KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI · Chương 4/5 · Phần 3/3
IV. GIỚI TƯỚNG (phần 3)
Đồng thời vua có con voi, cho ăn ở sung sướng lại còn anh lạc trang nghiêm. Phật dạy kiếp trước nó có tu hành nhưng chỉ để tâm về sự tướng, không có trí tuệ giác tỉnh. Làm nhiều phước duyên nhưng giữ giới luật không đúng ý nghĩa nên đọa làm bàng sanh.
Tài thí là tu phước, pháp thí là tu tuệ.
Bồ-tát khuyến hóa các Phật tử làm phước, cẩn thận chớ có cưỡng ép. Lui tới thường xuyên quấy rầy. Người ta thoái tín tâm. Mượn việc công để lợi ích riêng tư là giặc trong cửa Phật.
Tu phước mà có tuệ, hằng quán tam luân không tịch, mới thật là Bồ-tát hạnh. Cho nên kinh văn dạy : “Phải giảng nói kinh luật đại thừa” để khai tuệ cho chúng sanh. Kinh luật đại thừa xuất sanh tất cả các thiện pháp môn nên có thể cứu sanh độ tử, lưỡng lợi âm dương, trị liệu tất cả thân bệnh tâm bệnh, cứu gỡ hết thảy hiểm nghèo. Nếu hay đọc tụng giảng nói thì bất luận hoàn cảnh nào, ta người đều lợi ích.
40/. KHÔNG BÌNH ĐẲNG TRUYỀN GIỚI
Truyền trao giới pháp, nhiếp thủ chúng sanh vào đại đạo, là trách nhiệm của Bồ-tát.
Trong sự không lựa chọn vẫn phải có lựa chọn. Không cho người đã phạm một trong 7 nghịch thọ giới. Phải đã phát Bồ-đề tâm, hiểu lời nói của giới sư, y phục hoại sắc.
41/. VÌ LỢI LÀM THẦY
Tự mình không tài đức mà miễn cưỡng làm thầy để cầu danh lợi.
Muốn thọ Bồ-tát giới, điểm chính yếu phải thông hiểu giáo pháp đại thừa, tin tâm mình có thể thành Phật. Muôn pháp lành từ đây phát sanh. Phải nhớ rằng : Không thiện tri thức dạy bảo thì dù có sẵn Phật tánh cũng không thể thành Phật.
Bậc thầy phải rành rẽ con đường Bồ-đề để dẫn bước hậu lai :
1. Thập Tín.
2. Thập phát thú tâm : Tập chủng tánh : 10 Trụ. Do tu pháp không quán, trí tuệ khai phát thành nhất thiết trí, chứng bất thoái (Trụ).
3. Trưỡng dưỡng tánh : Tánh chủng tánh: 10 Hạnh. Trưởng dưỡng tâm từ chân đế vào tục đế, lợi ích tất cả chúng sanh, tiến tu giả quán, phân biệt chủng tánh sai khác của chúng sanh trong 10 pháp giới, trưởng dưỡng thánh thai, thấy lý tục đế, pháp nhãn khai phát, thành đạo chủng trí. Thập trụ ở trên ngộ lý chân đế. Từ đây thú hướng tu hành nên gọi là Hạnh.
4. Bất khả hoaïi tánh : Đaïo chủng tánh : 10 Hồi Hướng : 10 Kim Cương tâm. Tu pháp quán trung đạo, nhậm vận thi thiết vô công dụng đạo (không dùng công phu. Việc này phàm trí suy tư không thể hội. Tạm thí dụ như người đánh máy chữ hay đi xe đạp. Lúc mới tập phải lưu ý dụng công. Đã thuần thục không cần dụng công). Hạnh nguyện, sự lý đều dung thông, lưu nhập trong pháp giới. Đem sự tu hướng về lý tánh nên gọi là hồi hướng. Lý tánh bền như kim cương nên gọi là bất khả hoại. Chánh tu (đạo) phát sanh Phật quả nên gọi là đạo chủng tánh.
5. Chánh pháp tánh : Thánh chủng tánh: Chánh giác tánh : thập Địa + đẳng giác + diệu giác. Từ sơ Địa trở đi, quán trung đạo, dùng trí đoạn nghi hoặc. Mỗi Địa phá một phần vô minh. Đến kim cương vị trừ sạch vô minh là thành Phật.
Bồ-tát pháp sư cần hiểu rõ những tánh nói trên nhất là những quán haïnh đa thiểu. Tập chủng tánh tu không quán ít đến trưởng dưỡng tánh tu không quán nhiều. Tánh chủng tánh tu giả quán ít đến bất khả hoại tánh mới nhiều. Đạo chủng tánh tu trung quán ít đến chánh pháp tánh mới tu nhiều.
Cũng có nơi cho rằng : Từ sơ Địa đến Địa 4 quán vô tướng ít hữu tướng nhiều. Từ Địa 5 đến Địa 7 tu hữu tướng ít vô tướng nhiều. Từ Địa 8 đến đẳng giác thuần vô tướng quán.
Xuất nhập : xuất định và nhập định.
Sơ thiền : giác + quán + hỷ + lạc + nhất tâm = 5 chi.
Nhị thiền : nội tịnh (+ hỷ + lạc + nhất tâm).
Tam thiền : xả + niệm + huệ (+ lạc + nhất tâm).
Tứ thiền : không khổ không vui (+ xả).
Tổng cộng có 10 pháp duïng trong thiền quán. Bốn thiền là thiền định thế gian nhưng nương đây tiến vào thánh vị nên Bồ-tát cần thông hiểu để tự lợi lợi tha.
Không hiểu giới tướng khinh trọng trì phạm thì không thể quyết nghi xuất tội. Không hiểu đệ nhất nghĩa đế thì mù mờ nơi giới lý (thể tánh của giới), không thể phát chân tín giải. Không hiểu tập chủng tánh v.v… thời mù mịt nơi định cộng giới, không thể tu chứng quả vị.
42/. VÌ KẺ ÁC NÓI GIỚI
Thông hiểu giới luật mà vì danh lợi giảng nói cho những người không tin, không ưa Phật pháp.
Đức Phật vì đệ tử chế định giới luật nên giới luật chỉ cần dùng cho sự sinh hoạt trong nội bộ. Đem ra giảng nói với người ngoài chẳng những vô ích mà còn gây những phỉ báng, mua tội cho chúng sanh, đem bất lợi cho đạo pháp. Bồ-tát phải có trí tuệ biết ai là pháp khí mới cho nghe giới luật.
Giới Tỳ-kheo tuyệt đối cấm người chưa thọ giới không được xem và nghe. Bồ-tát giới, người chưa thọ không được tham dự nghe ngày bố tát. Còn những trường hợp giảng ý nghĩa của giới thì được nghe cũng được xem giới bổn. Nhưng phải xét người.
43/. CỐ KHỞI TÂM PHẠM GIỚI
Vô ý lỡ phạm tuy không thể nói là vô tội nhưng rất nhẹ. Cố ý vi phạm giới luật, không hổ thẹn. Tự mình đã không giải quyết được sự sa đọa, làm sao còn có thể là phước điền cho các thí chủ ? Cho nên mỗi khi vi phạm phải chí thành khẩn thiết sám hối.
Câu Xá Luận : Người phạm căn bản trọng tội không cho ăn một miếng nhỏ thực phẩm của đại chúng. Không cho gót chân được đặt vào chỗ cư ngụ của đại chúng.
Đại Trí Độ Luận : Mỗi giới Bồ-tát có 10 thiên thần theo ủng hộ. Bồ-tát đầy đủ giới phẩm, vua Đế Thích và chư thiên theo hầu. Nếu hủy phạm thì có đại quỷ luôn án trước mặt, khiến mất an ổn, gặp nhiều tai nạn.
Cũng như ở nhân gian, người có địa vị tôn quý ngựa xe lính hầu luôn ở bên mình. Một khi đã trái phạm phép nước thì liền bị tống giam, ngày đêm có ngục tốt canh giữ. Ngục tốt chẳng những kèm hãm khiến người ấy mất tự do lại còn không chút vì nể, mắng nhiếc là gã bợm giặc.
Bọn trộm cướp tuy là đại ác nhưng được nghe giảng về tội phước, có khi cũng biết kinh sợ. Còn những người nương hình tướng xuất gia, tiếp thọ của cúng dường mà không nghiêm cẩn giới luật, bị mắng là bợm giặc, ai bảo là không đúng ?
Người phá giới, oai nghi không phấn chấn, suy tướng hiện tiền nên tất cả chúng sanh đều không muốn nhìn ngó huống nữa là sống chung.
Luật Thanh-văn không kết tội hủy giới thọ tín thí, cũng không kết tội phạm giới trong tâm niệm. Chỉ khi nào hiện tướng ở thân miệng mới kể là thật sự phạm giới. Bồ-tát phải giữ gìn nội tâm nghiêm mật, khởi tâm động niệm mỗi giây mỗi phút phải tự cảnh tỉnh.
Hãy nghe công hạnh người xưa : Tổ Hành Nhạc trọn đời mặc một áo bông vải thô xấu. Tổ Thiên Thai 40 năm một chiếc nạp y. Tổ Vĩnh Gia không mặc áo tơ tằm. Tổ Kinh Khê trong thất chỉ một cái đơn. Quý ngài thâm hiểu đại thừa nên mới có nếp sống y ly như vậy.
44/. CÚNG DƯỜNG KINH LUẬT
Pháp bảo là mẹ chư Phật. Quả Vô-thượng Bồ-đề từ kinh luật xuất sanh. Tôn trọng diệu pháp mới y đây tiến tu. Hành vi mới cố gắng thể hợp chánh đạo. Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sanh, đều nương cậy ở kinh điển. Làm sao không cung kính cúng dường ? Tuệ mạng Như Lai hoàn toàn nằm trong tam tạng, không cúng dường kinh điển còn cúng Phật ở đâu ? Nhất tâm thọ trì đọc tụng kinh luật đại thừa là đệ nhất cúng dường. Xả thân học đạo, tận tình truyền bá lưu thông, giảng nói không chán mỏi là biết đền ơn Phật.
Bồ-tát phải vâng theo 5 việc : thọ trì, đọc tụng, lưu thông, cúng dường, như pháp thực hành. Hiện nay kỹ thuật ấn loát rất tiến bộ, Phật tử xuất gia tại gia ấn tống kinh luật là phương tiện tối thắng để cúng dường pháp bảo.
45/. KHÔNG GIÁO HÓA CHÚNG SANH
Bồ-đề tâm là động lực thành Phật nên Bồ-tát phải giáo hóa chúng sanh phát tâm Bồ-đề. Kinh Pháp Hoa : “Nếu đem tiểu thừa giáo hóa là ta bỏn sẻn”. Thường khởi tâm đại bi. Thiết tha liên tục cứu khổ chúng sanh. Lấy việc này làm khẩn thiết.
Phật Pháp Tăng là phước điền quý báu. Một thiên tử ở cõi trời Đao Lợi biết mệnh chung sẽ đọa làm heo, vội quy y Phật liền thoát thân heo, sanh làm con nhà trưởng giả. Chúng sanh nào cầu thoát sanh tử cũng phải quy y Tam-bảo.
Tỳ-kheo tụng kinh trong rừng. Một con chim nghe âm thanh, rất ngưỡng mộ. Đang mải nghe, chim bị bắn chết. Thần thức lên trời Đao Lợi, thiên nhãn biết kiếp trước mình là chim ở chỗ ấy. Vội đem hoa hương tới chỗ Tỳ-kheo. Tỳ-kheo giảng pháp yếu. Ông trời liền chứng Tu-đà-hoàn.
Phật nói pháp ở thành Ba La Nại. Một đàn nhạn đáp xuống nghe, bị thợ săn bủa lưới. Xả thân, cả đàn sanh lên trời. 500 thiên tử xuống nhân gian, cúng dường Phật, nghe pháp, tất cả đều chứng Tu-đà-hoàn.
Luật dạy Bồ-tát mỗi khi gặp bất luận con gà hay con kiến, liền tâm nghĩ miệng nói : “Các ngươi phát Bồ-đề tâm”. Đây là dùng tâm lực kêu gọi sự thức tỉnh.
Trong kinh Kim Quang Minh, Lưu Thủy trưởng giả thấy một cái ao cạn nước, hàng vạn con cá lâm nguy. Ông vội mượn voi của vua, chở nước cấp cứu. Thấy đàn cá sung sướng bơi lội, ông cảm hứng hô lớn danh hiệu đức Bảo Thắng Như Lai những mong cho cá nhờ thần lực Phật thoát khổ.
Tưởng như xong việc thì thôi. Không dè một bữa kia, ánh sáng chói lòa từ trên trời rọi xuống. 10.000 thiên tử tự xưng là hậu thân của đàn cá, đem các thứ châu báu đến quỳ lạy tạ ân.
Luật Sadi kể chuyện : Ngài Xá Lợi Phất đi khất thực, gặp một con chó bị chủ chặt chân ném xuống hố. Ngài cho nó ăn cơm. Chó vẫy đuôi mừng. Ngài giảng pháp cho nó nghe. Thân đói khát phải chết nhưng pháp hỷ nuôi dưỡng tinh thần. Chó sanh vào nhà ông trưởng giả được tên Quân Đề. Bảy tuổi, đứng chơi ở cửa. Ngài Xá Lợi Phất đi qua. Ân tình đã ghi sâu trong tạng thức nên chú bé quấn quýt mời ngài vào nhà, xin cha mẹ cúng dường và nhất định theo ngài Xá Lợi Phất xuất gia. Về sau chú bé chứng quả A-la-hán.
Người kể chuyện sau này tên Hải Triều Âm ở tịnh thất Linh Quang, thôn Phú An, Đức Trọng, Lâm Đồng : Vào khoảng năm 1985, trong nhà có rất nhiều chuột, mỗi tối tôi để cho họ một chén cơm ở góc nhà. Sáng nào cũng hết sạch. Không bao giờ chuột gặm nhấm kinh sách, quần áo chăn mùng cho đến trái cây ở trên bàn Phật. Năm này sang năm khác. Chỉ cứ cái thùng đựng giấy bỏ, là họ thường tới lui, cắp giấy đem về lót ổ nuôi con. Tôi ngồi ngay tại bàn đọc sách. Họ thản nhiên đi lại như biết chắc thùng giấy này tha hồ ta có quyền sử dụng.
Sư cô Thanh Đức, một đệ tử ở Sài Gòn lên thăm, nghỉ một đêm. Chiều hôm sau, bỗng Sư cô la thất thanh : “Chuột cắn hết tiền của con rồi”. Sư cô đem lên Phú An 200.000 đồng (hồi đó là món tiền lớn) định mua đất để làm cốc ở riêng một mình. Sợ Thầy biết nên đem giấu trong một tấm y. Cả ba tấm y để trong túi. Túi y giấu trong đống chăn mùng, xếp cả trong một cái tủ không có cánh đóng mở. Tất cả chăn mùng vẫn y nguyên. Túi không bị rách. Ba tấm y an lành. Nắm tiền nát bấy không còn vớt vát sử dụng được lấy một đồng.
Nhớ hồi xưa, tôi nhập thất tại một ngôi nhà trong khuôn viên chùa Vạn Đức ở Thủ Đức. Vùng đó có nhiều chó. Tôi xin bà giáo Khôi phát tâm thuê một người thổi cơm. Cứ 4 giờ chiều là mấy chục con chó từ các nơi đổ về đầy sân. Mỗi con chỉ một tô cơm không. Ăn xong ra về. Dù mưa bão vẫn đến. Tự biết phận ăn nhờ, không hề cắn sủa nhau.
Gạo để ở trước chánh điện. Hàng ngày tôi trì chú Dược Sư cầu nguyện cho những con vật này sớm được giải thoát. Chợt một hôm, vài chú chuột rụt rè từ cửa sổ vào tới bao gạo. Tôi nghĩ : “Đã bố thí thì chó hay chuột đều có phần”. Nên tôi cứ mặc. Thế là cả họ nhà chuột xô nhau tới. Có con ăn rồi về. Có đứa ở lại luôn. Chúng tôi hòa bình chung sống một thời gian dài. Cho tới một hôm, như thường lệ, tôi để mâm cơm trước mặt, xới sẵn một chén cơm. Tôi chắp tay nhắm mắt đọc bài cúng dường. Đọc xong, tôi mở mắt ra, thấy một chú chuột ngồi ngay trên chén cơm, hai tay bốc ăn ngon lành. Tôi xua chú chạy và trong lòng tự nghĩ : “Thế này thì quá lắm, không thể được”. Từ hôm ấy, trong thất không còn một con chuột. Chúng lặng lẽ bỏ đi lúc nào không hay. Từ đấy không một con nào quay trở lại dù là tạ gạo vẫn mở ngỏ trước chánh điện.
Lại một thời gian lâu lắm về sau, một hôm tôi xuống bếp. Cô thị giả thổi cơm. Chỗ ống khói có tiếng mèo kêu. Tôi vội bảo thị giả đun chỗ khác. Vì chỗ ấy chắc có con mèo hoang nào bị hun. Từ đó mỗi bữa tôi để ở chỗ ấy một chén cơm. Ngày nào cũng hết sạch. Rồi một ngày kia, tôi bỗng thấy ngay trong phòng tôi, nép trong xó cửa một con mèo và 3 con nhỏ xíu. Luật Bồ-tát giới cấm không được nuôi mèo chồn nên tôi phiền lắm, rất không muốn mẹ con nó ở đó. Ra vào, tôi vẫn trông thấy mẹ con nó núp dưới hốc cửa nem nép sợ hãi. Cho tới một hôm, đứng trước tủ, tay mở cửa tủ, nhìn ra chỗ mẹ con nó ẩn núp, trong tâm tôi nghĩ rằng : “Thôi, đành phạm giới luật. Nuôi mẹ con nó vậy. Chúng nó khổ thế kia, nỡ nào !” Tay tôi chưa rời cánh tủ, 3 con mèo con đã chạy ra, bổ nhào vào chân tôi.
Rõ ràng trực giác của loài vật rất mạnh. Tâm Phật, tâm mình và tâm chúng sanh không hề gián cách. Tâm Bồ-tát tha thiết quyết có ảnh hưởng lớn tới chúng sanh. Đức Phật sai ngài Mục Kiền Liên đến một thành nọ giáo hóa, dân chúng vui vẻ răm rắp quy y. Phật kể chuyện : Một kiếp xa xưa, một tiều phu đẵn củi trong rừng, động phải một tổ ong. Cả đàn bay ra. Ông tiều vừa chạy vừa la : “Khi ta đắc đạo, quyết sẽ độ cho các ngươi đồng giải thoát”. Ông tiều phu là Mục Kiền Liên ngày nay. Đàn ong là dân thành kia. Vì tâm độ chúng sanh đã thuần nên Phật tử cứ gặp loài nào là phát tâm tế độ. Quên cả đau khổ bị ong đốt, nghiệp lực thánh thiện của ông tiều đã mở ra nhân duyên khiến cả thành chịu sự giáo hóa.
46/. KHÔNG ĐÚNG NGHI THỨC THUYẾT PHÁP
Pháp sư phải ngồi tòa cao. Dạy người cung kính trong khi nghe pháp là việc trọng yếu. Coi thường Phật pháp chiêu vời những quả báo nguy hiểm. Luật Tỳ-kheo rất kỹ về nghi thức thuyết pháp. Đối với pháp sư phải hiếu thuận như đối với cha mẹ. Kính thầy, trọng pháp, mới có thâm nhập.
47/. CHẾ HẠN PHI PHÁP
Tự ỷ uy thế, phá hoại Phật pháp. Hoặc nương cậy quyền thế, làm tổn hoại Tam-bảo, khiến thuyền chánh pháp bị đắm chìm, ánh sáng trí tuệ bị che lấp.
Không cho xuất gia thọ giới là phá hoại Tăng bảo. Không cho tạo lập hình tượng là tiêu diệt Phật bảo. Không cho ấn hành kinh điển là tiêu diệt Pháp bảo. Thế gian mất nơi nương tựa, trở thành hắc ám và tội ác. Thật là đáng sợ.
Tiến thêm bước nữa, đặt các chức quan hạn chế hoạt động tôn giáo. Lập sổ bộ ghi chép danh sách chúng Tăng. Triệt để hạn chế còn nói gì đến tôn kính.
Kinh Phó Pháp Tạng : Xà Dụ Na tôn giả vào thành khất thực, nhìn lên cây thấy một con chim. Ngài cười nói với thị giả : “Một kiếp xưa, ta muốn xuất gia. Đứa con lên 6 tuổi ôm chặt lấy chân kêu khóc. Vì nó mà ta không được toại nguyện. Tới nay đã trải qua 91 kiếp, nó đã chịu không biết bao nhiêu thống khổ. Nay mới gặp nhau. Ta cảm thương mà không biết làm sao cứu vớt”.
Kinh Lão Nữ Nhân : Một bà già vừa nghe chánh pháp liền khai ngộ. Phật thọ ký cho lâm chung vãng sanh cõi Phật A Di Đà. Ai nấy ngạc nhiên. Phật giải thích : Đây là mẹ ta thời quá khứ. Đức Phật Câu Lưu Tôn xuất thế, ta muốn xuất gia. Bà quyết định ngăn cản nên đã chịu khổ bấy nay.
Kẻ quyền quý ở thế gian chẳng nên bạc đãi Tăng nhân. Tăng nhân cũng cần tinh thần vô úy, chớ làm tay sai cho họ.
Quan thái thú ở Hàng Châu tên Bạch Cư Dị vào núi thỉnh pháp. Ô Sào thiền sư dạy : Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành. Quan phiền trách : Câu nói ấy thì trẻ nít cũng biết. Sư đáp : Trẻ nít nói được nhưng ông già 80 chưa làm được. Quan thái thú từ đó trở thành một Phật tử thuần thành.
Vua Đường Thái Tông 3 lần hạ chiếu thỉnh Tứ Tổ Đạo Tín về kinh đô. Tổ đều chối từ. Lần thứ tư, vua sai sứ nghênh thỉnh với sắc lịnh nếu không tuân thì chém. Tổ khẳng khái đưa cổ ra dưới lưỡi gươm sáng ngời. Sứ giả không dám hạ thủ, trở về tâu vua. Vua kính phục gởi lễ vật rất hậu cúng Tổ. Từ đấy không dám quấy nhiễu Tổ nữa.
Người lãnh đạo quốc gia vì hộ pháp trừng trị những hư đốn trong các chùa, đã không phạm giới còn được vô lượng công đức.
48/. PHÁ DIỆT PHẬT PHÁP
Giới trên răn hàng Bồ-tát tại gia không được phá hoại Phật pháp. Giới này đức Phật ngăn cấm hàng xuất gia. Rường cột trong Phật pháp mà lại vì tài lợi cá nhân, phá hại đồng đạo, tổn thương chánh pháp. Bên trong phá hòa hợp chúng, bên ngoài đoạn tuyệt lòng kính tin Tam-bảo của người đời.
Nghe một tiếng hủy báng Tam-bảo, Bồ-tát đau đớn như hàng trăm ngọn giáo đâm vào tim. Dao gậy đánh chém đau đớn muôn phần nhưng chỉ một thân ta đau. Hủy diệt chánh pháp làm cho vô lượng chúng sanh mất tín tâm, chìm trong biển khổ luân hồi, biết đến bao giờ mới có ngày giải thoát.
Kinh Đại Tập : Người xuất gia cạo đầu đắp y là đã có dấu ấn Niết-bàn. Dù không nghiêm trì giới cấm, nếu còn có tâm tin kính Tam-bảo, còn có thể nói pháp cho hàng nhân thiên. Nếu đánh đập hay đoạt đồ tư dưỡng sanh mạng cũng là móc con mắt tuệ của thế gian.