KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI · Chương 5/5

V. TỔNG KẾT

Không những hàng tân học phải nghiêm mật thọ trì mà quá khứ hiện tại vị lai Bồ-tát đều phải tụng đọc. Mục đích thọ giáo pháp là cầu giải thoát. Không tinh tấn tức là đã quên bổn nguyện. Kinh Xuất Diệu : Mùa nắng ao nước sắp cạn mà đàn cá không biết vẫn nhởn nhơ. Loài người cũng vậy. Già chết đến nơi. Chẳng ai bận lòng. Chỉ mải lo đầu ruồi tai ếch, mãi tìm thú vui tạm bợ. Đức Phật ân cần nhắc nhở chúng ta phải từng giờ từng phút y theo chánh pháp, siêng năng thật hành.

KẾT KHUYẾN LƯU THÔNG

Phẩm Tâm Địa đoạn đầu nói về giới thể (giới tánh). Đoạn sau rành rẽ giới tướng. Chúng ta đã nhiều đời trồng thiện căn sâu dầy mới được gặp nên phải thận trọng phụng trì. Đức Lư Xá Na đã tu tập cả trăm kiếp mới chứng được tâm địa này. Chư Phật quá khứ hiện tại vị lai đều thọ trì và truyền lại cho các Bồ-tát. Đây là bổn nguyên tâm địa của chư Phật. Chúng sanh mê muội cứ tham chấp thân cảnh hư vọng, sanh các phiền não tham sân si, mở ra các nghiệp hữu lậu mà chịu khổ mãi trong đường luân hồi sanh tử.

Đức Thích Ca Mâu Ni Phật tùy thuận theo chư Phật, tụng 10 trọng 48 giới khinh, mở đường cho chúng sanh nhận được tâm Phật của mình. Tương lai sẽ cùng đức Lư Xá Na ở đài sen ngàn cánh. Đời đời thoát ba ác đạo và tám tai nạn.

Ngàn trăm ức Thích Ca ở ngàn trăm ức thế giới cũng đồng giảng như vậy. (Từ cung đại tự tại thiên vương đến dưới gốc Bồ-đề, thuyết pháp 10 chỗ.)

Tâm taïng. Thông nghĩa : Trong pháp giới, tâm thể bản giác hàm chứa tất cả pháp. Biệt nghĩa : 30 tâm trong ngôi vị tam hiền.

Địa Taïng. Thông nghĩa : Tâm thể các pháp bình đẳng không hai, xuất sanh tất cả thiện pháp công đức. Biệt nghĩa : 10 Địa.

Giới taïng : Thông nghĩa : Tâm thể xa lìa tất cả lỗi lầm, đầy đủ oai nghi. Biệt nghĩa : 10 trọng 48 khinh.

Vô lượng haïnh nguyện taïng : Thông nghĩa : Từ tâm thể phát sanh. Thực hành các thiện pháp gọi là hạnh. Thiện niệm giữ gìn hạnh ấy gọi là nguyện. Vô lượng hạnh như biển cả không cùng. Vô lượng nguyện như hư không không tận nên gọi là tạng (lục độ vạn hạnh).

Nhân quả Phật tánh thường truï taïng : Nhân là chỗ tu hành. Quả là chỗ chứng đắc. Nhân quả đều tại tâm thể Phật tánh không sanh không diệt. Tự tánh bao trùm phàm thánh, suốt xưa nay, khắp pháp giới nên gọi là tạng.

Tâm tạng, địa tạng, giới tạng chính là Bồ-tát tâm địa giới này. Đại hạnh đại nguyện do giới này phát sanh. Chánh nhân chánh quả do giới này mà được. Thường trụ Phật tánh do giới này mà chứng.

Tất cả chư Phật giảng thuyết vô lượng pháp tạng như thế đã xong. Chúng sanh trong thế giới này và ngàn trăm ức thế giới kia đều hoan hỷ phụng hành. Cơ giáo khế hợp hoàn hảo.

VĂN KẾT. Rời giới thể, không tỏ ngộ giới tánh, chỉ trì giới tướng, không gọi là chân thật thọ trì. Điều này rất quan trọng nên dầu khó dầu sâu, người tu phải cầu tỏ ngộ. Vì thế Bồ-tát giới gọi là tâm địa pháp môn. Tâm địa tức là bổn tâm tự tánh của mình. Chính từ chân tâm bổn tánh mà có Bồ-tát giới này. Thọ trì Bồ-tát giới là ương giống Phật tánh. Muốn mai đây thành cây, đơm bông bi trí, kết quả Bồ-đề, phải : 1) Phát tâm thành Phật. 2) Tin mình có tánh Phật. 3) Tin rằng đã có tánh Phật mà chăm tu thì thế nào cũng thành Phật. 4) Dõng mãnh thực hành lời Phật Tổ.

TRÌ PHÁP ĐƯỢC LỢI ÍCH

Tâm địa đại giới phải đủ định tuệ mới có thể phụng trì. Định lực mạnh, không bị sự vật chuyển động, giữ gìn giới hạnh trước sau không dời đổi. Tuệ lực mạnh đoạn hoặc chứng chân, viên dung sự lý vô ngại. Chẳng những tương lai quyết định thành Phật mà hiện tại còn được hưởng 5 lợi ích :

1). Cùng khí phần chư Phật giao tiếp, nối nắm tuệ mạng chư Phật nên ma quỷ xa lìa, thánh đạo tăng trưởng, nối thịnh Phật chủng.

2). Oai lực của giới đức khiến chánh kiến phân minh, nội tâm vững vàng, không bị những thống khổ lúc lâm chung khủng bố, định tuệ tự tại an lạc.

3). Tăng thượng duyên vô cùng trọng yếu là pháp lữ hiền thiện để cùng tiến bước trên đường Vô-thượng Bồ-đề.

4). Giới phẩm trọn vẹn, công đức đầy đủ.

5). Xứng tánh khởi tu, phước đức do trí tuệ được viên mãn. Toàn tu hiển tánh, tuệ nhờ phước đức được viên minh.

Bộ Hợp Chú : Tánh giới tức chánh nhân lý thể, chính là pháp thân đức. Nghiêm trì giới tướng tức duyên nhân phước thiện, chính là giải thoát đức. Ngộ tánh của giới tức là liễu nhân trí tuệ. Chính là Bát Nhã đức.

Thọ giới này là vào hàng chư Phật.

KHUYÊN QUÁN GIỚI THỂ. Bổn nguyên tâm địa thuộc trung đạo liễu nghĩa, không lý luận. Nên phàm phu chấp tướng dĩ nhiên không thể được diệu giới pháp này. Nhị thừa thủ chứng Niết-bàn, diệt thọ chấp không. Dĩ nhiên cũng không gieo giống được.

Bổn nguyên tâm địa, chúng sanh và Phật bình đẳng. Đúng lý phàm phu và nhị thừa đều có thể tín thọ gieo giống. Sở dĩ họ vô phần vì không biết quán thật tướng.

Muốn nẩy mầm Bồ-đề phải quan sát các pháp tánh không tịch. Vô tướng nên gọi là thật tướng tức là tâm thể bổn nguyên viên mãn thanh tịnh.

Cần trang nghiêm tâm địa bằng 2 phương tiện :

a/. Quan sát thuộc về lý gọi là trí tuệ trang nghiêm.

b/. Trì giới thuộc về sự, gọi là công đức trang nghiêm. Phải cần song song lý sự. Như người rửa tay, đồng thời cả hai, kỳ cọ lẫn nhau cùng sạch, không cái nào trước cái nào sau. Tuệ giải và diệu hạnh, Bồ-tát tuần tự như pháp khéo học tập mới có thể chân thật tương ưng.

Kệ rằng : Nơi học nơi vô học,

Chớ mống tưởng phân biệt.

Toàn tánh khởi tu là vô học mà luôn học. Toàn tu tại tánh là luôn học mà vẫn vô học. Đạt thật tướng chân tánh nên trong nhất tâm đủ cả vạn hạnh.

Nghĩa là nếu động niệm phân biệt tức thuộc về tác dụng hoạt động hữu vi của tâm thức. Không phải là Bát Nhã chân trí vô phân biệt thì làm sao vào trung đạo đệ nhất nghĩa đế (đây là đệ nhất đạo) để khỏi bị lạc về nhị thừa (cũng gọi pháp đại thừa). Nên biết đây là xứng tánh tu học nên học với vô học như chim bay trong hư không, làm gì có dấu vết để kiếm tìm.

Quán chiếu Bát Nhã dùng trí vô phân biệt chiếu lý cảnh giới. Đây là thật trí y thật tướng. Như trong kinh Lăng Nghiêm, đức Quán Thế Âm phản văn, nghe (thủy giác) tánh nghe (bổn giác) gỡ 6 kết giải 5 ấm (hết thảy lỗi hý luận đều từ đây dứt sạch), chứng tịch diệt.

Tịch diệt hiện tiền là cảnh giới căn bản trí (vô thượng trí của Phật chỉ do đây mà thành).

KHUYẾN HỘ GIỚI TƯỚNG

“Vì thế nên Phật tử phải phát tâm dõng mãnh, nghiêm trì giới của Phật tròn sạch như minh châu”. Nhờ sự trì với tâm trí sáng suốt, phát tuệ đạt tánh thể thành lý trì.

Lư Xá Na có 3 nghĩa : khiết tịnh, viên mãn, quang minh. Nay Phật tử hộ trì kim cương quang minh bảo giới trong tâm địa. Bộ Pháp Ẩn giải thích 3 nghĩa như sau :

1. Khiết tịnh, sạch hết ác pháp, thuộc nhiếp luật nghi giới.

2. Viên mãn tất cả thiện pháp, thuộc nhiếp thiện pháp giới.

3. Quang minh soi khắp chúng sanh, thuộc nhiếp chúng sanh giới.

HỒI HƯỚNG : Thích Ca Mâu Ni Phật tùy thuận chư Phật, giảng tâm địa đại giới cho chúng sanh đồng được nhất thiết chủng trí.

Học giả đại thừa trước hết phát Bồ-đề tâm, thọ Bồ-tát giới.

Bồ-tát giới là con đường tối yếu của chư Phật cho nên chư Phật đồng tuyên dương. Bồ-tát giới là nghiêm sư của các thánh hiền nên các thánh hiền cùng thực hành.

Bố tát : trưởng tịnh. Trưởng : Nuôi lớn thiện căn. Tịnh : Rửa sạch nghiệp chướng. Cứ mỗi nửa tháng, những ai đã thọ Bồ-tát giới phải tụng giới bổn, để tự kiểm điểm. Hễ có sơ sót phải sám hối. Bất luận xuất gia tại gia đều phải tuân hành.

Pháp sư nguyện mong tất cả Phật tử, hiện diện và không hiện diện, đều hết sức cố gắng và cố gắng.

BỒ TÁT KIM CANG BẢO GIỚI

Là chánh hạnh bất khả phân ly suốt dọc con đường Bồ-đề.

Thập Tín : 10 ngôi tu tập để viên mãn chánh tín.
Thập Trụ : tu tập để hoàn toàn sống với Phật tánh.
Thập Hạnh : tu tập thực hiện diệu dụng của tánh Phật.
Thập Hồi Hướng : chuyển vạn hạnh hướng về Bồ-đề, chân như và chúng sanh.
Bốn gia hạnh : vào trung đạo giữa Tâm và Phật.
Thập Địa : mỗi ngôi chứng một phần Pháp-thân, 10 ngôi hoàn mãn thánh quả.
Đẳng giác : thủy giác và bản giác hợp nhất.
Diệu giác : cùng huyền, cực diệu, không thể nghĩ bàn, thành vô thượng đạo.

PHẠM VÕNG

Con đường thành Phật dài xa, đức Phật đã vạch rõ bản đồ trong kinh Hoa Nghiêm. Kinh Phật mỗi thứ nói về một chi tiết nhưng thành nghĩa cho nhau. Như rèm lưới cửa cung Phạm Thiên Vương. Mỗi mắt lưới một hạt châu. Vô lượng ánh sáng giao nhau. Toàn thể là hình ảnh sự nghiệp giáo hóa của đức Phật tại cõi Ta Bà. Cho nên Phật tử thệ nguyện học vô lượng pháp môn mà thật ra chỉ học về chân tâm bản tánh của mình.

Học tâm tánh bản gốc, lại nghiên cứu pháp tánh tùy duyên mới vào thật giáo viên dung. Pháp tướng tông (Duy thức) riêng vụ về tùy duyên. Vô tướng tông Bát nhã) riêng vụ về bất biến. Hai môn song dung vô ngại là tùy thuận viên dung pháp tánh.

Kinh nói thí dụ sẩm sờ voi. Người mới học của mỗi tông chẳng thể thấy cả con voi (thật tướng). Nhưng cũng không thể rời chỗ tay sờ mà tìm được voi. Mỗi tông chỗ lập pháp đều hợp thánh lý. Hiếp tôn giả nói : “Y đây tu hành chẳng ai không lợi ích”. Nếu cứ quyết định con voi là cái quạt mà phỉ báng chê bai những ai tin con voi là cái cột tức đọa thiên kiến. Chẳng những tự chuốc quả báo hiểm nguy mà cũng kinh Bách Dụ kể chuyện : Thầy lâm bệnh, phân công cho đệ tử A xoa bóp chân phải, đệ tử B xoa bóp chân trái. Kề cận bên nhau, nhỏ to trò chuyện. Mỗi lần A tỏ ý phản đối B thì đấm chân trái một cái. B phát cáu, đấm chân phải trả thù. Kết cuộc đôi bên đều hả dạ, chỉ có ông thầày bị gẫy cả hai chân.

Nếu chỉ khuôn theo sở thích định kiến của riêng mình mà đả kích, đập cho bằng gẫy pháp môn tu của người khác, thì ngôi Tam-bảo thật khó đứng vững.

Vì thế bước đầu vào đạo Phật phải qua thập Tín. Rồi mới tam Hiền (10 Trụ + 10 Hạnh + 10 Hồi Hướng), thập Thánh (10 Địa). Tam Hiền thập Thánh là chương trình tu học thật sự. Như các lớp đại học thế gian. Còn thập Tín là lớp bổ túc, sửa soạn chuẩn bị để đủ tư cách làm học trò. Trong nhà đạo, sơ tâm Bồ-tát phải học hỏi nghiên cùng mới hy vọng sáng tỏ trừ nghi để thành chánh tín. Dùng 10 thậm thâm quán pháp chiếu soi chân đế, tục đế. Hiểu rõ tin sâu là khả năng sanh nhân quả Phật.

Tin hiểu cái gì ? Tin Phật thường trụ ở khắp mười phương viên dung vạn pháp. Tin mình có Phật tánh. Thật tướng vốn đồng. Hai chữ “ở khắp” có nghĩa tổng biến và viên biến. Tổng khắp như quần sao trên bầu trời (hóa thân). Viên biến như hương thơm hòa ngát hư không (pháp thân). Mỗi sự tức khắp vô biên mà chẳng hoại bản tướng như ánh sáng mặt trời ở khắp không gian mà một hình tròn vẫn rõ hiện.

Thí dụ : đèn chiếu sáng. Thầy giáo giảng. Học trò thấy chữ, nghe giảng, hiểu nghĩa. Cả 3 sự việc viên dung trong tâm địa học trò. Cái viên dung vô ngại này thành sự sinh hoạt hàng ngày của sáu căn. Tâm địa mỗi người là tánh giác vốn vẫn thường trụ ở khắp pháp giới. Bồ-tát thập Tín cần biện rõ lý bình đẳng tuyệt tướng (Như Lai Tạng diệu chân như tánh) mà không hoại những sự tướng thế gian (viên dung).

Biết sự gọi là Tri. Biết lý gọi là Ngộ. Đối với bậc lý sự đã vô ngại thì tri và ngộ không hai. Mỗi thấy nghe đều là Văn Thù (căn bản trí). Mỗi cử động đều là hạnh Phổ Hiền (hậu đắc trí).

Thập Tín là bước đầu để đi lên, là căn bản các thánh vị. Thân có chỗ đứng là nhờ bàn chân. Bước đầu đã đúng thì cứ thế mà đến nơi đến chốn.

Dù tự lợi hay lợi tha, trước hết phải cầu minh đạt. Chỉ cần mở mắt ra, tìm hiểu giáo lý. Biết đường và đi đúng đường là điều kiện thiết yếu. Đạo Phật là con đường giác tỉnh, đưa đến vô thượng chánh giác. Ngôi nào cũng phải nhờ trí tuệ dẫn đường. Kim Cương Bảo Giới là chánh hạnh. Trí tuệ là trợ đạo. Nương đèn chánh giáo, văn tuệ khai minh giải. Tu tuệ sanh chân trí. Giọt nước mong manh, với sức tiếp tục lâu dài, sẽ có khả năng làm thủng đá.

Phật tử có vị giải thoát, có vị sanh thiên, có người đọa lạc. Phật phước điền bình đẳng. Chỉ vì chí nguyện khác nhau mà quả báo khác nhau. Nguyện dẫn đường tu như mắt dẫn thân đi. Không nguyện nào quý hơn nguyện thành Phật. Đây là nhân thù thắng. Tam tạng giáo lý là thuốc trị tất cả độc, là mặt trời chiếu khắp, là duyên thù thắng. Đủ nhân duyên tốt đẹp như thế, ta hãy nỗ lực trân trọng học tập.

Phật giác ngộ một pháp duy nhất là Như Lai Tạng diệu chân như tánh. Bồ-tát không định, không thể có tuệ. Muốn định, tâm phải trụ một cảnh. Tâm phải rót một cảnh mới năng nhập lý. Nhưng kinh lại dạy : “Trong cánh đồng mông mênh những sanh cùng tử này, có cây Bồ-đề thọ vương. Nếu không có nước đại bi tưới gốc rễ chúng sanh thì không bao giờ nở hoa Bồ-tát để kết quả Phật. Cho nên Bồ-đề thuộc về chúng sanh. Tất cả các Bồ-tát phải biết nghĩa này”. Như vậy thì tâm bắt buộc phải đối vô lượng cảnh. Bồ-tát kiếp này sang kiếp khác, hân hoan trong sự nghiệp đem huyễn pháp thức tỉnh huyễn chúng sanh trở về sống với Phật tánh kim cương bất hoại của mình.

Muốn thật lòng tinh tấn tu công đức Phật, tân học Bồ-tát phải dùng 4 niệm xứ, khai tuệ vô ngã, vô pháp. Biết tất cả tướng vô tướng, sanh vô sanh. Tâm cảnh cùng vong, trụ vô phân biệt mới mong nhập pháp tánh. Tam luân không tịch mà hằng giáo hóa. Trí Bi thành nhau. Biết như thế, tin hiểu thâm sâu thật nghĩa, Bồ-tát khởi hạnh chứng chân, trước sau đều thật.

Trong hộ nội tâm tránh các nhân duyên xấu, kết hợp các nhân duyên lành. Ngoài xả thân hộ pháp. Vì ngôi Tam-bảo là cửa giải thoát duy nhất của muôn loài.

Mở trong trình đọc kinh