Đệ tử chúng con, Hạnh Cơ và Tịnh Kiên, chí thành đảnh lễ
Chư Tôn Đức Ân Sư:
Hòa thượng bổn sư Thích Huyền Tân
Hòa thượng giáo thọ Thích Đôn Hậu
Hòa thượng giáo thọ Thích Chánh Thống
Hòa thượng giáo thọ Thích Trí Thủ
Hòa thượng giáo thọ Thích Trí Hữu
Hòa thượng giáo thọ Thích Trí Thành
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Hòa
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Hoa
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Minh
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Siêu
Hòa thượng giáo thọ Thích Như Ý (Trà-am)
Hòa thượng giáo thọ Thích Viên Giác
Hòa thượng giáo thọ Thích Huyền Quang
Hòa thượng giáo dưỡng Thích Chí Tín
Hòa thượng giáo thọ Thích Huyền Vi
Hòa thượng giáo thọ Thích Định Tuệ
Hòa thượng giáo thọ Thích Thuyền Ấn
Hòa thượng giáo đạo Thích Đỗng Minh
Ni trưởng bổn sư Thích Nữ Đàm Thu
Kinh Ma Ha Ma Da thuộc hệ thống kinh Niết Bàn, do sa-môn Thích Đàm Cảnh, người Trung-hoa, dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502), được thu vào tạng Đại Chánh, quyển 12, mang số 383, trang 1005-1014.
Nội dung kinh này gồm có bốn phần: Phần một ghi lại việc đức Phật lên cung trời Đao-lợi nói pháp hóa độ cho thánh mẫu Ma Ha Ma Da chứng được Sơ-quả Tu-đà-hoàn, cùng những bài pháp do chính thánh mẫu nói ra trước đại chúng. Phần hai ghi lại việc đức Phật từ cung trời Đao-lợi trở về tinh xá Kì-viên và du hành qua các nước để hóa độ chúng sinh; cuối cùng thì đến rừng Ta-la-song-thọ ở ngoại ô thành Câu-thi-na để nhập niết-bàn. Phần ba ghi lại việc thánh mẫu Ma Ha Ma Da từ cõi trời Đao-lợi xuống đến nơi đặt kim quan của đức Phật, buồn khóc thảm thiết, đức Phật tự mở kim quan ngồi dậy, nói pháp an ủi thánh mẫu, rồi nói lời từ biệt cuối cùng. Phần bốn, tôn giả A Nan thuật lại lời Phật dạy thuở trước liên quan đến tình hình trụ thế và hoại diệt của chánh pháp từ sau khi Ngài nhập diệt.
Nay chúng tôi xin dựa theo bản Hán dịch “Ma Ha Ma Da Kinh” của đại sư Thích Đàm Cảnh mà chuyển dịch ra Việt văn, mong được góp thêm một tài liệu quí giá vào việc tu học của Phật tử Việt-nam. Vì khả năng còn rất hạn hẹp, cho nên chúng tôi không tránh khỏi có điều sai sót, rất mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh.
Việc dịch kinh này ra tiếng Việt, nếu có được chút ít phước đức nào, xin thành tâm nguyện đem hồi hướng cho chúng sinh, tăng trưởng lòng tin thanh tịnh, nuôi lớn tâm bồ-đề, phát triển trí tuệ, tiêu trừ tà kiến, gieo trồng các căn lành, sớm thành tựu đạo quả Niết-bàn.
Nhất tâm kính lễ Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.
Nhất tâm kính lễ tôn giả Khải Giáo A Nan Đà.
Cung kính giới thiệu,
Miền Tây Canada, mùa An Cư năm 2018
Cư sĩ Hạnh Cơ
Đây là những điều chính tôi được nghe:
Thuở đó đức Phật đang an cư ba tháng tại gốc cây ba-lợi-chất-đa, trong vườn Hoan-hỉ ở cõi trời Đao-lợi(2). Cùng an cư với đức Phật, có đông đủ chúng đại tì-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị, cùng với vô lượng trăm ngàn các chúng trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và chẳng phải người; ngoài ra còn có vô số chúng tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cùng ở chung quanh đức Phật.
Lúc bấy giờ đức Phật ngồi trong tư thế hoa sen, từ các lỗ chân lông trên khắp thân mình, phóng ra ngàn luồng ánh sáng, chiếu soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Trong mỗi luồng ánh sáng ấy lại có ngàn hoa sen; trên mỗi hoa sen có ngàn đức hóa Phật, đều ngồi trong tư thế hoa sen, giống như đức Thích Ca Mâu Ni. Lúc ấy, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các tinh tú đều không tự hiện rõ được, mà đều hòa nhập vào ánh sáng của đức Phật, làm cho khắp thân cây ba-lợi-chất-đa trở thành màu vàng ròng. Giống như bầu trời hoàn toàn trong suốt, không gợn tí mây, làm cho ánh sáng mặt trời mặt trăng chiếu rõ cùng cực; ánh sáng phóng ra từ thân của đức Phật tại cung trời Đao-lợi lúc bấy giờ cũng giống như vậy, mà còn sáng rỡ bội phần, không thể lấy gì để thí dụ được! Các vị thiên tử ở mặt trời, mặt trăng và các tinh tú, trông thấy hiện tượng ấy thì không biết có chuyện gì xảy ra, tâm ý vô cùng sợ sệt, bồn chồn, bất an.
Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:
“Ông hãy đến chỗ mẹ của Như Lai, thưa với bà rằng, Như Lai đang ở tại đây, xin bà tạm khởi thân, đến kính lễ Ba Ngôi Báu. Ông hãy đem bài kệ này đến đọc cho bà nghe!”
Đức Phật liền nói bài kệ rằng:
“Đức Đạo Sư Thích Ca
Thành tựu nhất thiết trí
Ở cõi Diêm-phù-đề
Như vị trời ngàn mắt
Từ lâu lòng khát ngưỡng
Mong được thấy từ nhan
Vốn xưa trong cung vua
Sinh con vừa bảy ngày
Lìa trần sinh thiên giới
Nhờ di mẫu dưỡng nuôi
Đến khi thành Chánh Giác
Ứng cúng độ chúng sinh
Hôm nay đến nơi này
Nói pháp báo ân xưa
Xin mẹ cùng quyến thuộc
Khởi thân đến nơi này
Kính lễ Phật Pháp Tăng
Lãnh thọ pháp chân tịnh”
Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi vâng lãnh lời dạy của đức Phật, đi ngay đến chỗ đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da, đem lời thỉnh cầu của đức Phật bạch lên, và tụng lại bài kệ đức Phật đã nói. Đức thánh mẫu vừa nghe những lời ấy xong, bỗng có những giọt sữa từ ngực bà tự chảy ra, và bà nói rằng:
“Nếu quả thật vị đó chính là Tất Đạt Đa do tôi sinh ra, thì xin nguyện cho những giọt sữa này rơi vào miệng của Người.”
Đức Ma Ha Ma Da vừa nói lời ấy xong, những giọt sữa ấy, trông như những hoa sen trắng, bay thẳng đến, rơi vào miệng của đức Phật. Đức thánh mẫu trông thấy sự việc như vậy thì vui mừng hớn hở, sắc mặt tươi như đóa sen ngàn cánh vừa mới nở. Ngay lúc đó, ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động, muôn loại hoa đẹp chưa tới lúc nở mà đều nở rộ, ngàn loại trái ngon chưa đến lúc chín mà đều chín muồi. Đức thánh mẫu liền nói với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:
“Từ ngày được cùng với Phật kết làm mẹ con đến nay, tôi chưa từng có lúc được hoan hỉ an lạc như hôm nay. Ví như có người đói khát đau khổ cùng cực, bỗng có được bữa ăn ngon thì vui mừng không kể xiết, niềm vui của tôi hôm nay cũng giống như vậy; ngoài niềm vui ấy ra, không còn có bất cứ một niệm tưởng tạp loạn nào khác!”
Đức thánh mẫu nói lời ấy rồi, liền cùng với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi đi đến chỗ Phật.
Lúc bấy giờ, đức Phật thấy mẹ từ xa đến, lòng tràn đầy hân hoan, tôn kính. Toàn thân Ngài dao động, như tướng rung động của núi chúa Tu-di và bốn biển lớn. Khi thấy mẹ đã đến trước mặt, đức Phật bèn dùng Phạm âm(3) mà thưa với bà rằng:
“Mẹ đã từng đi qua nhiều nơi, khổ vui đều trải đủ. Nay xin mẹ tu tập đạo niết-bàn, vĩnh viễn xa lìa mọi khổ vui.”
Đức Ma Ha Ma Da nghe Phật nói thế, liền chắp tay cúi đầu, một lòng suy nghĩ. Bà quì trước Phật, rồi năm vóc gieo xuống đất, chuyên tâm chánh niệm, bao nhiêu dây trói buộc đều tiêu trừ. Đức thánh mẫu bèn nói bài kệ xưng tán đức Phật rằng:
“Đức Thế Tôn từ vô số kiếp
Đã từng uống sữa từ thân con
Xa lìa nỗi khổ sinh già chết
Thành tựu đạo Bồ-đề vô thượng
Nay Ngài báo đáp ơn sinh dưỡng
Khiến con dứt trừ ba nọc độc
Kính lạy đấng Đại Trượng Phu
Bậc không tham, hay bố thí
Kính lạy Điều Ngự, Vô Thượng Sĩ
Bậc tối tôn, không ai bằng
Kính lạy Đạo Sư của trời người
Vĩnh viễn dứt trừ dây si ái
Con nguyện suốt ngày đêm sáu thời
Niệm tưởng Thế Tôn không gián đoạn
Đầu mặt sát đất xin đảnh lễ
Đấng Đại Pháp Vương Vô Thượng Tôn
Duyên may nay gặp phước điền Phật
Con nguyện gieo trồng giống công đức
Cúi xin Ngài từ bi giúp sức
Khiến hạt giống kết thành hoa trái
Ngài từ lâu vốn có đại chí
Cho nên đã sinh vào cung vua
Toàn thân ngời sắc màu vàng ròng
Ánh sáng chiếu soi khắp mười phương
Diện mạo thật tròn đầy thanh tịnh
Giống như mặt trăng Rằm mùa Thu”
Lúc bấy giờ, đức Phật thưa với mẹ rằng:
“Xin mẹ lắng nghe và suy nghĩ thật chín chắn. Giáo pháp này, ở phần đầu, phần giữa và phần cuối, nghĩa lí thật sâu xa, ngôn từ thật tinh diệu, hoàn toàn thuần nhất, không hỗn tạp; đầy đủ tướng phạm hạnh thanh khiết.”
Đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da nghe lời nói ấy rồi, nhờ thần lực của Phật, bà biết rõ túc mạng của mình, và do căn lành của bà lúc bấy giờ đã thuần thục, bà liền phá trừ được tám mươi ức các loại phiền não, chứng quả Tu-đà-hoàn. Bà chắp tay bạch Phật rằng:
“Con từ trong lao ngục sinh tử đã chứng được quả giải thoát.”
Cả chúng hội nghe đức thánh mẫu nói như vậy, đồng thanh nói rằng:
“Xin nguyện cho tất cả chúng sinh đều được giải thoát, như thánh mẫu Ma Ha Ma Da hiện tại!”
Bấy giờ, đức Ma Ha Ma Da bạch Phật rằng:
“Ví như đống lửa mạnh đang đốt thanh sắt nóng, nếu ai đụng vào đó thì thân tâm tan nát. Biển sinh tử ở thế gian cũng giống như vậy, những chỗ tới lui đều là đau khổ tích tụ; mà nguồn gốc của khổ đau chính là do tâm ý. Tâm ý đuổi theo dục vọng mà sai sử chúng sinh, luân chuyển trong năm nẻo đường(4) nhanh như gió mạnh, như đánh cầu.”
Ở trước đức Phật, đức thánh mẫu lại tự trách tâm ý của mình rằng:
“Ngươi vì sao thường làm những điều không lợi ích? Ngươi luôn dạo chơi khắp sáu trần cảnh(5) mà không chịu ở yên; bao nhiêu ý tưởng tạp loạn loay hoay không phút nào ngưng nghỉ; những điều suy nghĩ đều không tốt đẹp. Tại sao ngươi chứa nhóm những điều xấu xa kia để mê hoặc ta? Ví như có người cuốc đất, đất thì không bao giờ tiêu mất, mà lưỡi cuốc thì cứ mỗi ngày mỗi cùn đi. Ở trong biển sinh tử cũng như thế, thân mạng bỏ đi không thể đếm xuể, mà thần thức của ta thì vẫn không tăng không giảm. Ngươi có thể khiến ta làm bậc chuyển luân thánh vương, có đầy đủ bảy món báu, thống trị cả bốn châu thiên hạ; phút chốc lại khiến ta trụt xuống làm loài ếch nhái; phút chốc lại kiến ta làm người nghèo khổ, chạy Đông chạy Tây để cầu xin cơm áo; phút chốc lại khiến ta làm ông trưởng giả giàu sang tột bậc, ai cũng biết danh; phút chốc lại khiến ta trú tại cung trời, ăn uống toàn vị cam lồ, thụ hưởng năm dục(6) thỏa thích; phút chốc lại khiến ta đọa vào địa ngục, uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng. Ta trong nhiều đời quá khứ từng mang thân trâu ngựa, da chất đống cao như núi Tu-di, ở mãi trong biển sinh tử, chưa được giải thoát; bỗng chốc lại được vô số tên gọi: nào là đại gia, nào là đầy tớ, hoặc là chuyển luân thánh vương, hoặc là đế vương, hay trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người, chẳng phải người; hoặc là súc sinh, hoặc là ngạ-quỉ, hoặc là địa-ngục v.v…, chúng sinh có nhiều loại tên gọi như thế. Này tâm ý ngu si! Ngươi tuy từng trải đủ năm dục ở thế gian, nào của cải trân quí như vàng bạc, nào vợ con, kẻ hầu hạ, ngựa voi xe cộ, nhà cửa ruộng vườn, nhân dân làng xóm, nhưng tất cả đều là vô thường, đều phải tiêu tán. Chúng chỉ tạm có đối với mình, và rồi sẽ phải diệt mất; giống như người lữ khách chỉ đến nhà trọ để tạm nghỉ ngơi rồi đi, chứ không phải là người chủ ở luôn tại đó. Trên các cõi Trời thì chư thiên thụ hưởng đầy đủ năm dục một cách tự tại, nhưng khi phước hết sắp chết, năm tướng suy hoại(7) hiện ra, thì lòng bồi hồi luyến tiếc, vô cùng sầu khổ; và ở trong cõi Người, những kẻ nghèo khó thấp hèn thường bị người khác sai sử, nếu là vua chúa thì sát phạt lẫn nhau, quần thần, cha con thì tranh giành, tàn hại lẫn nhau; ở dưới Địa-ngục thì toàn những cảnh tượng giết, cắt, đốt, nấu; trong loài Súc-sinh thì ăn nuốt lẫn nhau, lấy da thịt xương gân đền trả những nợ nần kiếp trước, luôn bị nghiệp chướng bức bách không lúc nào được tự tại; trong chốn Ngạ-quỉ thì bị đói khát dày vò, chạy Đông chạy Tây chỉ thấy toàn lửa, và những bánh xe sắt nóng cứ chạy đuổi theo đằng sau. Năm nẻo đường sinh tử đầy dẫy khổ đau như vậy đó, không thể nào kể ra cho hết được! Này tâm ý ngu si! Từ vô số kiếp đến nay, ngươi lôi kéo ta tới lui các chốn, ta một mực tùy thuận theo ngươi mà chưa từng làm trái lại. Nhưng hôm nay thì ta quyết chuyên nghe Phật pháp, ngươi chớ gây chướng ngại cho ta nữa! Ngươi cũng nên chán ghét và xa lìa khổ đau, hãy mau chóng cầu đạo quả Niết-bàn an lạc.”
Lúc ấy, đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da lại nói bài kệ dâng lên đức Phật rằng:
“Cúi xin rưới mưa pháp
Thấm tươi cây khô héo
Mầm Phật pháp nẩy nở
Tăng trưởng khắp mọi nơi
Nay con và chúng hội
Căn lành đều thuần thục
Các nấc thang đạo quả
Chứng ngộ theo thứ lớp
Xin ban cho cam lồ
Tiêu trừ gốc tham sân
Chúng con từ xưa nay
Bị vô minh trói buộc
Si mê không trí tuệ
Không biết cầu chánh đạo
Xin chỉ đường giải thoát
Chóng đến thành Niết-bàn”
Nói bài kệ đó xong, đức Ma Ha Ma Da lại nói tiếp bài kệ khen ngợi đức Phật, rằng:
“Trí tuệ Phật cao rộng
Như núi cao chất ngất
Như khe rộng hang sâu
Như suối trong đầy nước
Có các loại dược thảo
Mọc tươi tốt bên bờ
Nếu ai uống thuốc đó
Được an vui vô cùng
Cũng ví như cây mía
Tính chất luôn tự ngọt
Người biết ép lấy nước
Liền được vị ngọt ngon
Giáo pháp Thế Tôn nói
Bản chất tự thanh tịnh
Nếu có người tin nhận
Được phước báo vô cùng
Tất cả các chúng sinh
Cầu phước lạc vô tận
Chỉ có đức Mâu Ni
Gia hộ cho đầy đủ
Chúng sinh bị phiền não
Từ vô thỉ thiêu đốt
Phật như thầy thuốc giỏi
Tùy bệnh cho thuốc hay
Đường sinh tử khúc khuỷu
Gian hiểm khó vượt qua
Năm thầy Kiều Trần Như
Không biết lối trở về
Thế Tôn đại từ bi
Thân đến Ba-la-nại
Vì họ chuyển pháp luân
Đều chứng được đạo quả
Tám muôn các thiên tử
Bỗng dưng được pháp nhãn
Không có thầy dẫn đường
Mà thành tựu như vậy
Xá Lợi Phất, Mục Liên
Ca Diếp, Ca Chiên Diên
Bốn đại Thanh-văn ấy
Lúc chưa đi xuất gia
Tài cao trí thông bác
Nơi nơi đều tôn kính
Danh đức không ai bằng
Kiêu mạn thường khinh người
Nhưng khi nếm cam lồ
Qui phục thành La-hán
Giúp cho bậc Đạo Sư
Xoay chuyển bánh xe pháp
Như cây ni-câu-đà
Hạt giống vô cùng nhỏ
Mà mọc cây cao lớn
Cành lá phủ sum sê
Chúng sinh Phật hóa độ
Tăng tiến cũng như vậy
Như Ương Quật Ma La
Từng giết hại nhiều người
Nhưng Thế Tôn thương xót
Độ cho vào Phật đạo
Đề Bà Đạt Đa kia
Tạo tội ác ngũ nghịch
Đã xô hòn đá lớn
Muốn hại chết Thế Tôn
Thế Tôn vẫn bình đẳng
Coi như La Hầu La
Lại mẹ con loài quỉ
Chuyên ăn thịt con nít
Phật thương muốn hóa độ
Bèn đem dấu quỉ con
Quỉ mẹ không thấy con
Lòng sợ hãi bấn loạn
Liền đến trước Thế Tôn
Xin chỉ chỗ con mình
Thế Tôn dùng phương tiện
Vặn hỏi quỉ mẹ rằng
‘Ngươi thương nhớ con mình
Chạy đây đó tìm con
Sao không khởi tâm từ
Lại ăn con người khác
Hãy tự xét lại mình
Chớ giết hại kẻ khác
Nếu sửa đổi tâm tánh
Ngươi tức khắc thấy con’
Quỉ mẹ nghe lời dạy
Sám hối xin đảnh lễ
Và vì cả con mình
Chắp tay bạch Phật rằng
‘Con nay đến trọn đời
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.