KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI · Chương 4/5 · Phần 2/3

IV. GIỚI TƯỚNG (phần 2)

15/. KHÔNG HOẰNG DƯƠNG ĐẠI THỪA

Chánh tín đại thừa : Ác nào cũng dứt được. Lành nào cũng làm được. Loài nào cũng độ được. Chư Phật là Phật đã thành. Mình là Phật sẽ thành. Vì tâm mình đồng tâm Phật nên trên cầu Phật quả. Vì tâm mình đồng thể với mười phương chúng sanh nên nguyện độ tận chúng sanh. Sự giác tỉnh này không được giây phút xao lãng. Hễ quên liền lạc về nhị thừa. Nhân tu gọi là tâm Bồ-đề. Quả đức gọi là chánh giác. Từ sơ Địa đến Địa 10 đều lấy đại bi làm gốc.

Trước tiên dạy hàng tân học đọc tụng kinh luật đại thừa. Kế giảng cho hiểu rõ nghĩa lý, giúp cho họ phát tâm Vô-thượng Bồ-đề.

Nếu chỉ hiểu rõ giáo lý đại thừa mà không phát tâm đại Bồ-đề là cuồng tuệ. Nếu chỉ phát tâm Bồ-đề mà không thông đạt giáo lý đại thừa, chỉ thêm vô minh. Nên hai việc này trợ giúp cho nhau.

Kinh Vô Úy Thượng Thọ Vấn : “Phát tâm Bồ-đề phước lớn như hư không. Dùng châu báu đầy hằng sa cõi Phật đem cúng dường Tam-bảo, được phước vô biên. Người chí thành một phen phát tâm Bồ-đề, phước đức hơn nhiều không thể tính kể”. Phát tâm rồi phải tu tập hạnh Bồ-đề là các pháp quán để viên mãn 10 Tín, tiến lên 10 Trụ, 10 Hồi Hướng. Bồ-tát dạy người tu 30 ngôi Hiền mới gọi là tự lợi lợi tha. Bậc thầy phải cặn kẽ chỉ thứ lớp lên quả vị Phật để người học khỏi lạc đường (xem kinh Hoa Nghiêm).

Giới kinh dạy : “Bồ-tát phải thuyết giảng đúng chánh pháp. Phật tử phải tận tâm học kinh luật oai nghi đại thừa, thông hiểu nghĩa lý. Hàng tân Bồ-tát từ xa trăm ngàn dặm đến cầu học nên dạy các khổ hạnh. Rồi sau tuần tự theo căn cơ mỗi người mà giảng chánh pháp cho họ mở thông tâm ý. Phật tử vì danh lợi, đáng dạy mà không dạy. Hoặc giảng kinh luật một cách điên đảo, văn tự lộn xộn, không đúng thứ lớp trước sau. Thuyết pháp với tánh cách hủy báng Tam-bảo, khinh cấu tội”.

16/. VÌ LỢI ĐẢO THUYẾT

Bồ-tát phải học tập đầy đủ để thành tựu tri kiến. Khi đã có khả năng phải tận tình giáo hóa để cho ai nấy đều được hưởng thọ sự lợi ích của chánh pháp. Việc truyền đăng không thể đoạn tuyệt. Vì hộ trì chánh pháp, Bồ-tát hoan hỷ sốt sắng khoái lạc giảng nói, không mỏi nhọc, không chán nản. Cầu cho chúng sanh tiến tới Vô-thượng Bồ-đề.

Đã thọ Bồ-tát giới, ai cũng phải học kinh luật đại thừa, thông hiểu nghĩa lý. Sơ tâm phải biết tôn trọng chánh pháp đến mức hy sinh thân mạng. Có ý chí quyết liệt như Tổ Huệ Khả cầu pháp với Tổ Đạt Ma mới dũng cảm thắng tiến. Không bị hoàn cảnh khó khăn làm thoái thất tâm Bồ-đề.

Xả thân, cánh tay, ngón tay để cúng dường Phật là tâm thượng cầu Phật đạo đến tuyệt đỉnh. Xả thân mạng tay chân bố thí cho cọp sói các loài quỷ đói rồi giảng nói đại thừa cho hàng tân học ấy mở thông tâm ý. Đây là nói về tâm hạ hóa chúng sanh đến mức tuyệt đỉnh.

Nên biết chúng ta từ vô thủy chìm đắm trong sanh tử luân hồi. Nguyên nhân là do đời đời kiếp kiếp đã huân tập vô minh, chấp thủ thân mạng. Nay dạy hy sinh để thực hiện tinh thần vị tha của đại thừa (Ma-ha tát-đỏa Vương Tử đem thân nuôi 5 mẹ con nhà cọp). Tại sao lại khuyên Bồ-tát nên làm như thế ngay buổi vỡ lòng học Phật ? Mục đích chủ yếu là phá trừ chấp ngã. Thân mạng còn coi như giẻ rách huống chi tài vật. Nội thí ngoại thí hiển tỏ một tâm chí vững chắc kiên cố.

Tuyên thuyết chánh pháp không phải dễ dàng. Trước nói những sự tướng dễ hiểu rồi sau dần dần giảng nói thâm áo. Chúng sanh tiếp thọ từ thô vào tế, từ cạn đến sâu, dễ nắm được đường lối. Ba môn vô lậu học cũng trước học giới, sau vào định rồi tuệ giải. Ngôi vị tu tiến cũng tuần tự từ 10 Tín lên dần 10 Địa. Người học nhờ văn tuệ mở tỏ, tư tuệ khai sáng mới không bị trệ ngại trong khi tu tập liễu ngộ bổn nguyên tâm địa. Ý hiểu rõ, biết được nghĩa vị xác thật. Tâm trí đã khai thông thì sự chứng quả đăng vị sẽ không khó khăn.

Tóm lại, quên mình vì người là bổn hoài của đại sĩ. Tuyên dương thuận theo chánh giáo là bổn phận của Bồ-tát. Theo kinh Phạm Võng, trước tiên vì hàng sơ học nói khổ hạnh, trì giới. Kế nói chánh pháp nghĩa là lý KHÔNG. Phải làm sao cho tâm chí người học kiên cố vững bền.

Khi nào thì không phạm ? Biết người kia tà kiến nên pháp sư không dạy khổ hạnh mà cực lực bài xích khổ hạnh. Hoặc để phá trừ ngu si vọng chấp nên vị thầy chuyên giảng LÝ mà chưa nói đến SỰ.

Theo Du Già Giới Bổn, có nhiều nhân duyên Bồ-tát từ chối giảng dạy thuyết pháp mà không phạm giới. Thí dụ : Người cầu không thật lòng, Bồ-tát đang bệnh v.v…

17/. Ỷ THẾ KHẤT CẦU

Kinh Ngũ Bách Vấn : Một Tỳ-kheo tham tiền của, khất cầu quá nhiều mà không đúng pháp sử dụng. Mệnh chung thọ ác báo làm một trái núi toàn thịt rộng vài mươi dặm. Gặp năm mất mùa, dân chúng xúm nhau đến cắt thịt, mang về cả nhà ăn. Thịt lại mọc ra như cũ. Thiên hạ tha hồ ăn.

Phật dạy : Ai đã thọ Bồ-tát giới, làm việc gì cũng vì đại chúng hay vì Phật pháp. Nếu vì hộ trì Phật pháp, muốn Phật pháp được truyền bá khắp thế gian mà thân cận các quốc vương thì nào có lỗi như Nam Dương Trung làm quốc sư luôn 3 triều vua nhà Đường, Trừng Quán Thanh Lương làm thầy cho 7 vị quốc vương. Quan hệ là phải có khả năng đừng mắc bả lợi danh.

18/. KHÔNG BIẾT MÀ LÀM THẦY

Thầy thuốc không rõ căn bệnh cùng phương thuốc mà đi trị bệnh thì làm sao bệnh nhân bình an ? Người mù lãnh trách nhiệm dẫn đường hẳn đưa nhau xuống hố. Bồ-tát tự không tuệ giải, không thông đạt tánh tướng các pháp, không rành rẽ văn nghĩa kinh luật mà làm thầy thì lấy gì dạy đệ tử ? Đã không biết đến chánh nhân tâm địa, làm sao thành Phật cực quả ?

Điều tối trọng của Bồ-tát là thành thật, không giả dối. Thế gian có cái họa lớn là ai cũng thích làm thầy. Có người nương danh từ hóa độ chúng sanh, kiến lập môn đình cao rộng, tướng ngã mạn lẫy lừng. Có người tự cho mình là thông tông giáo, xem rẻ luật học, lạm thâu đồ chúng thật đông. Thọ giới mà không học không tụng, không biết khai giá trì phạm thì chẳng những hiện đời mất tên Bồ-tát, mai sau không quả vị mà còn tự chuốc tội báo vào thân.

Thích làm thầy là công đức hay tội lỗi ? Là hộ trì hay hủy diệt Phật pháp ? Điều này chỉ ở trí tuệ, đạo đức và tài năng của đương sự.

Trí Độ Luận : Tỳ-kheo phải thông tam tạng, đủ 10 hạ mới được làm thầy. Theo Phạm Võng kinh thì phải trì Bồ-tát giới ngày đêm sáu thời. Hiểu rõ ý nghĩa lý tánh của giới. Trí tuệ thông đạt kinh luận dĩ nhiên là cơ bản để truyền pháp lợi sanh. Thân tâm thanh tịnh, giới hạnh lại càng là cơ bản của đại sĩ nhập thế. Không thể biếng nhác tụng trì giới luật.

Chỗ chỉ quy của sự trì giới là giải thoát và thành Phật. Cho nên cần phải hiểu rõ lý tánh của giới. Kinh Thành Thật : “Hết thảy các pháp môn tu chỉ cốt tỏ ngộ vạn pháp vô sanh, thật tướng như như tịch tĩnh. Trụ tâm chân thật này không thoái. Hễ vọng khởi liền biết, không theo vọng. Tâm muôn đức liền đủ, diệu dụng không cùng. Được tâm này rồi, chuyển pháp luân. Ta người đồng lợi”. Tâm tánh này làm sở y cho vô tác giới thể. Đồng thời nương vô tác giới thể làm chủng tử thành Phật. Giới thể gồm 2 loại :

1. Tác giới : Tại giới đàn, ba nghiệp thân miệng ý đúng pháp đúng luật tạo nên. Nghiệp này có thể thấy và nghe. Khi động tác của thân miệng diệt rồi, nó cũng diệt theo.

2. Vô tác giới : Nương duyên tác giới mà phát sanh. Một khi đã phát sanh thì tương tục còn mãi. Trọn đời ngăn ngừa sai quấy lỗi lầm, diệt các tội ác, giữ gìn ba nghiệp thanh tịnh.

Nhiều bậc thầy như Tổ Huệ Năng không thông hiểu văn tự nhưng chân thật giải ngộ. Xưa kia Hòa-thượng Giải Thoát được nghe một bài kệ, liền tỏ ngộ chân lý như đã liễu đạt ba tạng kinh Phật :

Pháp tịch diệt thậm thâm

Của mười phương chư Phật

Phương tiện trí làm đèn

Chiếu thấy tâm cảnh giới.

– Ngài Châu Lợi Bàn Đặc Ca được Phật dạy có một bài kệ mà chứng A-la-hán :

Thấy được lỗi lầm nên hoan hỷ.

Trên đời không sân, thật hạnh phúc !

Đừng làm tổn hại các chúng sanh

Sáu trần thế gian đừng ham muốn.

Thoát ly ái dục và ngã mạn

Mới có thể nếm được an vui.

Vào cảnh tịch diệt là vui nhất.

Đã không hiểu biết kinh luật, lẽ ra phải đi học. Nay lại dám đứng làm thầy. Nếu không phải thánh nhân đã tỏ ngộ chân lý như các Tổ nói trên thì điều trọng yếu trong các điều trọng yếu, pháp sư phải thông hiểu kinh luật, giới hạnh trang nghiêm.

19/. LƯỠI ĐÔI CHIỀU

Đối với các bậc đức hạnh sanh tâm khinh báng. Đối với các Bồ-tát đáng lý phải cực lực nghĩ tán hạnh nguyện, tuyên dương công đức để mười phương chúng sanh hướng về học tập Phật pháp. Giới hủy báng số 13 đã răn cấm việc hãm hại khiến cho người mất danh giá. Giới này ngăn sự ly gián sanh nghi kỵ đấu tranh. Trong các bạn đồng học phải tạo một không khí phấn khởi hy vọng. Nếu thấy phát sanh những ý kiến trái nhau, cần vận dụng hết sức khéo léo của mình để khôi phục hòa khí.

Cần lựa chọn lời nói. Thiếu thận trọng sẽ mất hòa vui.

Lời phụ của pháp sư Diễn Bồi : Số thiện lai Tỳ-kheo có đến mấy chục ngàn mà thiện lai Tỳ-kheo-ni không đầy 10 vị. Ni giới tự biết nghiệp chướng nặng nề nên vâng theo lời đức Bổn Sư Thích Ca, quán bất tịnh :

1) Tử thi cứng đơ.

2) Sình chướng.

3) Xanh bầm.

4) Nứt loét hôi thối.

5) Máu mủ rỉ chảy.

6) Nát bấy.

7) Dòi bọ lúc nhúc.

8) Thịt da tiêu tan.

9) Xương long rụng mủn thành bột.

10) Thiêu đốt chỉ có ngọn khói bốc trên lửa. Khoảnh khắc chỉ còn một nắm tro tàn.

Nhất tâm niệm danh hiệu Phật A Di Đà, ngồi thuyền đại nguyện vãng sanh Tịnh-độ, ung dung lên ngôi bất thoái, mãn Bồ-đề nguyện như ai.

20/. KHÔNG PHÓNG SANH

Thấy khổ nạn, Bồ-tát phải cứu tế.

a) Phóng sanh.

b) Cứu trợ các vong linh.

Tại Trung Hoa, huyện Vu Châu, thôn Căn Khê, bà họ Lý tuổi ngoài 60, sống cô độc với đứa cháu 7 tuổi. Hai bà cháu đang mải mê hái trà. Một mãnh hổ từ trong rừng nhảy ra vồ đứa cháu. Bà già hoảng hốt, quên sợ hãi, chắp tay van xin tha mạng cho cháu. Cọp bất ngờ, đứng dừng lại một chút, thả đứa bé, nhảy tót vào rừng. Bà già hoàn hồn dắt cháu về nhà.

Cũng tại xứ ấy. Một chủ quán rượu thịt, ngày nọ, đem tất cả tôm cá lươn rùa v.v…, mua để làm thức ăn cho khách, ra sông phóng sanh. Từ đó tiệm ăn đóng cửa. Người ta tò mò hỏi duyên cớ. Chủ quán đáp :

Tôi có một người làm công, mỗi ngày lén cắp những con vật sống, đem thả ra sông. Một hôm tôi bắt được. Thấy cậu ta vui mừng sung sướng nhìn con vật bơi đi, tôi giận tức đến cực độ. Sẵn nồi nước sôi để làm gà, tôi xối xả tất cả lên lưng cậu ta. Cậu ta ngã nhào xuống đất, da phỏng lòi thịt, trông như heo luộc. Tôi mặc kệ cho kêu la. Thật là đáng kiếp ! Tôm cá của tôi mua làm sao đem đi thả ?

Tôi đi vào nhà. Quay lại thì lạ kìa, vô số các loài thủy tộc từ sông bò lên, leo khắp lưng cậu. Chúng nằm trên lưng cậu ta như thuốc thoa phết. Cậu làm công tỉnh dậy, cảm thấy mát mẻ tận xương tủy. Khỏe khoắn tươi tỉnh, không bao lâu khỏi hẳn. Chứng kiến cảnh ấy, tôi giật mình : Cứu hộ sanh mạng được báo ân thì giết hại làm sao tránh khỏi báo thù ? Vì thế tôi quyết định đổi nghề.

Phóng sanh công đức vĩ đại. Để tâm lành này được kiên cố, Phật dạy chánh quán :

1/- Đời đời ta thọ sanh trong sáu nẻo luân hồi. Không có một hữu tình nào chưa từng là cha mẹ ta.

Ở thành Xá Vệ, một đại phú trưởng giả đang cùng vợ con ăn cơm, thấy đức Phật tay cầm bình bát đứng lù lù trước cửa, mắng rằng : “Samôn không biết hổ thẹn”.

Đức Phật liền dùng thần thông giúp ông biết việc kiếp trước : Mẹ ông vì luyến ái chưa dứt nên trở về làm vợ ông hiện tại. Bố ông cũng vì tình nghĩa chưa hết nên sanh trong nhà ông làm thân gà, bị ông giết thịt trong bữa cơm hôm nay. Con ông chính là quỉ La-sát đầu thai để báo oán.

Trưởng giả tỉnh ngộ cuộc đời là một bi hài kịch, vội sụp lạy quy y. Nghe pháp xong, trưởng giả liền chứng sơ quả Tu-đà-hoàn. Đáng thương cho chúng ta, tầm nhìn quá ngắn. Chỉ biết vọng nhận bốn đại là thân hiện tại. Quân tử lắm cũng chỉ hiếu thuận với cha mẹ hiện đời. Ngoài ra khinh mạn lăng nhục, giết chóc. Đâu biết tất cả chúng sanh đều là những người đã từng yêu thương đùm bọc chúng ta.

2/- Tất cả chúng sanh chính là thân cũ của ta. Lúc chết bốn đại ly tán, ta gọi là vật bên ngoài. Người chết đem chôn, thân trở thành đất. Trên đất mọc lên cây lúa. Người ăn gạo nhận làm nội thân. Cứ thế xoay vần. Thánh nhân biết thân chúng sanh là thân mình.

3/- Học đại thừa Bồ-tát giới, hiểu chân lý “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh”. Nên tất cả chúng sanh hiện nay, đủ thắng duyên, sẽ là vị lai Phật.

4/- Từ bi quán :

a. Sanh duyên từ : Quan sát những khổ nạn mà phát tâm cứu vớt.

b. Pháp duyên từ : Thông đạt ngã không, pháp không, ta người đồng thể nên mở lòng cứu độ.

c. Vô duyên từ : Tâm Phật không duyên một pháp nào mà nhậm vận vẫn ban vui cứu khổ.

Đại Trí Độ Luận quyển 20 giải thích 3 loại từ bi tâm rất rõ ràng. Kinh Pháp Cú nói lợi ích của tâm từ bi : 1) Phước đức thường theo bên mình. 2) Thức ngủ bình an. 3) Trời người ủng hộ. 4) Không bị nạn nước lửa đao binh thú độc. 5) Hiện tại nhiều may mắn. 6) Lai sanh cõi lành.

Nếu đem công đức hồi hướng Tây phương thì sớm thành bậc đại phước đại trí. Hiện thân đi vô lượng thế giới cứu độ chúng sanh.

Kinh này dạy chúng ta :

1- Thường phóng sanh.

2- Khuyên người phóng sanh.

3- Thấy sát sanh phải cứu hộ.

4- Đem giới Bồ-tát giảng dạy :

a) Giáo hóa cho thế gian biết sợ khổ sanh tử, cầu Niết-bàn an vui.

b) Hiểu chân lý chư Phật cùng chúng sanh đồng thể, diệt hết tham sân si, giải thoát luân hồi, trở lại bổn nguyên tâm địa.

c) Cầu cha mẹ anh em hiện đời bình an, lâm chung vãng sanh cõi Phật.

d) Thỉnh pháp sư giảng Bồ-tát giới để cầu siêu tiến cho vong nhân. Việc này ít ai làm nhưng lời Phật dạy rõ ràng ở giới này. Nếu Bồ-tát không vâng hành thì phạm giới.

Kinh luật có công năng sanh thiện diệt ác nên tiêu tội được phước. Giảng kinh tư trợ cho người chết nghiệp chướng tiêu trừ, trí tuệ khai mở. Nếu đọa lạc u đồ thì nhờ công đức giảng kinh, vong giả sanh về nhân thiên. Nếu có thiện nguyện thì được vãng sanh Tịnh-độ.

Một phen được nghe Bồ-tát giới kinh, vĩnh viễn thành Phật chủng. Nên biết giới pháp công đức rất lớn.

Không cứu sống sanh mạng, không cầu siêu độ cho những thần thức đang bị trầm luân, Bồ-tát phạm khinh cấu tội.

Nghiêm trì giới này là đủ tam tụ tịnh giới.

a- Nhiếp luật nghi giới không tàn nhẫn sát sanh.

b- Nhiếp thiện pháp giới phương tiện cứu hộ các thứ khổ nạn cõi âm cõi dương.

c- Nhiếp chúng sanh giới phóng sanh, cầu an, cầu siêu.

Đem Bồ-tát giới giảng dạy là cứu nhân khổ. Phóng sanh là cứu quả khổ. Bồ-tát cứu độ chúng sanh là cứu cho rốt ráo hết khổ. Thỉnh các pháp sư giảng kinh luật đại thừa là cứu sanh độ tử, đưa tất cả về cảnh giới thánh hiền vĩnh viễn an vui.

21/. KHÔNG BÁO THÙ

Phật pháp từ bi phổ độ, cố gắng thực hiện oán thân bình đẳng. Vì thế triệt để ngăn cấm chủ trương báo oán của thế gian. Đức Phật dạy đại chúng bên trong sung mãn nhẫn hạnh, đối ngoại từ bi hỷ xả. Trường hợp nào cũng biểu lộ tâm niệm ái hộ chúng sanh.

Sân giận là thứ phiền não rất nặng. Bao nhiêu rối ren đều do thiếu nhẫn nhục phát sanh. Tự lợi lợi tha, tất cả công đức thiện pháp đều phải đề phòng sự thiêu đốt của lửa sân. Bồ-tát từ nhẫn, bi mẫn, cốt yếu là không trả thù. Giới luật không bắt người mới học phải dùng đức báo oán. Việc này khó lắm. Đức Phật biết rằng thái quá là sự khó tuân hành.

Kinh Đại Bát Nhã quyển 21 : Ngay trong lúc đấu tranh, Bồ-tát tự giác. Tại sao ta lại dùng lời ác đáp lại người ? Không nên phá hoại quả Bồ-đề thậm thâm.

Đại Bát Nhã quyển 520 : Bồ-tát dù bị chặt tay chân cũng không sân giận, nói lời thô ác. Vì Bồ-tát cầu Vô-thượng Bồ-đề, mục đích duy nhất là để cứu khổ ban vui cho tất cả chúng sanh.

Lời khai thị lâm ly thấm thía tận tủy não này, tân học Bồ-tát chúng ta phải xem trọng ! Chúng sanh não loạn đến cách nào, nếu ta không sân hận thì họ chẳng làm gì được. Ví như mặt xấu xí soi vào gương sáng thì mặt vẫn xấu xí mà gương vẫn sáng ! Nếu bạn nổi giận, nói lời tệ ác, thì kết quả lỗi lầm, đáng lẽ kẻ kia phải mang, lại thành của bạn.

Vĩnh Gia đại sư Chứng Đạo Ca rằng : Quán ác ngôn là công đức. Kẻ kia là thiện tri thức. Nếu vì chê báng khởi tâm oán thân, lấy gì nêu biểu vô sanh từ nhẫn lực ?

Người thân bị giết nay trả thù cũng không sống lại được. Chỉ gia tăng mối hận thù. Vua Trường Thọ bị vua Phạm Ma giết. Trước khi chết dặn con rằng : “Quyết định không nên trả thù. Đem oán báo oán, thù không chấm dứt. Chỉ có cách không báo thù thì oán hận mới tiêu tan”. Tuy thế con là Trường Sanh vẫn nuôi chí nguyện phục thù. Cải trang làm kẻ hát rong, được giới thiệu lọt vào cung vua Phạm Ma. Rồi được tin cẩn. Một hôm cùng vua vào rừng săn bắn. Nhằm thời tiết nóng bức. Trường Sanh đánh xe vua đến chỗ vắng nghỉ ngơi. Vua ngủ say. Trường Sanh 2 lần rút gươm định giết vua nhưng nghĩ đến lời cha dạy lại thôi. Đến lần thứ 3, Trường Sanh đánh thức vua dậy, kể hết sự tình. Vua cảm động, khen Trường Thọ là thánh nhân, cảm ơn Trường Sanh đã tha mạng, trả lại nước cho Trường Sanh.

Đức Phật kết luận rằng : Vua quan chuyên nghiệp kiếm cung mà còn hành ân huệ, khen nhẫn nhục. Cướp nước giết cha mà còn tha thứ hòa giải được. Huống chi Tỳ-kheo làm sao lại dùng lời nói làm binh khí đả kích nhau ! Bồ-tát tư duy người sân pháp sân đều không thật có, chứng Bát Nhã chân không.

22/. KIÊU MẠN KHÔNG THỈNH PHÁP

Không kính trọng bậc có đạo chẳng những bản thân tổn đức mà còn mắc tội khinh mạn. Bồ-tát tận lực cầu học chánh pháp để tự hành và hóa tha.

Kinh Hoa Nghiêm : “Bồ-tát nghe nói phải nhảy vào hầm lửa mới được học Phật pháp cũng mừng rỡ nhận lời. Vì học hành Phật đạo sẽ thoát khổ A tỳ địa ngục. Lửa thế gian có thấm vào đâu”. Bồ-tát cần học để biết đường thành Phật và các phương tiện độ sanh. Tự cao tự đại cho rằng mình đã hiểu biết thậm thâm, không chịu cầu học thêm, là một tổn hại nặng nề.

Kinh Vị Tằng Hữu : Một con dã can bị sư tử đuổi. Trượt chân rơi xuống giếng. Ba ngày không sao tìm cách lên được. Hướng lên hư không bạch rằng : “Xin mười phương Phật chứng minh. Con vì ngu si cố tiếc thân hèn, không bố thí cho sư tử. Đến nỗi nay chết làm thối bẩn giếng người. Con xin cầu ai sám hối. Nguyện mười phương Phật soi sáng cho con sạch hết tội nghiệp quá khứ. Nguyện đời sau được gặp minh sư học chánh pháp cho đến chứng quả Vô-thượng Bồ-đề”.

Thiên đế nghe pháp ngữ này, vội cùng tám vạn ông trời bay xuống bên giếng : “Chúng tôi ở cõi trời bấy lâu tối tăm. Nay xin pháp sư từ bi chỉ giáo về Phật pháp”. Dã can đáp : “ Quý vị ở trên cao, tôi đứng dưới thấp. Thuyết pháp không đúng nghi tắc, kẻ nói người nghe đều cùng có lỗi”. Trời Đế Thích vội vàng dùng thần thông đưa dã can lên khỏi giếng. Mỗi ông trời cởi một áo, chồng lên thành một pháp tòa. Thỉnh pháp sư giảng thuyết. Vua và chúng trời đỉnh lễ dưới chân cầu nghe.

23/. KHINH NGẠO KHÔNG NÓI GIỚI

Giới trên là mạn, thuộc về 6 căn bản phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến). Giới này là kiêu, đứng trong tiểu tùy phiền não (phạm vi hạn hẹp).

Kinh dạy : Pháp thủy không thể trụ ở núi kiêu mạn. Giới trên là không kính bậc thầy. Giới này là khinh hàng sơ học.

Kinh Anh Lạc : Giáo hóa một người thọ Bồ-tát giới, công đức hơn kiến tạo tháp Phật khắp tam thiên đại thiên thế giới.

Kinh Hoa Nghiêm : Vì giáo hóa một chúng sanh, Bồ-tát phải ở địa ngục A tỳ, vô lượng kiếp chịu lửa thiêu, Bồ-tát vẫn vui mừng như đang ở cảnh an lạc tối thắng.

Không truyền dạy, Bồ-tát phạm : a) Nhiếp luật nghi giới vì tự tăng trưởng ác tâm cho chính mình. b) Nhiếp thiện pháp giới vì trái thiện hạnh đại sĩ. c) Nhiếp chúng sanh giới vì mất một chúng sanh mà mình có nhiệm vụ giáo hóa.

Khi phát tâm cầu Bồ-tát giới, phải phát đại hoằng thệ : đoạn tất cả ác, tu tất cả thiện, độ tất cả chúng sanh. Mong muốn thiết tha là nguyện. Thệ là quyết định thực hành.

Đức Phật vẫn thường trụ ở khắp mười phương nên được cung kính đối trước tượng Phật mà thệ nguyện thọ giới. Trước phải chí thành sám hối nghiệp chướng. Vì tội báo sâu nặng nên không được gặp thầy truyền trao giới pháp. Sám hối nhiều ngày, kỳ hẹn là thấy được hảo tướng (hoa báu, quang minh v.v…).

Luật sư Chân Biểu ở Trung Hoa cầu đức Di Lặc truyền giới. Trên tảng đá lớn ở đỉnh núi cao, ngày đêm dõng mãnh thiết tha sám hối. Một tuần sau, thấy đức Địa Tạng hiện thân khích lệ. Luật sư tiếp tục lễ sám. Đêm thứ 14, bị một ác quỷ xô nhào xuống gộp núi, đồng thời các thứ ma tướng quái dị dọa nhát. Luật sư càng thiết tha sám hối. Đến ngày thứ 21, đức Di Lặc cùng thiên chúng quang lâm xuống thạch đàn, truyền trao giới pháp, ban danh là Chân Biểu.

Chúng ta nay ở thời mạt pháp, ma Phật khó phân thì cứ sám hối cầu được gặp thầy truyền giới, khỏi cần hảo tướng. Tự nguyện thọ giới khó đắc giới như cọ cây cầu lửa. Từ thầy thọ giới dễ đắc giới như mồi đèn lấy lửa. Chỉ cần gặp được đèn sẵn có lửa, lập tức được ánh sáng. Cho nên giới tử phải tôn trọng cung kính khẩn thiết học đạo, một khi đã gặp được thầy.

24/. KHÔNG HỌC KINH LUẬT ĐẠI THỪA

Xa lìa đại thừa, Bồ-tát mất căn bản. Luật Sadi nói : Bỏ trân bảo lấy ngói gạch là không biết chánh tà. Kính Di Hầu làm vua Đế Thích là không có trí tuệ xét người. Mang danh Bồ-tát vì đã thọ đại giới và thực hành đại thừa. Nếu rời đại thừa làm sao chứng Vô-thượng Bồ-đề.

Bồ-tát phải đủ ngũ minh nhưng không được bỏ gốc là Phật pháp. Nhãn quang sáng suốt đối với vấn đề nào cũng không trệ ngại, không khư khư chấp chặt nhưng sơ tâm Bồ-tát phải triệt để tuân hành giới này.

Hàng tân học trước tiên phải thâm tín cung kính hâm mộ Phật pháp. Y kinh luật tu hành, khế nhập thật lý. Văn huân tu tập phát khởi chánh kiến. Đại thừa lục độ vạn hạnh lấy chánh kiến làm cơ bản chủ yếu chỉ đạo.

Do công hạnh chứng lý tánh (chánh tánh : Như Lai Tạng).

Dẹp sạch vô minh đến đâu, lý tánh hiển lộ tới đó cũng gọi là Như Lai xuất triền. Bồ-đề quả mãn liền chứng pháp thân.

Nay có Phật để quy y. Có pháp để tu học. Có Tăng để làm gương mẫu mà đành héo mầm Bồ-đề, hư giống chánh pháp nên kinh gọi là đoạn Phật tánh (làm mất giống Phật). Phật tánh sẵn đủ trong tâm. Vì thiếu nhân duyên tăng trưởng nên bị lu mờ.

Hoặc học nhị thừa ngoại đạo, thoái tâm đại thừa rẽ đi đường khác nên gọi là đoạn Phật tánh. Kinh Pháp Hoa cũng nói : Hành giả đại thừa không nên ở chung với hành giả tiểu thừa.

Bồ-tát phải học tiểu thừa, ngoại đạo, ngũ minh để đủ phương tiện giáo hóa chúng sanh. Giới này đặc biệt cấm hàng tân học cùng những người kém trí tuệ để ngăn ngừa sự lạc đường.

Kinh Bồ-tát Thiện Giới : Vì phân biệt chân vọng để phá tà kiến, vì cần biết sự thế để độ thế gian v.v…. Bồ-tát được học ngoại điển nhưng đại thừa tiểu thừa đều phải lấy bổn pháp làm chỗ chính học.

25/. KHÔNG KHÉO HÒA CHÚNG

Thống lý đại chúng cần nhất thiết vô ngại mà nay đã không khéo điều hòa lại còn khuấy khích kình chống. Biết nhường nhịn sẽ giải quyết nhiều khó khăn. Bậc lãnh đạo đối với người thì từ bi hỷ xả, hòa giải xích mích. Với tài vật của Tam-bảo thì yêu tiếc giữ gìn cần kiệm. Nếu toàn ban chức sự được như thế thì ngôi Tam-bảo hẳn hưng long. Cõi Ta Bà chúng sanh nổi tiếng cang cường, Bồ-tát không khéo điều phục, dễ phát sanh ác nghiệp.

Các vị đạo thủ quan hệ là pháp sư, luật sư, trụ trì, giảng sư, thiền sư, tri khách phải ngọt đắng chung thọ, khổ vui có nhau. Không nên có một nếp sống cách biệt. Sáu chức vụ, mỗi người làm chủ phần hành của mình, quan hệ nhất là bảo vệ hòa ấm. Không kịp thời hòa giải những bất đồng ý kiến, tất nhiên khó chung sống nói chi cùng làm. Mỗi khi có việc xào xáo, người lãnh đạo không thể thiếu cẩn trọng.

Tăng đoàn có sự tranh cãi. Đôi bên đều cần thiện chí nhường nhịn. Vị thượng tòa đứng ra dàn xếp cần : 1) Giới hạnh thanh tịnh, đa văn, biết luật. 2) Thông minh trong hỏi đáp, lời nói rõ ràng. 3) Có khả năng sáng suốt dứt khoát sự việc. 4) Không thiên vị, không nể sợ. 5) Điềm đạm, một lòng từ bi hòa giải.

Trong các tùng lâm Trung Hoa, cửa vào mỗi kho đều có đôi liễn :

Yêu tiếc của thường trụ

Như giữ tròng con mắt.

Thà hy sinh thân mạng cá nhân chớ không lãng phí của Tam-bảo. Bậc thủ lãnh phân phối tài vật hợp lý cần dùng, thông bạch chúng Tăng các việc. Không nên tự ý tùy tiện bừa bãi. Dùng lộn lạo của Tam-bảo đọa địa ngục Hỏa Già (gông lửa). Ví dụ thí chủ cúng dường trai phạn lại đem xây cất Tăng xá. Chia phần chúng Tăng mà thiên vị, người có người không, người hậu người bạc, phạm khinh cấu tội.

26/. RIÊNG THỌ LỢI DƯỠNG

Làm chủ chùa có bổn phận rộng rãi đối với khách tăng bốn phương. Pháp vị đồng hưởng mà lợi hòa cũng đồng quân. Tỳ-kheo còn phải đủ lễ tiếp đãi huống chi Bồ-tát lấy lợi tha làm yếu vụ. Phải làm sao cho khách tăng, sau khi đi đường mệt nhọc, có thể an tâm hành đạo một khi đã vào chùa. Nam Hải Ký Quy, Nghĩa Tịnh pháp sư ghi : Các tự viện Ấn Độ có quy luật. Mỗi khi có khách Tỳ-kheo tới, Tăng chúng tại trụ xứ phải tức khắc đến trước mặt tỏ lời hoan nghênh : Thiện lai ! Khách cũng phải đáp : Cực thiện lai ! Nếu không xướng họa như vậy là trái luật nhà chùa. Ấn Độ ngày xưa rất trọng điều này. Các tùng lâm Trung Hoa cũng chế định : Khách Tăng đến xin trú ngụ, nhất định không được cự tuyệt. Phải tận tâm chu đáo các nhu dụng, thức ăn chỗ ở v.v…

Phật dạy : “Lợi dưỡng trong chùa là phổ đồng cho mười phương Tăng”. Không vâng lời Phật tức là bế tắc nhân tình mà đàn việt tổn phước. Kinh Phật Tạng : “Tướng bạch hào của Như Lai dư phước đức để cung cấp cho tất cả đệ tử xuất gia thọ dụng”. Vậy chúng Tăng lo gì thiếu thốn. Nên biết thêm người là thêm phước. Chớ lo đông chúng thiếu ăn. Tâm lượng càng rộng rãi, sự sinh sống càng dồi dào. Kinh văn đúc kết vấn đề là phải sự sự cung cấp để khách Tăng cảm thấy được như ý trong khi ở trọ.

Đối với bản thân phải cần kiệm. Đối với khách Tăng không được bạc đãi, phải một lòng chí thành. Đức Phật chế giới với những lời ân cần quá mức như trong văn kinh. Hẳn chúng ta là đệ tử chẳng thể coi thường mà biếng nhác lơ là.

Thí chủ đến thỉnh, dù thỉnh cả đại chúng hay chỉ hạn định một số. Lợi dưỡng này thông cả mười phương thánh phàm. Đương nhiên khách Tăng có phần. Vị chủ sự phải bình đẳng.

Kinh Phạm Võng Sơ Tâm : Nếu khách Tăng không phần, chúng cựu trụ thọ dụng ăn uống, cứ mỗi miếng một tội. Nếu nhận tài vật thí chủ cúng dường mà không chia phần cho khách Tăng, cứ tính giá tiền theo luật mà quy tội. Vì thế người quản chúng trái lời Phật, tội không nhỏ.

Chủ chùa mà chỉ biết ăn, sống không hợp với nhân tình (súc sanh). Không đúng pháp hòa kính lễ nghi của Tăng (không đáng là Samôn). Trái lời Phật dạy (không phải Thích tử). Trái với luật (khinh cấu tội).

Trường hợp thí chủ đặc biệt thỉnh riêng cựu trụ Tăng hoặc ngỏ ý không hoan hỷ thấy vị khách Tăng ấy, thì không phạm.

Kinh Tăng Hội : Thời Ca Diếp, đàn việt cúng dường chúng tăng một món ăn. Chủ chùa cất giấu, đợi khách Tăng đi rồi mới chia cho đại chúng. Không dè thực phẩm hư hỏng đành bỏ đi. Do nhân duyên này, mạng chung vị chủ chùa đọa địa ngục phân uế. Tới nay đức Thích Ca Mâu Ni Phật xuất thế vẫn chưa hết quả báo khổ.

27/. THỌ BIỆT THỈNH

Điều tối yếu trong Tăng đoàn là hòa hợp như nước với sữa. Đức Phật đã nêu 6 pháp hòa. Trong đây lợi hòa đồng quân có phần quan trọng của nó. Đức Phật tuyệt đối cấm thọ biệt thỉnh, không muốn thí chủ có tâm thiên ái, riêng cúng một người, không nghĩ đến mười phương Tăng. Cúng dường không phổ biến, phước đức rất hạn hẹp. Tăng thọ biệt thỉnh, phá hoại phép tắc thứ tự thọ thỉnh của Như Lai, tự rước lấy tội xâm đoạt đồ cúng dường mười phương Tăng.

Kinh Tỳ-kheo Ứng Cúng Pháp Hạnh : Nếu đệ tử ta thọ biệt thỉnh, nhất định mất thánh quả, không gọi là Tỳ-kheo. Cũng không nên riêng thọ cúng dường mà không chia cho chúng Tăng.

Ngoại trừ thỉnh thuyết pháp, truyền giới hoặc một lý do chánh đáng khác thì không phạm.

Luật dạy : Chúng Tăng được bất cứ lợi dưỡng gì, trên phải cúng dường Tam-bảo, dưới kính dâng các bậc có ân đức. Rộng ra bố thí khắp hữu tình. Cho nên thọ biệt thỉnh, chẳng những đã cướp đoạt của mười phương Tăng mà còn là riêng hưởng vật của 8 phước điền (Phật, thánh nhân, Hòa-thượng, A-xà-lê, những vị xuất gia, cha, mẹ, bệnh nhân). Tất cả lợi dưỡng nếu sử dụng chung thì phước đức rất lớn. Nếu riêng dùng cho cá nhân thì mắc tội vô lượng.

Giới này chế cho cả 5 chúng xuất gia. Cũng áp dụng luôn cho hàng tại gia, không được lấy lợi dưỡng của chúng Tăng thọ dụng như của mình.

Du Già Bồ-tát Giới Bổn : Đàn việt cầu phước tuệ, phát tâm thỉnh Bồ-tát hoặc đến nhà hoặc trong chùa để cúng dường uống ăn cùng các vật dụng khác. Nếu vì kiêu mạn hay sân giận mà không tùy thuận, Bồ-tát phạm khinh cấu tội. Nếu chỉ vì lười biếng hoặc vô tâm, hoặc có lý do chánh đáng, không thọ thỉnh không phạm.

HỎI : Chính Phật vẫn thọ biệt thỉnh, làm sao lại chế giới cấm Tăng chúng ?

ĐÁP : Bồ-tát Tỳ-kheo phải ở trong quy luật của Tăng chúng. Phật bảo là vô thượng phước điền. Mỗi thế giới chỉ có một Phật nên khi thọ thỉnh, đức Thích Ca không đoạt lợi dưỡng của Phật nào.

HỎI : Vậy Bồ-tát xuất gia phải vâng theo Phạm Võng Tâm Địa Giới Bổn hay Du Già Bồ-tát Giới Bổn ?

ĐÁP : Vâng theo cả 2. Ở trong chúng, ta vâng theo Phạm Võng kinh, đúng pháp tắc lục hòa thứ tự thọ thỉnh. Khi ở ngoài đại giới ta vâng theo Du Già Bồ-tát Giới, để từ bi nhiếp thủ chúng sanh, hoằng thuận giáo hóa.

Dù trường hợp nào cũng luôn luôn trí tuệ Bát Nhã hiện tiền, vô ngã vô pháp. Lợi dưỡng ăn uống hay tài vật gì chăng nữa cũng chẳng phải của ta. Xuất gia là đã đem thân mạng cúng dường Tam-bảo thì nhất nhất ba nghiệp phải như pháp như luật như lời Phật dạy. Đừng giờ phút nào quên : Tất cả lợi dưỡng là của mười phương Tăng và của 8 phước điền. Không một thứ gì là của riêng ta. Giới điều không thọ biệt thỉnh là một sự tướng điển hình. Bồ-tát Tỳ-kheo phải đỉnh đới vâng trì.

28/. BIỆT THỈNH TĂNG

Không biệt thỉnh ai riêng có quan hệ thân thích mà không để tâm cúng dường các vị xuất gia khác. Phật tử tại gia thông thường kén người mình thích mới cúng dường. Đức Phật chế lập giới này để ngăn chặn sự thiếu bình đẳng. Ai phàm ai thánh, ta đâu có thể phân biệt. Nếu y theo lời Phật dạy, theo thứ tự thỉnh một vị thì vị này đại diện cả mười phương thánh phàm Tăng. Nên thí chủ tuy chỉ cúng một vị mà được cả mười phương thánh phàm Tăng làm phước điền. Lại tâm niệm không lựa chọn, một lòng cúng dường mười phương Tăng thì phước đức như hư không. Nếu tâm niệm chú ý vào một người thì chỉ được phước cúng một người ấy.

Luật thỉnh chúng Tăng theo thứ tự, không phải riêng đức Bổn Sư chế lập mà là giáo pháp của cả 7 Như Lai (Tỳ Bà Thi, Thi Khí, Tỳ Khí La, Câu Lưu Tôn, Câu Na Hàm Mâu Ni, Ca Diếp, Thích Ca). Tuy vậy, không phạm :

1. Thỉnh Tăng để thuyết pháp, truyền giới, giáo hóa thì phải chọn bậc đạo cao đức trọng.

2. Tùy thuận quyền lực quốc vương.

29/. TÀ MẠNG

Phật tử xuất gia có 3 lối sống thanh tịnh, tránh cho tâm địa không bị 3 độc tham, sân, si ô nhiễm.

1. Khất thực.

2. Thọ dụng thức ăn trong chúng Tăng.

3. Thí chủ đem đến cúng dường.

Tỳ-kheo tự tay làm món ăn, nếu để cúng dường đại chúng thì không phạm. Nếu tự nấu nướng cho mình dùng, rất trái ý Phật. Tỳ-kheo cần khất thực, ai cho gì dùng nấy, không chứa để, không lo toan, không mưu sống, một lòng rảnh rang để quán vô thường vô ngã. Nhất tâm cởi gỡ ngã ái ngã mạn, để trưởng dưỡng pháp thân tuệ mạng.

Đại Trí Độ Luận : Tịnh Mục Nữ thỉnh vấn tôn giả Xá Lợi Phất về vấn đề tà mạng. Tôn giả đáp : Người xuất gia làm ruộng, trồng tỉa, làm rẫy, bào chế thuốc v.v… gọi là hạ khẩu thực. Người xuất gia ngước xem tinh tú, nhật nguyệt gió mưa, phán đoán lợi hại để làm nghề sinh sống gọi là ngưỡng khẩu thực. Người xuất gia mưu cầu tài lợi bên các nhà quyền quý, đi sứ bốn phương, gọi là phương khẩu thực. Người xuất gia dùng các thứ chú thuật, coi bói xem tướng v.v… gọi là tư duy khẩu thực.

Này đại tỷ, Tỳ-kheo khất thực là nếp sống thanh tịnh duy nhất.

Lại có 5 thứ tà mạng :

1/ Giả hiện tướng khác lạ.

2/ Tự khoe công đức.

3/ Lớn tiếng hiện oai.

4/ Khích động tâm người khiến cúng dường.

5/ Giả vờ ở rừng sâu núi thẳm hy vọng danh lợi.

30/. QUẢN LÝ BẠCH Y

Giới này có 3 điều :

1- Không kính hảo thời. Theo cổ truyền, hảo thời là những ngày tháng thiên thần du hành nhân gian để thưởng thiện phạt ác. Đức Phật khuyên đặc biệt chú ý đến hảo thời vì lòng người kính sợ chư thiên và quỷ thần nên cố gắng tu hành. Lấy những ngày cố gắng này làm mẫu mực để tập thành thói quen. Như thế gian, hiếu hạnh là bổn phận quanh năm và trọn đời nhưng vẫn cần đặt ra một ngày thầy cô để cổ động nhân tâm. Phật giáo cũng có lễ Vu Lan, ngày rằm tháng 7, để nhắc nhở con cháu cầu cho cha mẹ thoát ly sanh tử. Chúng ta lầm nếu cho rằng chỉ những ngày trai mới cần như pháp tu hành. Ngoài ra có thể tùy ý buông lung tạo tội.

2- Rất sai lầm nếu cho rằng Thanh-văn bắt buộc nghiêm trì giới luật còn Bồ-tát lợi tha nên tùy nghi phương tiện. Có những Bồ-tát xum xoe lăng xăng, ra dáng kính quý Tam-bảo lắm lắm. Đâu có dè thân không đúng giới luật oai nghi. Tự mình đức hạnh không kiện toàn làm sao giáo hóa thuyết phục chúng sanh ? Miệng nói đạo lý giải thoát vô thường vô ngã mà đời sống luôn biểu hiện ba độc tham, sân, si. Lời nói việc làm không đi đôi thành ra đem thân hủy báng Tam-bảo. Người này ý nghiệp không vào khuôn phép tu hành. Như thế cả ba nghiệp tương phản với chánh pháp cho nên kinh văn gọi là ác tâm.

3- Đức Phật không muốn có những chuyện trái ngược. Tại gia làm việc của người xuất gia như đứng làm thầy truyền tam quy, ngũ giới, đứng chủ chỉ huy các việc trong chùa. Xuất gia làm việc tại gia như kinh doanh buôn bán, làm ruộng trồng cây v.v… để có lợi dưỡng nuôi chúng.

Muốn Phật pháp hưng thịnh cần khẩn cấp vạch rõ phương thức hành động cho cả Tăng lẫn tục. Bổn phận xuất gia phải dẫn dắt hàng tại gia tu hành đúng pháp. Bồ-tát tại gia lấy việc hộ pháp làm nhiệm vụ chính.

Không làm quản lý cho hàng bạch y : Công việc của cư sĩ không phải là bổn phận người xuất gia phải lo liệu.

31/. KHÔNG CỨU CHUỘC

Kinh luật là con mắt của nhân thiên. Tăng Ni là phước điền của thế gian, là sứ giả duy trì chánh pháp, là người lãnh đạo tất cả Phật tử, là đạo sư trên đường giải thoát. Bồ-tát là bi mẫu cứu khổ ban vui, dẫn dắt chúng sanh về Vô-thượng Bồ-đề. Chúng ta không thể để ngôi Tam-bảo bị hủy nhục mà không tận tình bảo vệ.

32/. TỔN HẠI CHÚNG SANH

Bồ-tát lấy từ bi hỷ xả làm cơ bản, lấy lục độ vạn hạnh làm phương tiện, lấy bố thí vô úy làm phận sự. Chúng sanh có an vui Bồ-tát mới an tâm. Nuôi chó để giữ nhà thì cho phép. Nuôi heo để bán cho người ăn thịt, nuôi mèo để bắt chuột thì cấm.

33/. TÀ NGHIỆP GIÁC QUÁN

Bồ-tát ngoài thời giờ hữu ích cho chúng sanh, phải thanh tịnh bặt duyên, dụng công chánh nghiệp xuất thế, không để quang âm trôi qua luống uổng. Những điều trong giới này cấm là vì tăng trưởng buông lung, tổn hại thiện nghiệp. Thô phân biệt là giác. Vi tế xem xét là quán. Mống khởi suy tư là giác. Trầm tư suy nghĩ là quán. Tư duy ích nhân lợi thế là chánh nghiệp tăng trưởng tâm hướng thượng. Tào lao sáu căn vào các tạp loạn vô ích là tà nghiệp. Phá hoại đạo pháp, hủy phạm tâm địa giới thể, không gì độc hại hơn những thứ này. Đã tinh tấn tu phước tuệ thì phải lìa phóng dật, tránh tất cả những duyên khiến xao lãng tâm Bồ-đề.

Trường hợp thiện quyền, uyển chuyển tình thế, Bồ-tát tạm thời đồng sự để nhiếp hóa chúng sanh thì được. Như Mạt Lợi phu nhân uống rượu với vua Ba Tư Nặc để cứu người đầu bếp khỏi bị tử hình.

34/. TẠM LÌA TÂM BỒ-ĐỀ

Tạm quên tâm Bồ-đề không thể huân tu vạn đức, không thể hy vọng thành Phật. Bồ-tát niệm niệm không quên bốn hoằng thệ nguyện.

Làm thế nào giữ gìn tịnh giới như ngọc minh châu ? – Thường đọc tụng, tìm hiểu khai giá trì phạm. Tâm như kim cương, không một phiền não phá hoại được, không hoàn cảnh nào khiến vi phạm giới phẩm. Luật thí dụ một người đeo trái nổi bơi qua biển lớn. Bỗng một La-sát tới năn nỉ xin trái nổi. Dĩ nhiên là không được. La-sát thiết tha xin một nửa. Cũng không cho. La-sát van xin ¼. Cuối cùng chỉ xin một châm kim. Cũng không đồng ý. Tại sao keo kiệt quá vậy ?

Phật tử qua biển sanh tử hoàn toàn nương vào tịnh giới. Quỷ phiền não bức bách đến đâu cũng không dám tơ hào vi phạm mới bảo toàn được tuệ mạng. Kinh kể một chuyện có thật : Thời Phật còn tại thế. Bọn cướp đi ngang qua một khu rừng, thấy một Tỳ-kheo đang hành thiền, sợ bị lộ tông tích, muốn giết đi cho xong. Một người am hiểu đưa ý kiến : Giới luật Tỳ-kheo không được bứt cây cỏ sống. Ta chỉ cần cột hai tay họ vào cỏ tranh là xong việc. Quả thật, Tỳ-kheo đành ngồi im. May sao một quốc vương đi săn ngang qua, hỏi biết chuyện, mở trói cho Tỳ-kheo, đưa về tịnh xá Phật.

Tín tâm lành đối với đại thừa là tin chắc mình có Phật tánh chánh nhân, mai sau quyết định sẽ thành Phật quả. Thiếu chánh tín đại thừa, chẳng những tự độ không trông mong mà lợi tha càng trễ nải.

a/- Tín tâm lành đối với đại thừa là Tín.

b/- Hộ trì cấm giới là Hạnh.

c/- Tự biết mình là Phật chưa thành là Giải.

Trí thể bản giác là đại Bồ-đề tâm.

Một niệm tuy rất ngắn và tạm thời nhưng nó có thể làm gốc gây thương tổn cho Phật chủng. Để ngăn ngừa ma nghiệp, một niệm thoái thất Bồ-đề tâm, Bồ-tát phải thận trọng sám hối.

35/. KHÔNG PHÁT NGUYỆN

Phát nguyện là vấn đề hết sức trọng yếu để hạnh Bồ-tát không thoái lui. Hạnh có thành thục mới hy vọng quả Phật. Tự vạch một hướng đi thẳng về đại viên giác diệu trang nghiêm mới không bị ma thâu nhiếp, tránh những nguy hiểm đọa lạc. Nguyện là lập chí. Thệ là quyết định mạnh mẽ thực hiện. Bồ-tát phát nguyện :

1. Hiếu thuận với cha mẹ sư tăng Tam-bảo.

2. Giữ vững giới luật.

3. Gặp thầy hay bạn lành đồng học kinh luật đại thừa.

4. Tiến tu 10 Tín, 10 Trụ, 10 Hạnh, 10 Hồi Hướng…

5. Đi trọn vẹn con đường Bồ-đề.

36/. KHÔNG PHÁT THỆ

Vì sức mạnh của tập quán hết sức mãnh liệt, tội chướng từ vô thủy vẫn có áp lực nặng nề đến bước tiến giải thoát cho nên Bồ-tát phải lập thệ. Nguyện như thầy dẫn đường khỏi lạc. Thệ như người đi sau thúc đẩy để bảo đảm không lui sụt. Thệ bảo vệ cho nguyện được kiên cố. Nguyện như cầm dây cương. Thệ như roi thúc giục.

Bồ-tát lập bốn hoằng thệ :

1) Xa lìa dục nhiễm.

2) Giữ mình chân chánh xứng thọ cung kính cúng dường.

3) Sáu căn trong sạch.

4) Độ tất cả chúng sanh đồng thành Phật đạo.

37/. VÀO NƠI HIỂM NẠN

Đầu đà : Nạo sạch phiền não ẩn tàng trong tâm từ vô thủy. Tăng trưởng thiện căn công đức. Hồi hướng Vô-thượng Bồ-đề.

12 hạnh đầu đà :

1) Ở nơi thanh vắng.

2) Khất thực.

3) Y phấn tảo.

4) Ngày một bữa ngọ.

5) Không uống nước phi thời.

6) Không ăn đến no.

7) Ở ngoài gò mả.

8) Ở gốc cây.

9) Ở nơi không mái che.

10) Thường ngồi không nằm.

11) Thứ lớp khất thực.

12) Không chứa y dư.

Hạnh đầu đà không bắt buộc, tùy nguyện mỗi người.

Hy sinh chỉ khi nào cần thiết. Còn ỷ mình cao đạo, dấn thân vào chỗ tai nạn, chịu khổ vô ích là ngu si. Những nơi nhiều kiến muỗi ruồi, không đủ vệ sinh cũng là hiểm nạn.

38/. TRÁI TÔN TI THỨ TỰ

Căn cứ giới lạp nhiều ít mà phân chia cao thấp. Trường hợp không phạm :

a- Đại chúng đã an tọa đâu đấy. Dù là người trên nhưng đến sau nên nhũn nhặn ngồi dưới.

b- Pháp sư bắt buộc phải ngồi tòa cao.

c- Vô tình bất ngờ.

Có người ngại : Phật pháp lưu hành trong thế gian mà đảo lộn trật tự cha con vua tôi thì đời sống sẽ mất bình an. Đáp : Tinh thần đại nghĩa trung hiếu không đâu hơn Phật giáo. Nhưng tối yếu phải tôn trọng giới pháp. Trường hợp quốc vương cha mẹ còn cố chấp thì đạo làm con và bề tôi phải tùy duyên cho ổn thỏa. Phật đặt ra giới luật người xuất gia không đỉnh lễ cha mẹ vua quan chính là vì sợ tổn đức cho người tại gia.

Giới này cả 7 chúng, đại thừa tiểu thừa đều vâng giữ. Kinh Thiện Sanh : Ưu-bà-tắc đi trước người xuất gia đã thọ giới, mắc tội thất ý.

39/. KHÔNG TU PHƯỚC TUỆ

Chim cần hai cánh, xe cần hai bánh. Người tu cần phước tuệ. Có phước như thuyền có chèo, có tuệ như thuyền có lái, không thể thiếu một.

Kinh kể chuyện : Một A-la-hán được sự cúng dường quá thiếu thốn thậm chí cơm không đủ no. Phật dạy : Đây là vì quá khứ ngài kém tu phước.

Mở trong trình đọc kinh