KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI

Với tôn chỉ ‘Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành’, Kinh Phạm Võng khẳng định rằng giới luật chính là sự khơi bày bản tính sáng suốt sẵn có trong mỗi chúng sinh. Thay vì những cấm đoán khắt khe, giới phẩm Bồ-tát lấy lòng hiếu thuận và từ bi làm gốc rễ, nhắc nhở ta nhìn nhận mọi loài như cha mẹ nhiều đời để sống yêu thương và trách nhiệm. Khi một người phát tâm thọ trì giới pháp bằng tinh thần bình đẳng ấy, họ không còn là kẻ phàm phu mà đã thực sự bước vào hàng ngũ của chư Phật, mang trong mình ánh sáng của bậc Đại Giác để soi rọi thế gian.

—— Trích đoạn KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI

 

Giới thiệu chung

Văn bản này đóng vai trò là kim chỉ nam tối quan trọng trong việc thiết lập và duy trì nền tảng đạo đức của Phật giáo Đại thừa, đặc biệt là hệ thống giới luật dành cho những người phát tâm tu theo con đường Bồ Tát. Tác phẩm hệ thống hóa một cách chi tiết và nghiêm ngặt mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, tạo thành một mạng lưới nhân quả tinh tế nhằm bảo vệ người tu hành khỏi những sai lầm trong tư duy và hành động. Nội dung tập trung vào việc khơi dậy lòng từ bi rộng lớn, khuyến khích sự hy sinh lợi ích cá nhân vì hạnh phúc của mọi loài chúng sinh, đồng thời nhấn mạnh sự thanh tịnh trong tâm trí như cốt lõi của sự giải thoát. Qua nhiều thế kỷ, bản văn không chỉ định hình phong cách sống và tu tập của giới xuất gia lẫn tại gia mà còn góp phần duy trì trật tự và sự thanh tịnh trong tăng đoàn. Ý nghĩa sâu xa của hệ thống giới luật này nằm ở khả năng chuyển hóa tâm thức, từ đó hướng hành giả đến cảnh giới giác ngộ toàn vẹn và xây dựng một xã hội hòa bình, đầy lòng vị tha.

Mục lục

Phần mở đầu

KINH PHẠM VÕNG BỒ TÁT GIỚI

Nay ta Phật Thích Ca
Cũng như đức Xá Na
Mỗi nửa tháng hằng tụng
Ba la đề mộc xoa.

Ta là Phật đã thành
Các ngươi, Phật sẽ thành
Thường tin chắc như vậy
Giới phẩm đã trọn vẹn.

Những ai đã có tâm
Nên dạy thọ trì giới
Chúng sanh thọ Phật giới
Đích thật là con Phật.

Bồ-tát như vi trần
Nhân giới này thành Phật.
Đại chúng phải cung kính
Truyền bá và thọ trì.

II. TỰA

Có người cho rằng Bồ-tát giới chỉ căn cứ vào đại thể, không câu chấp chi tiết. Ý kiến này vô cùng sai lầm. Phải biết giới Bồ-tát nghiêm cẩn đến mức ngăn cấm ngay từ mống tâm động niệm khởi tư tưởng phi pháp. Trong khi luật nghi Thanh-văn chỉ trị phạt hai chi thân và miệng. Phòng hộ trọn vẹn ba nghiệp, phá trừ các kiến chấp, chứng nhập chân lý, mới được gọi là chân phạm hạnh.

Nhiêu ích hữu tình giới lấy sự cứu tế chúng sanh làm gốc. Bồ-tát, danh phù hợp với thật, chính ở chỗ phải làm thế nào lừa lọc mò bắt tất cả chúng sanh trong biển khổ sanh tử đem về cảnh giới Niết-bàn an ổn.

Mành lưới bảo tràng trong cung Đại Phạm Thiên Vương. Những đường hồng quang ửng xạ lẫn nhau. Màu sắc bảo châu chói sáng lẫn nhau, lớp lớp vô tận. Phật dùng để thí dụ vô lượng pháp môn, sự lý kết chặt.

Có vâng giữ Kim Cang Quang Minh Bảo Giới, tu tập các pháp lành tăng trưởng Bồ-đề tâm mới được diệu quả thù thắng.

Bồ Tát Tâm Địa phẩm, quyển thượng giảng về giai cấp tu chứng, lý trí quán hạnh của 56 ngôi Bồ-tát. Quyển hạ nói về tâm địa giới pháp (10 trọng + 48 khinh).

Bồ-tát : Lợi mình lợi người, mục đích thành Phật.

Tâm địa : Bổn nguyên của mỗi người. Phật chứng tâm địa này. Bồ-tát tu tâm địa này. Chúng sanh mê muội tâm địa này. Phật đã 8000 lần qua lại tam giới, mục đích duy nhất là phát minh bổn nguyên tâm địa cho chúng sanh. Khuyên tất cả bẩm thọ bảo giới Phật tánh làm chỗ tu nhân căn bản, hướng về Phật quả thẳng tiến.

Tạp nhiễm phiền não chỉ là khách trần. Y tâm địa giới pháp, từ sơ phát tâm lên đẳng giác, dần dần hoàn mãn muôn pháp lành, tước bỏ hết ác pháp. Căn bản phiền não : Tham sân si mạn nghi, ác kiến (biên kiến, thiên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ). Hàng ngày kiểm điểm để khắc phục : phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, kiêu, vô tàm, vô quý, trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn, bất chánh tri.

Đức Phật vừa thành đạo, lập tức xuất định nói pháp ở 10 nơi :

1/- Kim Cang Hoa Quang (gốc Bồ-đề) và Diệu Quang Đường (cung trời Tứ Thiên Vương) nói về thập Tín.
2/- Cung trời Đế Thích, nói thập Trụ.
3/- Cung trời Diệm Ma, nói 10 Hạnh.
4/- Đâu Suất, nói 10 Hồi Hướng.
5/- Hóa lạc, nói 10 Định.
6/- Tha Hóa Tự Tại, nói 10 Địa.
7/- Sơ thiền, nói 10 Kim Cang.
8/- Nhị thiền, nói 10 Nhẫn.
9/- Tam thiền, nói 10 Nguyện.
10/- Tứ thiền, ở cung Đại Tự Tại Thiên Vương, giảng nói pháp môn tâm địa mà đức Lư Xá Na đã giảng ở Liên Hoa Đài Tạng.

Quang minh : phá u ám. Kim Cang : phá hủy tất cả phiền não. Bảo : quý trọng. Bảo giới xuất sanh vô lượng công đức, khiến thiện pháp tăng trưởng.

Quang minh là trí đức, nhiếp thiện pháp giới (viên mãn báo thân). Kim cang là đoạn đức, nhiếp luật nghi giới (vô lậu tánh, chứng thanh tịnh pháp thân). Bảo giới là ân đức, nhiếp hộ chúng sanh, cứu tế muôn vật, lợi ích khắp hữu tình (ứng hóa thân).

Giới pháp này bao hàm nhân quả đại thừa. Rời quang minh kim cang bảo giới, 30 Tâm (Hiền) và 10 Địa (Thánh) không thể nào thành tựu. Công đức Phật địa không do đâu phát sanh. Tánh trọng yếu của tâm địa diệu giới cần được nhận thức rõ ràng. Phật tánh chúng sanh sẵn có, phải nhờ bảo giới này mới hiển lộ. Nên nói giới là chủng tử của Phật tánh. Kinh Pháp Hoa nói : “Phật chủng tòng duyên khởi” là ý này. Trì tâm địa diệu giới mới chứng đắc tâm địa pháp môn.

Chánh văn : Tất cả ý thức, sắc tâm, là tình là tâm, đều vào trong phạm vi giới pháp Phật tánh.

Tâm : vọng niệm theo duyên tập khởi. Ý : tư lường, thức 7 chấp ngã. Thức : thức 6 liễu biệt. Ba thứ này là phần tinh thần. Sắc : 4 đại vật chất. Ngoài tâm thức không có Phật tánh riêng biệt. Tất cả hữu tình đều có thể bẩm thọ tâm địa diệu giới.

Đương đương thường hữu nhân cố đương đương thường trụ pháp thân.

Đương đương : đích thật như vậy.

Nhân và quả đều không lìa tâm địa diệu giới.

Thường hữu : lúc nào cũng có chân nhân thành Phật.

Thường trụ : diệu quả vĩnh viễn thường hằng, không thể do từ bên ngoài mà có. Chính do Phật tánh sẵn đủ, cực lực trang nghiêm khai phát mà thành.

Quang Minh Kim Cang Bảo Giới là chân nhân thành Phật, là pháp thân diệu quả thường trụ thanh tịnh.

Nương giới hết vô minh nên ví giới như mặt trời mặt trăng. Nương giới hết khổ nạn nên ví giới như châu ma ni.

Bổn tánh không độc ác nên có giới sát sanh. Bổn tánh không tham nên răn cấm trộm cướp. Bổn tánh chân thật nên không được nói dối. Sống ngược với tự tánh thì khó trở về. Thuận với tự tánh mới ngộ nhập.

Giới pháp Phật tánh là nhân tố duy nhất để thành Phật. Chúng sanh sẵn đủ nhân thù thắng để chứng quả thù thắng. Chỉ vì mê hoặc không giác ngộ. Đức Phật xót thương tuyên nói giới pháp. Chúng sanh y đó giữ gìn, siêu phàm nhập thánh, hoàn thành Vô-thượng Phật quả.

Do đâu các Bồ-tát thành Phật ? Xin đáp quả quyết rằng : Vì giữ đủ 10 giới trọng. Không vâng theo pháp tắc quy luật này, không thể thành Phật nên kinh văn gọi là giới pháp. Thọ Bồ-tát giới rồi là vào trường học Bồ-tát. Trong thì y cứ Phật tánh giới thể mà sống. Ngoài thì giới tướng nghiêm trì.

Ngộ Phật tánh chưa đủ, phải chứng được Phật tánh. Nghĩa là thật sống với Phật tánh, từng niệm xa rời vô minh. Ngài Xá Lợi Phất chứng A-la-hán mà không dám xưng mình là Phật tử. Đến hội Pháp Hoa, Phật giải thích. Ngài mới nhận ra rằng mình có Diệu Pháp Liên Hoa. Nhân đây được Phật thọ ký.

Kinh Anh Lạc : Giới pháp lấy tâm làm thể. Tâm vô tận nên gọi là vô tận giới tạng. Giới tướng có nhiều nhưng tâm địa diệu giới nhất vị bình đẳng.

Chúng sanh vọng tưởng chấp trước vào giới tướng mà quên giới thể bổn hữu, giới pháp Phật tánh sẵn đủ. Nếu không bẩm thọ giới pháp không thể khôi phục bổn nguyên tự tánh thanh tịnh. Vì thế đức Phật nói vô tận giới tạng.

III. XÁ NA TRAO GIỚI

Tỳ Lư Xá Na : quang minh biến chiếu.
Lư Xá Na : tịnh mãn : đã đến quả Phật.

Tịnh : Không còn mẩy tơ hư vọng. Mãn : Công đức thiện pháp viên tròn. Tịnh là đoạn đức. Mãn là trí đức. Tịnh Mãn là tự thọ dụng thân. Quang minh biến chiếu là tha thọ dụng thân, sát trần tướng hảo, trong dùng trí quang chiếu chân pháp giới, ngoài dùng thân quang chiếu ứng đại cơ (Bồ-tát).

Theo kinh Hoa Nghiêm, đức Tỳ Lư Xá Na (pháp thân) với đức Lư Xá Na (báo thân) đồng một thể. Phật nhãn thấy chánh báo y báo không hai. Thế giới chúng ta ở, tên là Huyền Hoa Tạng, hình bông sen 1000 cánh.

Đức Lư Xá Na ngồi trên đài hoa sen nói giới. Đài là nơi cao hiển. Tâm tánh chúng sanh là bông sen : a) Không dính bùn. b) Nhân quả đồng thời. Thế giới nương tâm tánh chúng sanh mà hiện cũng y theo tâm tánh chúng sanh mà trụ.

Kinh A Di Đà nói : Hoa sen vi diệu hương khiết. Dùng 2 đặc tính biểu thị giới thể tâm địa trước sau tịnh sạch, không bị một ác pháp nào huân nhiễm.

Trên 1000 cánh có 1000 ứng thân. Mỗi cánh sen có trăm ức cõi. Mỗi cõi một Thích Ca (hóa thân).

Nói theo danh từ hiện nay của nhân gian :

Một thái dương hệ là 1 tiểu thế giới.
1000 thái dương hệ là 1 tiểu thiên thế giới.
1000 tiểu thiên là 1 trung thiên thế giới.
1000 trung thiên là 1 đại thiên thế giới.
Mỗi cánh hoa trong kinh là 1 đại thiên thế giới.
Nay 1 ức = 10.000.000
Một cánh sen 100 ức = 1.000.000.000
1000 cánh sen có = 1.000.000.000.000 Thích Ca.

CAM LỒ MÔN KHAI

Có phước gặp diệu dược, tất cả bệnh tật sẽ tiêu trừ. Dù Phật tánh diệu giới là pháp chúng sanh sẵn đủ nhưng hoặc-nghiệp từ vô thủy ngăn che như cửa đóng chặt, chúng sanh không hề biết là mình có vô thượng pháp.

Ba đặc dụng : a) Nhiếp luật nghi giới, linh đơn trị liệu tất cả ác bệnh khiến được bình an. b) Nhiếp thiện pháp giới. Công đức pháp lành sung mãn sanh mạng. c) Nhiêu ích hữu tình giới. Chúng sanh đang bị khổ não bức ngặt được thanh lương mát mẻ.

Giới pháp này không phải lãnh thọ từ bên ngoài mà vốn sẵn có tại nội tâm. Ơn đức Lư Xá Na phát minh. Tâm địa diệu giới nơi mỗi chúng sanh được khai hiển.

THÍCH CA TRUYỀN LẠI

Phước tuệ viên mãn sẽ thành Phật quả là tánh chất trọng yếu của trì giới. Bậc tu hành giới đức trang nghiêm. Lòng người khát ngưỡng như ngửa lên được thấy mặt trời rực rỡ khiến cả khung cảnh trở thành quang sáng tưng bừng. Trì giới là nhân. Thành Phật là quả. Lực dụng của giới pháp đã đưa vi trần Bồ-tát lên lầu vô thượng giác.

Đức Lư Xá Na đã tụng 10 trọng 48 giới khinh. Đức Thích Ca Mâu Ni Phật cũng tụng như thế. Tân học Bồ-tát tất nhiên phải cung kính thọ trì, ba nghiệp nghiêm cẩn đâu dám xao lãng.

Đức Bổn Sư ân cần dạy nhắc : Chẳng những bản thân đỉnh đới phụng trì mà phải tận tình truyền bá khiến cho giới pháp lưu thông suốt đời vị lai vô tận.

KHUYẾN TÍN

Lắng tâm nghe kỹ để mà thâm nhập. 5 giới, 8 giới, 10 giới, 250 giới đều từ tâm địa diệu giới này lưu xuất để thâu nhiếp chúng sanh trở về bổn nguyên. Tin chắc giới này là chánh nhân thành Phật. Đúng pháp phụng trì, quyết định tương lai chứng quả Vô-thượng Bồ-đề. Tin chắc nghĩa là thật hiểu. Biết có tỏ rõ, lòng tin có xác thật mới niệm niệm hộ trì giới pháp, không dám mảy may hủy phạm.

Muốn củng cố tín tâm đại chúng, đức Thích Ca sách tấn : “Chớ tự khinh là phàm phu, không dám ước mong quả vị Phật. Ta là Phật đã thành vì đã trì giới. Bảo đảm các ông là Phật sẽ thành nếu các ông vâng thọ giới pháp”.

Nếu chỉ hiểu biết qua văn tự lời nói thì tuy có tin mà không chắc. Người tin chắc thì ý niệm lời nói hành động đều xứng với Phật tánh, tức là đúng với giới điều. Như thế giới phẩm hẳn trọn vẹn.

Quan hệ hoàn toàn ở sự tin chắc. Cũng như thợ lọc vàng sở dĩ chịu khó ngày đêm vất vả chỉ vì biết chắc chắn trong quặng có vàng. Nhưng cũng phải rõ phương pháp lọc vàng. Phương pháp này là Bồ-tát giới.

Cung biểu thị oai nghi nghiêm chỉnh bên ngoài. Kính là tâm ý kiền thành bên trong. Trong ngoài đồng khẩn thiết chí tâm thâm nhập diệu giới.

KẾT GIỚI TƯỚNG

Nương thể tánh thanh tịnh, đức Phật vạch đường đi thanh tịnh cho các Bồ-tát. Khác với Thanh-văn giới, ban đầu không có. Về sau, căn cứ theo nhân duyên phạm tội của các Tỳ-kheo, đức Phật mới tuần tự kết giới. Đây là tùy căn cơ, mỗi thời mỗi xứ khác nhau. Giới Bồ-tát thì ba đời mười phương như vậy. Vừa mới thành đạo, Phật liền chế định Bồ-tát đại giới, nêu cương lãnh của giới là Hiếu Thuận.

Không có cha mẹ, đâu có thân để hành đạo ; không có sư trưởng, ai người dẫn bước ; không ngôi Tam-bảo, nương tựa vào đâu ? Bất hiếu với cha mẹ, phản phúc thầy bạn, mất nghiệp hiếu thuận là không giới tướng, làm sao toàn vẹn giới thể. Hiếu thuận cha mẹ sư tăng Tam-bảo ngăn tất cả ác thế gian và xuất thế gian.

Có hiếu hạnh ắt chân thật giữ gìn giới pháp. Đúng pháp giữ giới là thành thật thực hiện hiếu đạo. Cho nên học giới, việc đầu tiên là hiếu thuận với cha mẹ sư tăng Tam-bảo. Hiếu là nhân thù thắng của muôn lành.

Thế gian cho xuất gia là đại bất hiếu. Đâu biết đức Thích Ca nhờ xuất gia mới có phước lên trời Đao Lợi thỉnh đức Địa Tạng độ cho mẫu hậu. Có xuất gia mới phát minh đạo lý Tứ Đếá để đưa vua cha Tịnh Phạn và kế mẫu Kiều Đàm Di lên đường xuất thế.

Vu Lan Bồn Sớ có câu :

Khể thủ tam giới chủ
Đại hiếu Thích Ca tôn
Lịch kiếp báo thâm ân
Tích nhân thành chánh giác.

Hiếu là nhân thành Phật thì bất hiếu hẳn đọa đường ác. Đức Bổn Sư thành đạo, việc đầu tiên là kết giới cho các Bồ-tát tu học. Lời trước hết là “Hiếu danh vi giới”.

Bổn phận làm con phải phụng dưỡng cha mẹ. Làm thế nào cho cha mẹ biết tin kính Tam-bảo, thọ trì Phật pháp, tiến tới giải thoát sanh tử.

Trí tuệ Phật thấy rõ từ vô thủy, trong vòng luân hồi, ta và chúng sanh đã từng làm cha mẹ lẫn nhau. Kinh Phạm Võng nhấn mạnh : Tất cả nam tử là cha ta, tất cả nữ nhân là mẹ ta. Tất cả bò bay máy cựa đều đã từng cùng chúng ta chia ngọt xẻ đắng trong những kiếp bổng chìm ở đường sanh tử. Cho nên văn kinh bàng bạc những khuyến dụ hiếu thuận, từ bi v.v…

Nhiếp luật nghi giới cấm tất cả ác mới hoàn thành đại hiếu. Sách Nho nói : “Giở chân không được quên ơn cha mẹ. Thốt lời chẳng dám bội nghĩa cù lao”. Thế nên lời ác không được ra khỏi miệng. Một hành vi xấu không được hình thành nơi thân. Tránh những phê bình sỉ nhục đến cha mẹ. Cho nên đối với tất cả chúng sanh không sát sanh, không trộm cắp v.v…

Đức Khổng Tử nói : “Lập thân nên danh giá đem vinh hiển cho cha mẹ”. Muốn thực hành bốn chữ quang tông diệu tổ của người Trung Hoa chỉ có cách y theo nhiếp thiện pháp giới của Bồ-tát, tận lực đem hết khả năng lợi ích nhân quần xã hội, một lòng hy sinh tư lợi vì người.

Tự chính bản thân để thực hiện hai chữ hiếu thảo còn cần khổ miệng hết lòng khiển trách răn đe những ai ăn ở ngỗ nghịch với cha mẹ. Lực dụng tối đại của nhiếp chúng sanh giới chính là đưa tất cả vào Phật đạo.

Đã giải thích câu “hiếu danh vi giới”. Nay giải câu “diệc danh chế chỉ”. Chế : quy định ra, minh định những pháp lành phải thực hiện. Chỉ : ngăn tất cả ác.

Pháp chế : tác trì : phóng sanh, bố thí v.v….
Cấm chỉ : chỉ trì : sát sanh, trộm cắp v.v….

Bài kệ : “Đừng làm việc ác, vâng làm điều lành. Tự tịnh tâm ý. Đây lời Phật dạy”. Giải thích rất đúng hai chữ chế chỉ trong Bồ-tát giới.

Hiếu đạo nhà Phật siêu vượt và rộng rãi hơn thế gian. Vì hướng về Vô-thượng Bồ-đề, khiến cho cha mẹ lìa khổ hoàn toàn, hưởng vui vĩnh viễn, suốt đời vị lai.

SẮP TUYÊN GIỚI PHÁP

Vô lượng quang minh biểu hiện điềm lành từ miệng Phật phóng ra. Có lời nói với các Bồ-tát : “Ngày bố tát vô cùng trọng yếu”. Để các Bồ-tát tự cảnh giác, không đến nỗi phạm giới mà không tự biết.

Trong Luật Thiện Kiến, đức Phật hỏi : Làm thế nào để chánh pháp cửu trụ ? Đức Phật tự đáp : Không hoại pháp bố tát.

Chẳng những sơ phát tâm Bồ-tát mà tam hiền thập thánh, lòng tin đã kiên cố, giới hạnh đã viên thành, đều phải tụng giới. Đây là quy luật quyết định cho những ai đã thọ Bồ-tát giới.

Đức Phật có viên âm nên gần xa thánh chúng đủ loài đều nghe hiểu. Tia sáng biểu tượng giới thể bình đẳng thanh tịnh. Phật đã tự chứng nên miệng phóng quang. Phật tử thọ trì học kỹ. Mai đây chứng được giới thể này thì cũng được như thế. Biếng nhác không nghiêm cẩn nghe học là tự thiệt thòi.

Đọc tiếp: III. XÁ NA TRAO GIỚI →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *