KINH CHÚ TÂM TỈNH GIÁC

Sống tỉnh giác không phải là tìm kiếm phép màu xa xôi, mà là hành trình thắp sáng hiện tại để nhận diện rõ ràng những gì đang diễn ra nơi thân và tâm. Khi tâm ta không còn đuổi theo quá khứ hay vọng tưởng tương lai, ánh sáng chánh niệm sẽ tự nhiên tháo gỡ mọi nút thắt của phiền não và si mê, chuyển hóa khổ đau thành sự an nhiên tự tại. Việc trì tụng hay tu tập, vì thế, chính là phương cách để đánh thức vị Phật trong chính mình, giúp ta giữ vững tâm thanh tịnh và chạm tay vào hạnh phúc đích thực ngay giữa những biến động của thế gian.

—— Trích đoạn KINH CHÚ TÂM TỈNH GIÁC

 

Giới thiệu chung

Tác phẩm này là một bản dịch hiện đại và mang tính ứng dụng cao của một trong những bài pháp thoại quan trọng nhất thuộc truyền thống Phật giáo Nguyên thủy, đóng vai trò như nền tảng cốt lõi của toàn bộ hệ thống thiền Minh sát (Vipassana). Về mặt nội dung, bản văn trình bày một cách cặn kẽ và khoa học phương pháp thiết lập sự nhận thức trọn vẹn và liên tục trên bốn lĩnh vực của sự sinh tồn: thân xác, cảm thọ, tâm trí và các đối tượng của tâm. Thay vì hướng người đọc đến những triết lý trừu tượng hay cõi giới xa xăm, tác phẩm tập trung mũi nhọn vào việc khám phá thực tại ngay tại đây và bây giờ, thông qua sự quan sát khách quan mọi chuyển động nhỏ nhất của nội tâm và ngoại cảnh. Thông điệp trung tâm khẳng định rằng chính sự tỉnh thức không phán xét này là con đường độc nhất và trực tiếp nhất để thanh lọc tâm trí, vượt qua sầu bi và diệt trừ tận gốc rễ mọi khổ đau. Việc nghiên cứu và thực hành theo những hướng dẫn trong bản văn không chỉ là bước ngoặt quyết định cho những ai đang tìm kiếm sự giác ngộ tâm linh, mà còn mang lại lợi ích thiết thực to lớn trong việc giảm căng thẳng, chữa lành tâm lý và nâng cao chất lượng cuộc sống cho con người trong xã hội hiện đại.

Mục lục

Phần mở đầu

Lời giới thiệu của Nhà Xuất Bản

“Kinh Chú Tâm Tỉnh Giác” là một trong hai bài kinh căn bản mà Đức Phật đã nêu lên một phép luyện tập vô cùng thiết thực, cụ thể và trực tiếp về thiền định, đó là phép thiền định  chú tâm thật tỉnh giác và thật mạnh vào bốn lãnh vực thân xác, cảm giác, tâm thức và các hiện tượng tâm thần từ bên trong chúng.

Kinh sách Hán ngữ thường gọi là “Minh Sát Tuệ“. Bài kinh kia khá tương tự với bài kinh này là “Kinh Chú Tâm Vào Hơi Thở” đã được xuất bản trước đây.

Bản kinh này được dịch giả Hoang Phong chuyển ngữ từ kinh Satipatthana Sutta (Majjhima Nikaya/Trung Bộ Kinh, MN 10). Nhưng chủ yếu được dựa vào bản dịch tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu một nhà sư người Mỹ rất uyên bác, có một lối dịch thật trong sáng, minh bạch và chính xác. Chúng tôi đính kèm trong phần phụ lục.

Trước đây bài kinh này đã được dịch sang tiếng Việt bởi Hòa Thượng Thích Minh Châu trong Đại Tạng Kinh (Trung Bộ Kinh) với tựa là “Kinh Niệm Xứ” và một bản dịch Việt khác được dịch bởi thiền sư Thích Nhất Hạnh là “Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm “.

Phép thiền định trong bài kinh này, theo dịch giả cho biết là “hết sức đơn giản, chỉ cần ngồi xuống trong yên lặng, phát huy sự tỉnh táo giúp mình tìm về với chính mình, sống với những gì thật sự là mình, từ thân xác, các cảm giác, tâm thức cho đến những gì hiện lên bên trong cái tâm thức ấy của mình”. Đây là Con Đường trực tiếp và ngắn nhất “giúp chúng ta tìm về với chính mình, với thân xác bên trong thân xác mình, với các cảm giác bên trong các cảm giác mình, với tâm thức bên trong tâm thức mình, với các hiện tượng tâm thần bên trong các hiện tượng tâm thần hiện lên bên trong tâm thức mình. Sự trở về đó sẽ làm bùng lên sự “sáng ngời” của tâm thức, giúp nó không những trông thấy một Vị Phật đang mỉm cười trước mặt nó mà cả một Vị Phật đang hiện hữu bên trong chính nó.”

Dịch giả Hoang Phong là một nhà khoa học nên cái nhìn về Phật giáo của ông ảnh hưởng bởi các khía cạnh khoa học hơn là tín ngưỡng đơn thuần. Ước mong bản dịch này với phần ghi chú cẩn trọng có thể đóng góp một chút gì mới mẻ hơn trong việc tìm hiểu một bài kinh thật căn bản và chủ yếu về phép thiền định hướng sự tỉnh giácvào bốn lãnh vực chú tâm.

Tâm Diệu | Nhà xuất bản Ananda Viet Foundation.

 

VỀ DỊCH GIẢ

Dịch giả Nguyễn Đức Tiến, bút hiệu: Hoang Phong, sinh năm 1939, Tiến sĩ Khoa học, tốt nghiệp đại học Khoa học Sài Gòn, đại học Oslo – Na-uy, đại học Paris-Sud, tại các đại học này ông đều có một số bài khảo cứu viết riêng hoặc viết chung với các khoa học gia khác. Ông là cựu Giảng sư Đại học Khoa Học Saigon, cựu giáo sư thỉnh giảng đại học Cần Thơ, đại học Đà Lạt, cựu Địa chất gia và Kỹ sư tầm khảo công ty dầu khí TOTAL, và cũng là thành viên của Hội Thiền Học Quốc tế AZI (Association Zen Internationale). Ông về hưu năm 1999, và hiện định cư tại Pháp quốc.

Trong những năm gần đây, ông đã dành toàn thời gian, công sức nghiên cứu và chuyển ngữ kinh sách Phật giáo của các vị cao tăng Phật giáo Tây Tạng, góp phần hoằng dương Phật pháp, mang lại lợi ích cho chúng sinh.

LỜI GIỚI THIỆU CỦA NGƯỜI DỊCH

Satipatthana Sutta là một bản kinh quan trọng làm nền tảng cho một phép thiền định chủ yếu trong Phật giáo là Vipassana, nghĩa từ chương là “Sự quán thấy chuyên biệt” hay “sâu sắc”, kinh sách Hán ngữ gọi là “Minh Tuệ” hay “Minh sát tuệ”. Tuy với ít nhiều khác biệt trên phương diện ứng dụng và thực hành, nhưng phép luyện tập này luôn là căn bản của hầu hết các tông phái và học phái Phật giáo.  

Do đó kinh Satipatthana Sutta (Majjhima Nikaya/Trung Bộ Kinh, MN 10) là một trong các bản kinh được đặc biệt quan tâm và dịch ra nhiều thứ tiếng, với khá nhiều phiên bản tiếng Việt khác nhau. Như vậy thì có thêm một bản dịch đề nghị dưới đây có khác gì đẩy một cánh cửa đã mở hay chăng? Thắc mắc này thật hết sức chính đáng, thế nhưng sự kiện có rất nhiều bản dịch khác nhau tự nó cũng đã nói lên một cái gì đó chưa được hoàn hảo, cần phải tìm hiểu và bổ khuyết thêm chăng?

Đức Phật thuyết giảng cách nay đã 2500 năm, và sau khi Ngài tịch diệt thì các môn đệ họp nhau và nhớ lại những lời thuyết giảng trước đây của vị Thầy mình để truyền khẩu cho nhau, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phải đến 500 năm sau đó thì các lời truyền khẩu này mới bắt đầu được ghi chép trên các tờ lá bối, và từ đó đến nay lại thêm 2000 năm sao chép và dịch thuật! Được chuyển tải bằng các các ngôn ngữ khác nhau, ảnh hưởng bởi cá tính, khả năng và sự hiểu biết đa dạng của con người, xuyên qua không gian và thời gian, xuyên qua các nền văn minh và văn hóa, phải chăng những lời giáo huấn đó của Đức Phật cũng đã phải chịu ít nhiều sai sót? Dầu sao thì nền Giáo Huấn tuyệt vời đó vẫn còn lưu giữ được đến ngày nay với tất cả sự trong sáng, sâu sắc và siêu việt, và được quảng bá khắp nơi trên thế giới, không những đã nói lên một sự cố gắng phi thường của người xưa mà còn cho thấy cả một gia tài hiểu biết vô song của nhân loại. Bổn phận của chúng ta hôm nay là phải bảo vệ và giữ gìn gia tài đó luôn được tinh khiết hầu lưu lại cho các thế hệ mai sau. 

Sau 2500 năm phát triển và lưu truyền, những sự sai sót trong Giáo Huấn của Đức Phật dù có xảy ra đi nữa, thì cũng hết sức khó để kiểm chứng một cách cụ thể. Vì thế nếu không thể xác định được các sự sai lệch theo chiều sâu tức là ngược về quá khứ, thì chúng ta hãy thử nhìn vào hiện tại tức là thu ngắn 2500 năm lịch sử Phật giáo thành 100 năm của thế hệ chúng ta ngày nay, để tìm hiểu xem có những sự lệch lạc nào xảy ra theo chiều rộng hay không? Thiết nghĩ đó cũng là một cách tương đối cụ thể nhất hầu mang lại cho chúng ta một ý niệm nào đó về những sự sai sót có thể đã xảy ra trong quá khứ.

Nhằm vào cố gắng trên đây khoảng hơn ba mươi bản dịch, sách và các bài bình giải bản kinh Satipatthana Sutta bằng các tiếng Anh, Pháp và Việt đã được tham khảo và đối chiếu. Thật hết sức bất ngờ, công việc này đã cho thấy một số dị biệt giữa các tư liệu này. Riêng đối với các bản Việt dịch thì một sự kiện nổi bật là tất cả đều chịu ảnh hưởng nặng nề của Hán ngữ qua các cách vay mượn và sử dụng các thuật ngữ vừa lỗi thời vừa thiếu chính xác trong Phật giáo Hán ngữ, dù rằng một số các bản dịch này được trực tiếp dựa vào các bản gốc bằng tiếng Pa-li hay tiếng Anh. Ảnh hưởng Hán ngữ này đã khiến các bản dịch – dù được gọi là Việt dịch – nhưng thật ra là đầy các thuật ngữ tiếng Hán, lại càng khó hiểu cho một số người.

Một số các dị biệt giữa các bản dịch tham khảo và nhất là ảnh hưởng Hán ngữ trong các bản Việt dịch sẽ được phân tích và nêu lên trong phần ghi chú dưới đây. Dầu sao cũng phải thú nhận rằng bản dịch đề nghị dưới đây cũng chỉ là một sự cố gắng gần như liều lĩnh, với hy vọng có thể góp phần, dù chỉ là nhỏ nhoi, vào việc tìm hiểu thêm về bài kinh quan trọng này. 

Thật ra bản dịch này chủ yếu được dựa vào bản dịch tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu một nhà sư người Mỹ rất uyên bác, có một lối dịch thật trong sáng, minh bạch và chính xác. Ngoài ra nguyên bản bằng tiếng Pa-li trong Kinh Tạng thường có nhiều đoạn hoặc nhiều câu lập đi lập lại, mỗi lần chỉ thay đổi một chữ hay một ý, đó là cách giúp dễ nhớ và dễ học thuộc lòng. Cách lập đi lập lại này thì ngày nay không còn cần thiết nữa, do đó các bản dịch nói chung thường được rút ngắn bằng cách cắt bớt một số đoạn hay câu mang tính cách lập đi lập lại để tránh dài dòng và nhàm chán. Tuy nhiên trong bản dịch đề nghị dưới đây, trong một vài trường hợp cách lập đi lập lại cũng sẽ được giữ nguyên, bởi vì đôi khi sự lập đi lập lại đó cũng là một cách nhấn mạnh ý nghĩa và nội dung của một câu hay một đoạn kinh. Ngoài ra một vài lời ghi chú và giải thích cũng sẽ được ghép thêm vào bản dịch, và được trình bày bằng chữ nghiêng lồng trong hai dấu ngoặc đơn, với hy vọng có thể giúp người đọc theo dõi bản dịch được dễ dàng hơn chăng?

Sau hết trong phần ghi chú dưới đây một số nhận xét về vấn đề dịch thuật nói chung cũng sẽ được nêu lên cùng với một vài đề nghị nhằm lưu ý tất cả chúng ta về ý thức trách nhiệm của mình đối với việc bảo tồn và quảng bá Giáo Huấn của Đức Phật

1. BÀI KINH VỀ SỰ CHÚ TÂM TỈNH GIÁC

Tôi từng được nghe như vầy:
Thời bấy giờ Đấng Thế Tôn đang ở trong xứ của người Kuru, nơi thị trấn Kammassadhamma. Vào dịp này Đấng Thế Tôn đưa ra những lời thuyết giảng như sau:
– Này các tỳ-kheo!
Các tỳ-kheo vâng dạ và Đấng Thế Tôn nói tiếp:

“Đây là con đường trực tiếp mang lại sự tinh khiết hóa cho chúng sinh, giúp chúng sinh vượt lên trên mọi lo buồn và ta thán, xóa bỏ mọi đớn đau và khổ nhọc, hầu khám phá ra phương pháp hữu hiệu mang lại sự Giải Thoát cho mình – nói một cách khác thì đấy là một phép luyện tập gồm có bốn lãnh vực. Vậy bốn lãnh vực ấy là gì?

1- “Đấy là trường hợp khi người tỳ-kheo biết hướng sự chú tâm vào thân xác bên trong thân xác (kaya/thân xác vật chất), với tất cả sự hăng say, tỉnh táo và sáng suốt, gác sang một bên mọi sự bám víu và lo buồn của thế tục.

2- “Đấy là trường hợp khi người tỳ-kheo hướng sự chú tâm vào các cảm giác (vedana/các cảm giác hay cảm nhận phát sinh từ các giác quan) bên trong các cảm giác, với tất cả sự hăng say, tỉnh táo và sáng suốt, gác sang một bên mọi sự bám víu và lo buồn của thế tục.

3- “Đấy là trường hợp người tỳ-kheo hướng sự chú tâm vào tâm thức (citta/tâm thần, nội tâm) bên trong tâm thức, với tất cả sự hăng say, tỉnh táo và sáng suốt, gác sang một bên mọi sự bám víu và lo buồn của thế tục (trở về với tâm thức mình hầu ý thức được sự vận hành của nó và nhận biết được bản chất của nó).

4- “Đấy là trường hợp người tỳ kheo hướng sự chú tâm vào các hiện tượng tâm thần bên trong các hiện tượng tâm thần (dhamma/trong trường hợp này có nghĩa là các hiện tượng hay các sự tạo tác của tâm thức hiện lên bên trong tâm thức), với tất cả
sự hăng say, tỉnh táo và sáng suốt, gác sang một bên mọi sự bám víu và lo buồn của thế tục.

(Xin lưu ý các cách diễn đạt: “thân xác bên trong thân xác”, “cảm giác bên trong cảm
giác”, “tâm thức bên trong tâm thức”, “các hiện tượng tâm thần bên trong các hiện
tượng tâm thần” là nhằm nhấn mạnh sự kiện hướng thẳng sự chú tâm thật vững
chắc vào các đối tượng này, không để cho nó bị xao lãng, và đây cũng là mấu chốt của toàn bộ bài kinh)

A- Chú tâm vào Thân Xác (Kayanupassana)

“Vậy người tỳ-kheo phải làm thế nào để chú tâm vào thân xác bên trong thân xác?
1- Thiền định hướng vào hơi thở (Anapanasati)

“Đấy là trường hợp người tỳ-kheo tìm vào một khu rừng, dưới bóng cây, hay một túp
lều hoang phế, tréo chân ngồi xuống, giữ lưng thật thẳng, phát huy sự chú tâm hướng vào trước mặt (nguyên văn trong tiếng Pa-li là “trước ngực”, có thể hiểu là không nhìn vào bất cứ gì thuộc môi trường chung quanh mà chỉ tập trung sự chú tâm vào trước mặt mình trước khi hướng nó vào bên trong chính mình). Người tỳ-kheo luôn giữ sự chú tâm thật tỉnh giác mỗi khi hít vào, luôn giữ sự chú tâm thật tỉnh giác mỗi khi thở ra.

“Mỗi khi hít vào dài thì người tỳ-kheo ý thức được: ‘Tôi hít vào dài’; mỗi khi thở ra dài
thì ý thứcđược: ‘Tôi thở ra dài’. Mỗi khi hít vào ngắn thì người tỳ-kheo ý thực được: “Tôi hít vào ngắn”; mỗi khi thở ra ngắn thì ý thức được: ‘Tôi thở ra ngắn’. Người tỳkheo sở dĩ luyện tập như thế là để ý thức được: ‘Tôi hít vào qua sự cảm nhận của toàn thân thể tôi’. Người tỳ-kheo sở dĩ luyện tập như thế là để ý thức được: ‘Tôi thở ra qua sự cảm nhận của toàn thân thể tôi’. Người tỳkheo sở dĩ luyện tập như thế là để ý thức được: ‘Tôi hít vào nhằm làm lắng xuống các sự tạo tác (bodily fabrications/các sự cảm nhận phát sinh trên thân thể làm cho mình bị phân tâm) trên toàn thân thể tôi’. Nguời tỳkheo sở dĩ luyện tập như thế là để ý thức được: “Tôi thở ra nhằm làm lắng xuống các sự tạo tác trên toàn thân thể tôi”.

“Tất cả cũng tương tự như một người thợ đồ gốm rành nghề hay một người thợ phụ khéo léo, mỗi khi quay mạnh chiếc bàn quay thì ý thức được: ‘Tôi quay mạnh’, hoặc khi quay nhẹ thì ý thức được: ‘Tôi quay nhẹ’. Cũng thế, người tỳ-kheo hít vào dài thì ý thức được: “Tôi hít vào dài”, hoặc thở ra dài thì ý thức được: ‘Tôi thở ra dài’… Nguời tỳkheo sở dĩ luyện tập như thế là để ý thức được: “Tôi hít vào là nhằm làm cho các sự tạo tác trên toàn thân thể lắng xuống’. Người tỳ-kheo sở dĩ luyện tập như thế là để ý thức được: ‘Tôi thở ra là nhằm làm cho các sự tạo tác trên toàn thân thể lắng xuống’ (chú tâm vào hơi thở để nhận biết là dài hay ngắn là cách xóa mờ đi các cảm nhận khác. Người thợ rành nghề biểu trưng cho người hành thiền kinh nghiệm, người thợ phụ còn đang học nghề là người hành thiền mới bắt đầu luyện tập, cả hai đều có thể thực hiện được sự chú tâm. Người thợ đồ gốm thì chú tâm vào tốc độ của bàn quay, người hành thiền thì chú tâm vào hơi thở dài hay ngắn).

2- Thiền định hướng vào thân
xác (Kayagata)

“Đấy là cách mà người tỳ-kheo chú tâm hướng vào thân xác bên trong thân xác (bên trong thân xác là ruột gan, phèo phổi…), hoặc những gì bên ngoài thân xác nhưng cũng thuộc vào thân xác (bên ngoài thân xác là hình tướng, các động tác..), hoặc cả hai: bên trong và cả bên ngoài thân xác nhưng vẫn thuộc vào thân xác bên trong thân
xác. Hoặc người tỳ-kheo cũng có thể chú tâm vào các hiện tượng phát sinh liên quan đến thân xác và các hiện tượng tan biến liên quan đến thân xác, hoặc cả hai tức vừa là các hiện tượng phát sinh vừa là các hiện tượng tan biến liên quan đến thân xác (lúc thì hướng sự chú tâm vào những gì bên trong thân xác – ruột gan phèo phổi… – hoặc các hiện tượng bên ngoài thân xác – to béo, thấp lùn, co chân, duỗi tay… – nhưng tất cả các hiện tượng này đều là thân xác, thuộc vào thân xác; hoặc lúc thì hướng sự chú tâm vào các hiện tượng phát sinh và tan biến bên trong thân xác – sự co thắt của ruột và bao tử chẳng hạn – và cả các hiện tượng phát sinh và tan biến bên ngoài thân xác – các động tác chẳng hạn – nhưng cũng thuộc vào thân xác). Hoặc người tỳ-kheo tiếp tục duy trì sự chú tâm thật tỉnh giác là: ‘Có một thân xác’, cho đến khi nào ý thức và ghi nhận được điều đó (tức là nhận biết được sự “hiện hữu” của “một” thân xác. Chữ “có” trong câu “Có một thân xác” mang ý nghĩa rất tinh tế và sâu sắc – trong nguyên bản tiếng Anh là “There is a body”, trong nguyên bản tiếng Pháp là “Il y a un corps” – có nghĩa là người hành thiền qua từng hơi thở vào ra cảm nhận được là quả đúng “có” một thân xác đang hô hấp, nhưng không liên tưởng đến ý nghĩ cho rằng thân xác ấy là “mình” hay “của mình”, và “mình” thì là người đang thở). Và người tỳkheo luôn giữ được sự tự do (trên phương diện thân xác), không dựa vào (liên tưởng, nắm bắt hay căn cứ vào) bất cứ gì trong thế giới (chẳng hạn như không nghĩ đến “cái tôi”, cái “của tôi” hay các đặc tính của thân xác

Đọc tiếp: A- Chú tâm vào Thân Xác (Kayanupassana) →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *