sanh, dị, diệt thường biến đổi. Từ Sanh làm căn bản nên mới có Uẩn, có Xứ, có Giới và tất cả các pháp như mạng căn v.v… Duyên nơi sanh mới có sự Già, sự Chết. Già là tâm thức hôn muội, tóc bạc da nhăn, khí lực suy kém, hơi thở khò khè, thân thể ốm yếu, cho chí các giác quan đều bại hoại. Chết là sự thay đổi cảnh giới và thú loại sai khác của chúng sanh. Như bỏ thế giới này để sanh về một thế giới khác. Hay bỏ thân của thú loại này để sanh làm thú loại khác, trở lại với tướng vô thường, thời hạn của tuổi thọ được kết thúc, hơi ấm đã rời khỏi thân mạng căn đã hoại diệt, các uẩn cũng xa lìa, bốn đại ly tán.

Những điều nói trên tức là phân biệt duyên sanh. Nếu các chúng sanh nào biết một cách rõ ràng đúng đắn. Người ấy sẽ được đầy đủ năm phần pháp-thân (1).”

Lúc bấy giờ Phạm-Thiên-Vương nghe Phật nói pháp duyên sanh rồi thì lễ Phật mà lui trở về với Trời Phạm-Thiên.

Chú thích:

(1) Năm phần-pháp thân: Pháp-thân là 1 trong 3 thân Phật: Pháp-thân. Báo-thân, Hoá-thân. Do 5 pháp công đức mà thành thân Phật, siêu hẳn thân năm uẩn của phàm phu, gọi là năm phần Pháp thân:

1- Giới-pháp-thân – siêu Sắc ấm. Ba nghiệp thân khẩu ý của Như lai xa lìa tất cả tội lỗi.

2- Ðịnh-pháp-thân – siêu Thọ ấm. Ba nghiệp thân khẩu ý Như lai xa lìa tất cả tội lỗi.

3- Huệ-pháp-thân – siêu Tưởng ấm. Như Lai chơn trí viên minh, thông suốt pháp tánh ( căn bản trí)

4- Giải thoát-pháp-thân – siêu Hành ấm. Như Lai thân tâm giải thoát mọi sự ràng buộc( tức Giải-thoát đức của Niết-bàn).

5- Giải-thoát-tri-kiến pháp-thân – siêu Thức ấm. Như Lai tự chứng kiến biết đã thực giải- thoát( tức hậu-đắc trí). Ba phần trước là nhơn hai phần sau quả.


BẦN CÙNG LÃO CÔNG KINH

( Bản chữ Hán của Sa môn Thích Huệ Giản )

Như thật tôi nghe một thuở nọ Phật cùng 1.250 vị Tỷ Kheo vân tập ở vườn cây của Trưởng giả Cấp-Cô-Ðộc và Thái tử Kỳ-Ðà (*) tại nước Xá Vệ. Bấy giờ có 10.000 vị Bồ Tát và Trời, Rồng, Quỷ, Thần, vô số Thính chúng đều cung kính tựu hội vòng quanh Phật, nghe Phật thuyết pháp, tất cả đều vui vẻ. Trong khi đó, có một Ông già bần cùng mà thọ đến hai trăm tuổi, lông mày dài đẹp, hai lổ tai rộng lớn, răng trắng và đều đặn, hai tay dài quá gối, xem qua dung mạo tựa như người có phước tướng nhưng chịu phải cảnh nghèo khổ, quần áo không đủ để che thân, rách nát loã lồ, lại thường bị cảnh đói khát, kéo lê từng bước, vừa đi vừa thở một cách mỏi mệt. Ðã trải qua mười năm, ông nghe có Phật tại thế, trong lòng rất vui mừng, ngày đêm luôn luôn phát nguyện được gặp Phật. Ông chống gậy lần hồi tìm đến, cầu mong được yết kiến Ngài. Chẳng may vừa đến ngõ Tịnh Xá, oâng lại gặp phải các vị Phạm Thiên, Ðế Thích chận lại không cho vào. Uất ức, ông già mới kêu than :

“ Tôi sanh ra đời bất hạnh! chịu cảnh nghèo khổ khốn cùng, đói khát, lạnh lẽo. Cầu chết mà không chết được, sống mà không biết nhờ cậy ai! Tôi nghe Thế Tôn là một bậc nhân từ, thương yêu che chở khắp tất cả. Muôn loài đều được đượm nhuần ân đức của Ngài, bởi thế lòng tôi rất đỗi vui mừng. Ðã mười năm qua, ngày đêm phát nguyện, cầu mong được gặp Phật. Nay mới được biết quả thật có Phật. Vì vậy, không sờn lòng, kéo lê chiếc thân già yếu từ xa xôi đến, tôi xin một đều duy nhất là được yết kiến Phật, cầu Ngài ban ân từ, cứu cho tôi được thoát khỏi cảnh thống khổ. Nhưng Quý Vị lại ngăn cấm không cho tôi vào.Thế là quý vị đã làm trái với bản ý của Phật. Ðâu nên làm như vậy!”

Ở trong đã biết việc gì đang xảy ra giữa oâng già và Phạm Thiên Ðế Thích ở ngoài ngõ tịnh xá, Phật mới quay sang hỏi A-Nan :

“Ông đã thấy ông già nào có phước tướng, kỳ lão trường thọ mà bị nhiều tội lỗi hay không ?”

A-Nan quỳ thẳng, vòng tay bạch Phật :

“Làm sao có người kỳ lão trường thọ, có phước tướng, lại có nhiều tội lỗi?- Người có nhiều tội lỗi làm sao lại có phước tướng ? Ðời con chưa từng thấy người như thế. Ngưới ấy hiện giờ ở đâu ?”

Phật đáp : Ta thấy có một ông già như thế hiện ở ngoài ngõ, bị Phạm Thiên Ðế Thích ngăn chận không cho vào. Ông hãy ra bảo oâng ấy vào.

Bấy giờ ông già lòm còm đi vào, vừa trông thấy Phật, ông rưng rưng hai hàng nước mắt, vừa mừng vừa khóc, cúi đầu sụp lạy đức Phật, rồi quỳ thẳng, vòng tay sụt sùi kính bạch : “Con sanh ra đời bất hạnh, chịu cảnh bần cùng khốn khổ, đói khát lạnh lẽo. Cầu chết mà chết không được, sống thì không biết nhờ cậy ai. Con nghe Thế Tôn là một bậc nhân từ yêu thương che chở khắp tất cả. Muôn vật đều được đượm nhuần ân đức của Thế Tôn. Tâm con vui sướng, đêm ngày phát nguyện, mong được một phen chiêm ngưỡng Tôn nhan từ mười năm qua, nay mới được kết quả như nguyện, nhưng vừa rồi con đến ở ngoài ngõ hồi lâu, không vào được. Muốn đi trở lui, nhưng khí lực đã yếu không kham nổi, tấn thối lưỡng nan không biết tính đường nào. Con chỉ sợ rằng bỏ mạng nơi đó, làm ô uế cửa Phật, càng thêm tội lỗi. May thay được đấng Thiên Tôn thương xót tiếp dẫn, nên con mới được vào đây. Ðược may mắn như thế nầy, dù bây giờ có chết con cũng không còn ân hận gì nữa . Con chỉ mong muốn mau dứt trừ hết tội lỗi, đời sau không còn phải chịu cảnh thống khổ. Nguyện Phật giũ lòng từ, ban cho con Phật huệ!”

Phật dạy: “ Phàm làm người thọ sanh ra cõi đời, sanh tử đều do nhơn duyên. Do nhiều nhơn duyên tạo ra gốc rễ tội lỗi. Ta sẽ nói cho ông rõ nguồn gốc của tội lỗi mà ngày nay ông đã gánh chịu: Ðời trước ông sanh vào nhà Minh Huệ Vương, là một ông Vua cai trị một đại cường quốc. Khi đó ông là Thái Tử Kiêu Quí. Trên được Phụ Vương Và Mẫu Hậu quí trọng, dưới được thần dân kính phụng. Vì thế nên ông hết sức kiêu căng, tự cao, tự đại, tâm ý buông lung, khinh ngạo mọi người, xem thường tất cả. Giàu có cự phú, tài sản muôn ức, đều là chiếm đoạt của dân . Trăm họ nghèo cùng bởi vì thuế khoá thu hết. Ôâng chỉ biết tom góp, chứ không biết bố thí. Bấy giờ có một vị Sa Môn tên là Tịnh Chí từ xứ xa đi đến. Vì thiếu một cái pháp y, nên tìm đến ông, mong ông bố thí một cái mà thôi, chứ không mong cầu gì nhiều. Nhưng ông tuyệt nhiên không cho, lại còn đối xử một cách quá tệ ác, đã không cho pháp y, lại cũng không cho ăn. Ông bắt vị Sa Moân vô tội ngồi mãi trước nhà, muốn đi ông vẫn không cho. Qua bảy ngày đêm không thí cho một hớp nước. Thân thể đã ngất xỉu, hơi thở thoi thóp, tánh mạng sắp nguy kịch. Coi đó như một trò vui, cho tập trung nhiều người đến xem, ông lấy làm vui thích lắm ! Lúc ấy có vị cận thần khuyên can ông rằng : “ Thái Tử chớ nên làm như vậy. Ðây là một Sa Môn hiền từ, khiêm tốn, bên trong mang cả tinh thần đạo đức. Sự lạnh lẽo bên ngoài, đối với con người ấy không có gì đáng gọi là lạnh lẽo, và sự đói khát cũng không đáng là đói khát. Sở dĩ đến đây xin là muốn gây phước đức cho kẻ khác thế thôi. Thái-tử đã không bố thí cho thì thôi, đừng nên gây cùng bức cho người ta. Tốt hơn là Thái-tử trả tự do cho vị Sa-môn này đi. Ðừng nên gây thêm điều gì tội lỗi!”

Thái tử đáp rằng: “ Ðây là người gì mà giả xưng là đạo đức. Ta cho chịu khốn khổ thử chơi, chứ ai để cho chết làm gì? Khanh đừng lo. Thôi Khanh thả cho cho ông đi”. Ðoạn thả vị Sa-môn đi ra khỏi thành. Vị Sa-môn đi cách thành khoảng mười dặm, lại gặp phải bọn giặc cướp bị đói lâu ngày muốn bắt vị Sa-môn giết aên thịt. Vị Sa-môn nói rằng: “ Tôi là Sa-môn nghèo khổ lạnh lẽo, thân thể ốm yếu, chỉ còn da bọc xương, thịt lại hôi tanh, ăn chẳng được nào. Các ông có giết tôi cũng chỉ thêm khổ công chờ không dùng được!”.

Bọn giặc đối đáp rằng: ‘ Bọn tui đã bị đói lâu ngày, chỉ ăn cây đất. Ông tuy ốm nhưng vẫn là thịt. Không thể nào thả ông đi được. Chỉ có cách là oâng phải hy sinh”. Hai bên nói tới nói lui, phân vân hồi lâu. Tình cờ có Thái-tử đi đến, thấy sự kiện như thế, tự nhủ rằng: Ta đã không cơm áo vị Sa-môn ấy thì thôi chớ đâu lại nỡ để cho bọn giặc đói giết hại! Ta phải cứu người.

Bọn giặc đói thấy Thái-tử can thiệp, nên cả bọn đều sụp lạy xin tạ tội và thả vị Sa-môn đi.

Vị Sa-môn lúc đó nay là Bồ-Tát Di-Lặc đây, Thái-tử Kiêu-Quí lúc đó, nay là ông đây. Sở dĩ nay ông chịu phải tội bần cùng khốn khổ là do đời trước tham lam bỏn xẻn. Lý do nay ông được trường thọ là bởi cứu mạng sống vị Sa-môn. Tội phước báo ứng như bóng theo hình, như vang ứng tiếng!

Ông già bạch Phật: “ Việc quá khứ đã rõ ràng như vậy. Con xin nguyện được giũ sạch từ đây mà nguyện đem mạng sống thừa này được làm Sa-môn, về sau đời đời thường được hầu bên Phật”.

Phật dạy: Hay thay! Hay thay!

Liền khi đó, râu tóc ông già rụng hết, pháp y tự nhiên được đắp lên thân. Thân thể, trí lực trở nên mạnh mẽ tráng kiện, tai mắt thông sáng, ông liền được trí tuệ cao thượng, nhập pháp môn chánh định.

Bấy giờ Thế-tôn nói lại kệ rằng:

Ngươi xưa là Thái-tử

Kiêu-Quí tự buông lung,

Không biết điều nhân nghĩa.

Ỷ con đại quốc vương

Tự bảo không tội phước

Tưởng được thế mãi mãi

Không hiểu lẽ sanh tử

Ngày nay chịu hoạ này

Tạo tội lại may phước

Nên được gặp lại Như-lai

Thoát khỏi những tội xưa

Nương thân vào pháp môn

Xa lìa tâm xan tham

Thường được căn trí tuệ

Ðời đời hầu bên Phật

Sống lâu muôn vạn kiếp.

Ông già đó đã trở thành một vị Tỳ-kheo, nghe kinh và hoan hỉ lạy Phật:

Bấy giờ Thế Tôn bảo A-Nan:

“Nếu có người nào chuyên tụng kinh này, thì người ấy sẽ thấy được ngàn đức Phật ở Hiền kiếp. Người nào thực hành theo kinh này phổ biến rộng rãi, lưu truyền cho hậu thế, thì người ấy sau sanh ra đời sẽ gặp Phật Di-Lặc và được Phật thọ ký. Như-Lai lưỡi rộng dài không bao giờ nói sai!

Tất cả đại chúng nghe Phật nói xong đều lạy Phật, vui vẻ tuân hành.


MẠN PHÁP KINH ( Bản chữ Hán của Sa-môn Pháp-Cự, Ðại Tạng quyển 34, Kinh Tập bộ 4 số 739)

MẠN PHÁP KINH

( Bản chữ Hán của Sa-môn Pháp-Cự, Ðại Tạng quyển 34, Kinh Tập bộ 4 số 739)

Phật bảo A-Nan rằng: Ở đời có người thờ Phật, từ đó về sau được giàu sang. Có người thờ Phật, từ đó về sau gặp nhiều sự suy tổn bất lợi.

A-Nan thưa Phật: Tại sao cũng đồng thờ Phật, mà có người được giàu sang, lợi ích, còn người lại suy tổn bất lợi. Do đâu có sự bất đồng như thế?

Phật đáp: Có người thờ Phật, tìm bậc tu minh sư hiểu rõ giới pháp, chơn chánh tu hành, để cầu trao truyền giới pháp, vì muốn dứt trừ tâm tưởng xấu ác, theo đúng với kinh pháp, tinh tấn tu hành không trái lời thầy chỉ dạy, giữ gìn giới cấm, dù cho một mảy may như tơ tóc cũng không bao giờ huỷ phạm. Người ấy thường được chư Thiên, Thiện Thần ủng hộ, làm điều gì cũng được toại ý, tài lợi mỗi ngày được phát đạt gấp bội, được mọi người cung kính, chắn chắn sẽ được thành Phật, huống nữa là việc giàu sang lợi lạc. Hạng người như vậy thờ Phật gọi là Phật tử chơn chánh.

Lại có người thờ Phật, nhưng không gặp được bậc minh sư, cũng không có kinh tượng, hơn nữa, thiếu hiểu biết, thiếu tâm lễ kính, lại bắt chước truyền thọ giới pháp một cách ngượng gạo, không có lòng chí tín. Kẻ kia sau khi thọ giới lại không biết giữ gìn tu trì, còn cố ý phạm những điều giới cấm đã thọ, tâm ý mê muội, do dự không đọc tụng kinh luận, tinh tấn tu tập và làm những việc phước thiện, tâm niệm thay đổi, thoạt tin rồi thoạt không tin. Hơn nữa, họ cũng không nghĩ đến những ngày ăn chay, hương đèn lễ bái, lại còn cố ý giận hờn, kêu la mắng chửi. Ngoài miệng nói khác, trong lòng nghĩ khác. Ôm lòng ganh ghét, sử người giết hại sanh mạng. Thấy kinh tượng không tâm lễ kính. Nếu có kinh sách thì họ gác trên tường vách, hoặc để trong tủ rương lộn xộn với quần áo cũ rách nhơ nhớp, hoặc đưa cho trẻ nít tay chân chớp nhúa cầm nắm, hoặc gác bỏ những nơi khói bụi lem lọ, hay nơi nhà dột ướt hư, không hề trông coi đến. Họ cũng không đốt hương đèn hướng về nơi có kinh pháp mà lễ bái, khinh thường như kinh sách của ngoại đạo. Vì vậy nên các vị Thiện Thần xa lìa. Aùc quỷ được cơ hội thuận tiện, theo đuổi mãi không thôi. Nhơn đó nên thường xảy ra bệnh hoạn suy tồn. Khi đã mắc phải tật bệnh, đâm ra lo sợ, rồi tự nghĩ rằng lâu nay mình đã thờ Phật mà không được Phật gia hộ, lại còn mắc phải tật bệnh, tai hoạ. Họ không đủ sức tự tin, nên bị khủng hoảng. Ðã vậy, còn cầu đảo các loại tà thần, kêu van, chạy chữa bói khoa, trấn yếm giải trừ đủ cách, làm toàn những việc vô ích. Do đó lại tăng thêm những điều tội lỗi. Yêu mị ác quỉ chen đến đầy nhà, làm cho người ấy suy tổn tiêu hao mà cũng phải chết thảm thiết. Và lắm lúc quan tài chưa đưa ra khỏi cửa thì trong nhà tài sản đã tan hoang, người nhà đều bị bịnh tật, truyền nhiễm lẫn nhau nằm liệt cả. Khi mạng chung họ mang theo đầy tội lỗi, đoïa xuống địa ngục bị khảo trị đánh đập, thôi thì đủ các hình phạt, chịu khổ cực trải vô lượng năm. Tất cả chỉ vì họ không chuyên nhất theo chí hướng tu hành của mình, ý chí do dự, không tin cứ vững, không tin đúng theo Phật pháp, làm nhiều điều sai quấy nên phải chịu vậy. Ở thế gian, những người không hiểu Phật pháp thấy thế vội cho rằng vì thờ Phật mà gây ra những điều tai ương, suy tổn như vậy, chớ không biết rằng do người ấy tu hành chẳng chánh. Trái phạm kinh giới Phật dạy, tâm họ chỉ chuyên theo những điều xấu ác dưới đủ mọi hình thái. Những hậu quả trên, đều do từ hành động của họ đưa đến phải chịu, chứ không do ai đem do ai đem trao cho cả.

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *