KINH MA HA MA DA · Chương 3/3 · Phần 1/2

KINH MA HA MA DA (PHẦN 3)

Đây là những điều chính tôi được nghe:

Thuở đó đức Phật đang an cư ba tháng tại gốc cây ba-lợi-chất-đa, trong vườn Hoan-hỉ ở cõi trời Đao-lợi(2). Cùng an cư với đức Phật, có đông đủ chúng đại tì-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị, cùng với vô lượng trăm ngàn các chúng trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và chẳng phải người; ngoài ra còn có vô số chúng tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cùng ở chung quanh đức Phật.

Lúc bấy giờ đức Phật ngồi trong tư thế hoa sen, từ các lỗ chân lông trên khắp thân mình, phóng ra ngàn luồng ánh sáng, chiếu soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Trong mỗi luồng ánh sáng ấy lại có ngàn hoa sen; trên mỗi hoa sen có ngàn đức hóa Phật, đều ngồi trong tư thế hoa sen, giống như đức Thích Ca Mâu Ni. Lúc ấy, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các tinh tú đều không tự hiện rõ được, mà đều hòa nhập vào ánh sáng của đức Phật, làm cho khắp thân cây ba-lợi-chất-đa trở thành màu vàng ròng. Giống như bầu trời hoàn toàn trong suốt, không gợn tí mây, làm cho ánh sáng mặt trời mặt trăng chiếu rõ cùng cực; ánh sáng phóng ra từ thân của đức Phật tại cung trời Đao-lợi lúc bấy giờ cũng giống như vậy, mà còn sáng rỡ bội phần, không thể lấy gì để thí dụ được! Các vị thiên tử ở mặt trời, mặt trăng và các tinh tú, trông thấy hiện tượng ấy thì không biết có chuyện gì xảy ra, tâm ý vô cùng sợ sệt, bồn chồn, bất an.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:

“Ông hãy đến chỗ mẹ của Như Lai, thưa với bà rằng, Như Lai đang ở tại đây, xin bà tạm khởi thân, đến kính lễ Ba Ngôi Báu. Ông hãy đem bài kệ này đến đọc cho bà nghe!”

Đức Phật liền nói bài kệ rằng:

 

“Đức Đạo Sư Thích Ca

Thành tựu nhất thiết trí

Ở cõi Diêm-phù-đề

Như vị trời ngàn mắt

Từ lâu lòng khát ngưỡng

Mong được thấy từ nhan

Vốn xưa trong cung vua

Sinh con vừa bảy ngày

Lìa trần sinh thiên giới

Nhờ di mẫu dưỡng nuôi

Đến khi thành Chánh Giác

Ứng cúng độ chúng sinh

Hôm nay đến nơi này

Nói pháp báo ân xưa

Xin mẹ cùng quyến thuộc

Khởi thân đến nơi này

Kính lễ Phật Pháp Tăng

Lãnh thọ pháp chân tịnh”

 

Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi vâng lãnh lời dạy của đức Phật, đi ngay đến chỗ đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da, đem lời thỉnh cầu của đức Phật bạch lên, và tụng lại bài kệ đức Phật đã nói. Đức thánh mẫu vừa nghe những lời ấy xong, bỗng có những giọt sữa từ ngực bà tự chảy ra, và bà nói rằng:

“Nếu quả thật vị đó chính là Tất Đạt Đa do tôi sinh ra, thì xin nguyện cho những giọt sữa này rơi vào miệng của Người.”

Đức Ma Ha Ma Da vừa nói lời ấy xong, những giọt sữa ấy, trông như những hoa sen trắng, bay thẳng đến, rơi vào miệng của đức Phật. Đức thánh mẫu trông thấy sự việc như vậy thì vui mừng hớn hở, sắc mặt tươi như đóa sen ngàn cánh vừa mới nở. Ngay lúc đó, ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động, muôn loại hoa đẹp chưa tới lúc nở mà đều nở rộ, ngàn loại trái ngon chưa đến lúc chín mà đều chín muồi. Đức thánh mẫu liền nói với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:

“Từ ngày được cùng với Phật kết làm mẹ con đến nay, tôi chưa từng có lúc được hoan hỉ an lạc như hôm nay. Ví như có người đói khát đau khổ cùng cực, bỗng có được bữa ăn ngon thì vui mừng không kể xiết, niềm vui của tôi hôm nay cũng giống như vậy; ngoài niềm vui ấy ra, không còn có bất cứ một niệm tưởng tạp loạn nào khác!”

Đức thánh mẫu nói lời ấy rồi, liền cùng với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi đi đến chỗ Phật.

Lúc bấy giờ, đức Phật thấy mẹ từ xa đến, lòng tràn đầy hân hoan, tôn kính. Toàn thân Ngài dao động, như tướng rung động của núi chúa Tu-di và bốn biển lớn. Khi thấy mẹ đã đến trước mặt, đức Phật bèn dùng Phạm âm(3) mà thưa với bà rằng:

“Mẹ đã từng đi qua nhiều nơi, khổ vui đều trải đủ. Nay xin mẹ tu tập đạo niết-bàn, vĩnh viễn xa lìa mọi khổ vui.”

Đức Ma Ha Ma Da nghe Phật nói thế, liền chắp tay cúi đầu, một lòng suy nghĩ. Bà quì trước Phật, rồi năm vóc gieo xuống đất, chuyên tâm chánh niệm, bao nhiêu dây trói buộc đều tiêu trừ. Đức thánh mẫu bèn nói bài kệ xưng tán đức Phật rằng:

 

“Đức Thế Tôn từ vô số kiếp

Đã từng uống sữa từ thân con

Xa lìa nỗi khổ sinh già chết

Thành tựu đạo Bồ-đề vô thượng

Nay Ngài báo đáp ơn sinh dưỡng

Khiến con dứt trừ ba nọc độc

Kính lạy đấng Đại Trượng Phu

Bậc không tham, hay bố thí

Kính lạy Điều Ngự, Vô Thượng Sĩ

Bậc tối tôn, không ai bằng

Kính lạy Đạo Sư của trời người

Vĩnh viễn dứt trừ dây si ái

Con nguyện suốt ngày đêm sáu thời

Niệm tưởng Thế Tôn không gián đoạn

Đầu mặt sát đất xin đảnh lễ

Đấng Đại Pháp Vương Vô Thượng Tôn

Duyên may nay gặp phước điền Phật

Con nguyện gieo trồng giống công đức

Cúi xin Ngài từ bi giúp sức

Khiến hạt giống kết thành hoa trái

Ngài từ lâu vốn có đại chí

Cho nên đã sinh vào cung vua

Toàn thân ngời sắc màu vàng ròng

Ánh sáng chiếu soi khắp mười phương

Diện mạo thật tròn đầy thanh tịnh

Giống như mặt trăng Rằm mùa Thu”

 

Lúc bấy giờ, đức Phật thưa với mẹ rằng:

“Xin mẹ lắng nghe và suy nghĩ thật chín chắn. Giáo pháp này, ở phần đầu, phần giữa và phần cuối, nghĩa lí thật sâu xa, ngôn từ thật tinh diệu, hoàn toàn thuần nhất, không hỗn tạp; đầy đủ tướng phạm hạnh thanh khiết.”

Đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da nghe lời nói ấy rồi, nhờ thần lực của Phật, bà biết rõ túc mạng của mình, và do căn lành của bà lúc bấy giờ đã thuần thục, bà liền phá trừ được tám mươi ức các loại phiền não, chứng quả Tu-đà-hoàn. Bà chắp tay bạch Phật rằng:

“Con từ trong lao ngục sinh tử đã chứng được quả giải thoát.”

Cả chúng hội nghe đức thánh mẫu nói như vậy, đồng thanh nói rằng:

“Xin nguyện cho tất cả chúng sinh đều được giải thoát, như thánh mẫu Ma Ha Ma Da hiện tại!”

Bấy giờ, đức Ma Ha Ma Da bạch Phật rằng:

“Ví như đống lửa mạnh đang đốt thanh sắt nóng, nếu ai đụng vào đó thì thân tâm tan nát. Biển sinh tử ở thế gian cũng giống như vậy, những chỗ tới lui đều là đau khổ tích tụ; mà nguồn gốc của khổ đau chính là do tâm ý. Tâm ý đuổi theo dục vọng mà sai sử chúng sinh, luân chuyển trong năm nẻo đường(4) nhanh như gió mạnh, như đánh cầu.”

Ở trước đức Phật, đức thánh mẫu lại tự trách tâm ý của mình rằng:

“Ngươi vì sao thường làm những điều không lợi ích? Ngươi luôn dạo chơi khắp sáu trần cảnh(5) mà không chịu ở yên; bao nhiêu ý tưởng tạp loạn loay hoay không phút nào ngưng nghỉ; những điều suy nghĩ đều không tốt đẹp. Tại sao ngươi chứa nhóm những điều xấu xa kia để mê hoặc ta? Ví như có người cuốc đất, đất thì không bao giờ tiêu mất, mà lưỡi cuốc thì cứ mỗi ngày mỗi cùn đi. Ở trong biển sinh tử cũng như thế, thân mạng bỏ đi không thể đếm xuể, mà thần thức của ta thì vẫn không tăng không giảm. Ngươi có thể khiến ta làm bậc chuyển luân thánh vương, có đầy đủ bảy món báu, thống trị cả bốn châu thiên hạ; phút chốc lại khiến ta trụt xuống làm loài ếch nhái; phút chốc lại kiến ta làm người nghèo khổ, chạy Đông chạy Tây để cầu xin cơm áo; phút chốc lại khiến ta làm ông trưởng giả giàu sang tột bậc, ai cũng biết danh; phút chốc lại khiến ta trú tại cung trời, ăn uống toàn vị cam lồ, thụ hưởng năm dục(6) thỏa thích; phút chốc lại khiến ta đọa vào địa ngục, uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng. Ta trong nhiều đời quá khứ từng mang thân trâu ngựa, da chất đống cao như núi Tu-di, ở mãi trong biển sinh tử, chưa được giải thoát; bỗng chốc lại được vô số tên gọi: nào là đại gia, nào là đầy tớ, hoặc là chuyển luân thánh vương, hoặc là đế vương, hay trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người, chẳng phải người; hoặc là súc sinh, hoặc là ngạ-quỉ, hoặc là địa-ngục v.v…, chúng sinh có nhiều loại tên gọi như thế. Này tâm ý ngu si! Ngươi tuy từng trải đủ năm dục ở thế gian, nào của cải trân quí như vàng bạc, nào vợ con, kẻ hầu hạ, ngựa voi xe cộ, nhà cửa ruộng vườn, nhân dân làng xóm, nhưng tất cả đều là vô thường, đều phải tiêu tán. Chúng chỉ tạm có đối với mình, và rồi sẽ phải diệt mất; giống như người lữ khách chỉ đến nhà trọ để tạm nghỉ ngơi rồi đi, chứ không phải là người chủ ở luôn tại đó. Trên các cõi Trời thì chư thiên thụ hưởng đầy đủ năm dục một cách tự tại, nhưng khi phước hết sắp chết, năm tướng suy hoại(7) hiện ra, thì lòng bồi hồi luyến tiếc, vô cùng sầu khổ; và ở trong cõi Người, những kẻ nghèo khó thấp hèn thường bị người khác sai sử, nếu là vua chúa thì sát phạt lẫn nhau, quần thần, cha con thì tranh giành, tàn hại lẫn nhau; ở dưới Địa-ngục thì toàn những cảnh tượng giết, cắt, đốt, nấu; trong loài Súc-sinh thì ăn nuốt lẫn nhau, lấy da thịt xương gân đền trả những nợ nần kiếp trước, luôn bị nghiệp chướng bức bách không lúc nào được tự tại; trong chốn Ngạ-quỉ thì bị đói khát dày vò, chạy Đông chạy Tây chỉ thấy toàn lửa, và những bánh xe sắt nóng cứ chạy đuổi theo đằng sau. Năm nẻo đường sinh tử đầy dẫy khổ đau như vậy đó, không thể nào kể ra cho hết được! Này tâm ý ngu si! Từ vô số kiếp đến nay, ngươi lôi kéo ta tới lui các chốn, ta một mực tùy thuận theo ngươi mà chưa từng làm trái lại. Nhưng hôm nay thì ta quyết chuyên nghe Phật pháp, ngươi chớ gây chướng ngại cho ta nữa! Ngươi cũng nên chán ghét và xa lìa khổ đau, hãy mau chóng cầu đạo quả Niết-bàn an lạc.”

Lúc ấy, đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da lại nói bài kệ dâng lên đức Phật rằng:

 

“Cúi xin rưới mưa pháp

Thấm tươi cây khô héo

Mầm Phật pháp nẩy nở

Tăng trưởng khắp mọi nơi

Nay con và chúng hội

Căn lành đều thuần thục

Các nấc thang đạo quả

Chứng ngộ theo thứ lớp

Xin ban cho cam lồ

Tiêu trừ gốc tham sân

Chúng con từ xưa nay

Bị vô minh trói buộc

Si mê không trí tuệ

Không biết cầu chánh đạo

Xin chỉ đường giải thoát

Chóng đến thành Niết-bàn”

 

Nói bài kệ đó xong, đức Ma Ha Ma Da lại nói tiếp bài kệ khen ngợi đức Phật, rằng:

 

“Trí tuệ Phật cao rộng

Như núi cao chất ngất

Như khe rộng hang sâu

Như suối trong đầy nước

Có các loại dược thảo

Mọc tươi tốt bên bờ

Nếu ai uống thuốc đó

Được an vui vô cùng

Cũng ví như cây mía

Tính chất luôn tự ngọt

Người biết ép lấy nước

Liền được vị ngọt ngon

Giáo pháp Thế Tôn nói

Bản chất tự thanh tịnh

Nếu có người tin nhận

Được phước báo vô cùng

Tất cả các chúng sinh

Cầu phước lạc vô tận

Chỉ có đức Mâu Ni

Gia hộ cho đầy đủ

Chúng sinh bị phiền não

Từ vô thỉ thiêu đốt

Phật như thầy thuốc giỏi

Tùy bệnh cho thuốc hay

Đường sinh tử khúc khuỷu

Gian hiểm khó vượt qua

Năm thầy Kiều Trần Như

Không biết lối trở về

Thế Tôn đại từ bi

Thân đến Ba-la-nại

Vì họ chuyển pháp luân

Đều chứng được đạo quả

Tám muôn các thiên tử

Bỗng dưng được pháp nhãn

Không có thầy dẫn đường

Mà thành tựu như vậy

Xá Lợi Phất, Mục Liên

Ca Diếp, Ca Chiên Diên

Bốn đại Thanh-văn ấy

Lúc chưa đi xuất gia

Tài cao trí thông bác

Nơi nơi đều tôn kính

Danh đức không ai bằng

Kiêu mạn thường khinh người

Nhưng khi nếm cam lồ

Qui phục thành La-hán

Giúp cho bậc Đạo Sư

Xoay chuyển bánh xe pháp

Như cây ni-câu-đà

Hạt giống vô cùng nhỏ

Mà mọc cây cao lớn

Cành lá phủ sum sê

Chúng sinh Phật hóa độ

Tăng tiến cũng như vậy

Như Ương Quật Ma La

Từng giết hại nhiều người

Nhưng Thế Tôn thương xót

Độ cho vào Phật đạo

Đề Bà Đạt Đa kia

Tạo tội ác ngũ nghịch

Đã xô hòn đá lớn

Muốn hại chết Thế Tôn

Thế Tôn vẫn bình đẳng

Coi như La Hầu La

Lại mẹ con loài quỉ

Chuyên ăn thịt con nít

Phật thương muốn hóa độ

Bèn đem dấu quỉ con

Quỉ mẹ không thấy con

Lòng sợ hãi bấn loạn

Liền đến trước Thế Tôn

Xin chỉ chỗ con mình

Thế Tôn dùng phương tiện

Vặn hỏi quỉ mẹ rằng

‘Ngươi thương nhớ con mình

Chạy đây đó tìm con

Sao không khởi tâm từ

Lại ăn con người khác

Hãy tự xét lại mình

Chớ giết hại kẻ khác

Nếu sửa đổi tâm tánh

Ngươi tức khắc thấy con’

Quỉ mẹ nghe lời dạy

Sám hối xin đảnh lễ

Và vì cả con mình

Chắp tay bạch Phật rằng

‘Con nay đến trọn đời

Nguyện dứt tâm sát hại’

Phật truyền cho năm giới

Và chứng được đạo quả

Như loài quỉ mẹ kia

Rất thương yêu con mình

Mở rộng tâm thương người

Dứt hẳn tâm sát hại

Cúi xin đức Đại Bi

Giờ đây cũng như vậy

Thương xót người mẹ này

Và khắp cả mọi người

Khai thị cho chánh pháp

Tất cả xin tiếp nhận”

 

Đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da nói bài kệ ấy xong, lại bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Sở dĩ chúng sinh cứ bị trói buộc mãi trong năm nẻo đường, không bao giờ được tự tại, là đều vì các tội lỗi do phiền não gây ra. Xin nguyện cho con đời sau sẽ dứt sạch tất cả mọi nguồn gốc tội lỗi và chứng thành chánh giác. Chỉ có đức Thế Tôn đem tâm từ nghĩ đến những nỗi đau khổ về sinh già bệnh chết của thế gian, chúng sinh luôn bị thiêu đốt bởi ngọn lửa vô thường hừng hực, chưa bao giờ dừng nghỉ; mà bảo các đệ tử hãy quay về, để chỉ bày cái họa gốc rễ của sinh tử, mà nói lời rằng: ‘Tại sao các ngươi cứ mãi ngủ mê trên chiếc giường sắt đầy lửa của ba cõi(8)? Ở đó, con quỉ dữ vô thường luôn rình bắt các ngươi, lưỡi dao bệnh tật luôn muốn dứt mạng sống các ngươi; giống như bọn giặc cướp, hễ thấy kho báu liền cầm khí giới xông đến tấn công. Trải qua trăm ngàn ức kiếp, các ngươi đã từng thọ nhận đủ loại thân tướng, nhờ tu tập mười điều lành(9) mới được làm người. Tuy được làm người nhưng rất khó được sống lâu, vì cơn vô thường vẫn luôn áp bức; cho nên các ngươi phải nên cẩn thận! Còn như những người ngu si buông lung, cứ cho năm tháng ít nhiều là thời gian nhất định, mà chẳng biết mỗi niệm mỗi niệm cứ lặng lẽ trôi qua, đến lúc mạng chung thì theo nghiệp mà đi, để cho gia quyến đau buồn than khóc. Cứ như thế mà sự sống truyền nối đến vô cùng! Đời sống của con người ở trong thế gian nhanh như điện chớp, thế mà người ta vẫn hay khởi tâm kiêu mạn. Có người nói rằng: ta là quốc vương, thống lãnh thiên hạ, uy lực tự tại. Có người nói rằng: ta là đại thần, lo liệu việc nước, muốn cong muốn thẳng đều do ý ta. Có người nói rằng: ta là trưởng giả giàu có, của báu ê hề, tiêu dùng tùy thích. Có người nói rằng: ta là bà-la-môn, chủng tánh cao quí, thông minh học rộng, thừa kế tổ tiên làm thầy chủng tộc sát-đế-lị.’ Bạch đức Thế Tôn! Những người như trên, lúc còn sống ở đời, họ hưởng thụ thỏa thích mọi thứ khoái lạc mà không hề lo nghĩ; khi cái chết ập đến thì dù có hối hận cũng không còn kịp nữa! Thời tuổi đang cường tráng, bà con thân thích sum vầy, sống hoan lạc phóng túng, không làm được một việc thiện nhỏ; khi cơn vô thường đến, mọi người đều xa lìa nhau, tản mác mỗi người mỗi lối trong năm nẻo đường, ngàn vạn ức kiếp khó gặp lại nhau. Trong biển sinh tử không có gì là chân thật, tất cả đều hư ảo như thành càn-thát-bà(10). Đến như chư vị Phật Bích-chi(10), đã dứt trừ hết các kết sử, đầy đủ thần lực, tự tại, không sợ sệt; thân trên phun ra lửa, thân dưới phun ra nước, thân trên phun ra nước, thân dưới phun ra lửa; bay trên hư không, đến đi mau chóng, vách đá cũng không ngăn trở được; dung mạo đoan chánh, đầy đủ các tướng tốt, làm ruộng phước lớn cho chúng sinh; thế mà vẫn không thoát khỏi cái nạn vô thường! Giống như đem thùng nước thật lớn để dập tắt một ngọn lửa nhỏ, người đời phạm quốc pháp, tội phải xử tử hình, bị nhốt vào nhà tù, thế mà vẫn có thể được cứu thoát khỏi tù tội; còn khi cơn vô thường ập đến thì không thể nào cứu được! Các bậc hiền thánh đầy thần lực còn không thể thoát khỏi cơn vô thường, huống gì kẻ phàm phu mà không biết lo sợ ư! Các vị tiên danh đức lừng lẫy, đã chứng được năm phép thần thông, uy lực đầy đủ, như A Tư Đà, Đệ Ba Da Na, Uất Đầu La Sí, A La La, v.v…, ngày nay ở đâu? Họ đã tiêu mất do lửa vô thường thiêu đốt! Các vị trời như Đại Phạm Thiên Vương, Thích Đề Hoàn Nhân, Ma Hê Thủ La, v.v…; các vị thần có năng lực lớn như La Bà Nại, La Bà Nê, Tỉ Sa Nê, v.v…, cũng đều bị quỉ vô thường vây bắt! Các vị đế vương thống lãnh thiên hạ, dung nghi đoan chính, thông minh tột bậc, sức mạnh vô địch, như Đảnh Sinh, Na La Diên, Chi Dạ Đa La, v.v…, cũng đều bị lưỡi cưa vô thường nghiến nát, nay không biết ở đâu! Các loài khác có uy lực lớn như long vương Bà Già La, quỉ vương Tu Đà Lị Xá Na, a-tu-la vương Tì Ma Chất Đa La; và các bà thiên hậu dung mạo tuyệt thế, như Xá Chỉ Mê Na, A Già Lam Ba, Uất Ba Thi, v.v…, cũng đều đã theo quỉ vô thường mà đi! Ví như người thợ săn vây bắt các con thú, quỉ vô thường cũng như vậy, luôn truy bức để bắt chúng sinh đem đến chỗ vua Diêm La, nơi đây sẽ sai bầy voi nghiệp theo thứ lớp mà đạp lên. Bầy cọp vô thường luôn rình rập chúng sinh, hễ bắt được liền đem ăn thịt. Như người chiên-đà-la(12), khi muốn giết con dê, ông cột chân nó treo lên để nó không chạy thoát được; kẻ chiên-đà-la vô thường cũng vậy, nắm giữ chặt chúng sinh không thể chuyển động. Cơn vô thường giống như con trăn a-xà-ca-la, hễ gặp người thì đầu đuôi quấn chặt. Cơn vô thường giống như tháng không trăng, vầng sáng khuyết dần cho tới khi tối đen.”

Thánh mẫu Ma Ha Ma Da nói đến đây, liền đọc bài kệ rằng:

 

“Như người chiên-đà-la

Lùa bò đến lò giết

Từng bước tới chỗ chết

Đời người còn nhanh hơn”

 

Thánh mẫu đọc xong bài kệ trên, ở trước đức Phật, bà nói với chúng hội rằng:

“Thưa chư vị pháp huynh, pháp đệ, cùng các chị em! Quí vị nên chuyên cần tu giới hạnh. Hôm nay chúng ta trực tiếp được gặp đấng Đạo Sư vô thượng, lại được Ngài cầm cây đuốc pháp to lớn chiếu sáng cho, cùng cấp cho cơm ăn áo mặc đầy đủ. Nếu muốn tiến đến bờ giải thoát an lạc, hãy nên đến hỏi Ngài nhờ chỉ bày cho con đường chân chánh. Nếu có người gặp được một bậc Thầy dẫn đường thánh thiện như thế, mà không biết tùy thuận quay về nương tựa, thì phải biết rằng, đó quả là người thật ngu si khờ dại, chắc chắn sẽ tạo trọng tội ngũ nghịch(13) mà thôi. Biển khổ sinh tử quả thật đáng sợ. Vậy mà chúng ta đã ra vào đến đi ở trong đó biết bao nhiêu lần không thể đếm xuể được. Những loại xác thân lộn xộn chúng ta đã thọ nhận trải qua trong một kiếp(14), nếu lấy da đem chất đống thì sẽ cao như núi Tu-di; những nỗi khổ đau về sinh già bệnh chết thật không thể lường được! Vì vậy, hôm nay tôi xin thưa với quí vị, chúng ta phải ngày đêm siêng năng, mỗi niệm mỗi niệm hãy tìm cầu giải thoát!”

Lúc đó, thánh mẫu Ma Ha Ma Da từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân Phật, rồi quì xuống, chắp tay, bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Tất cả chúng sinh sở dĩ bị chìm đắm mãi trong biển sinh tử, là vì họ không thể biết được con đường để đi ra!”

Đức Phật liền tiếp lời đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da, nói với chúng hội rằng:

“Chúng sinh sở dĩ không được giải thoát là đều do tham dục, sân hận và ngu si. Chính ba thứ phiền não độc hại đó đã nhận chìm chúng sinh ở mãi trong biển sinh tử; muốn cầu sinh lên thiên giới cũng còn khó khăn, huống gì mong cầu được giải thoát sinh tử! Ở cõi thế thì mất tiếng tốt, ban bè thân thuộc thì ruồng bỏ, coi như cỏ rác, không ai thương tưởng đến; tới giờ phút lâm chung thì cực kì sợ hãi, thần thức hoảng hốt, bấy giờ mới tự hối trách. Tất cả đều do ba thứ phiền não độc hại ấy. Nếu muốn cầu giải thoát, muốn đạt được thành quả vi diệu, phải dứt trừ nguồn gốc của khổ đau. Giống như con ngựa dữ bị trói cột không thể cử động được, chúng sinh cũng hằng bị kết sử(15) ràng buộc như vậy. Chúng sinh ngu si, không biết rõ sắc thọ tưởng hành thức chính là nguồn gốc của khổ đau, không biết rõ kết quả của sự diệt trừ nguồn gốc khổ đau, và không biết rõ phương pháp diệt trừ nguồn gốc khổ đau, cho nên không giải thoát được những nỗi khổ sinh già bệnh chết. Nếu biết rõ một cách rốt ráo rằng, sắc thọ tưởng hành thức chính là nguồn gốc của khổ đau, mà giải thoát được những nỗi khổ sinh già bệnh chết, đó gọi là dứt trừ được nguồn gốc của khổ đau. Khi đã dứt trừ được nguồn gốc khổ đau rồi thì xa lìa được vọng tưởng. Vọng tưởng đã xa lìa thì không còn tham đắm sáu thứ trần cảnh sắc thanh hương vị xúc pháp, cũng không chấp trước vào ngã và ngã sở. Từ nay quí vị hãy đem giáo pháp này khai thị cho nhau để được lợi ích lâu dài. Giờ đây, quí vị hãy lắng nghe Như Lai nói điều này: Từ vô số kiếp trong quá khứ cho đến nay, Như Lai đã vì chúng sinh mà tu hành khổ hạnh, giờ đây đã thành tựu được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như Lai thương yêu tất cả chúng sinh như trẻ con thơ dại; những ai có duyên hóa độ, Như Lai đều đã hóa độ hoàn tất. Tất cả giáo pháp của chư Phật trong ba đời, Như Lai đều đã trải nghiệm qua. Từ nay Như Lai sẽ không trở lại cõi thế gian này nữa, không còn dấu vết để kiếm tìm. Như Lai không còn làm giáo chủ cõi Diêm-phù-đề, cũng không còn làm giáo chủ các cõi Cù-da-ni, Phất-bà-đề, hay Uất-đan-việt(16); cũng không còn làm Chuyển luân thánh vương, Đế Thích, hay Đại Phạm Thiên Vương. Như vậy tức là Như Lai xa lìa hẳn sự ràng buộc của ba cõi, và hoàn toàn an trú ở địa vị một bậc Pháp Vương tự tại. Như Lai không dùng khí giới, gông cùm để chế phục người đời, mà chỉ đem chánh pháp ban bố cho khắp chúng sinh, khiến cho tất cả đều được giải thoát. Có sum họp tất phải có chia lìa, sức mạnh của các hành(17) là như thế. Núi báu Tu-di, khi số kiếp hết thì cũng phải tiêu diệt; nước trong bốn biển, đến lúc nào đó rồi cũng phải cạn khô. Như Lai xuất hiện ở đời là vì cứu độ chúng sinh, nay nhân duyên đã mãn, không nên miễn cưỡng lưu trú. Cơn vô thường ác hại như loài cá sấu, hễ cắn được người thì không bao giờ nhả bỏ.”

Tất cả chúng hội nghe lời Phật dạy như thế thì buồn khóc áo não, đồng thanh đọc bài kệ rằng:

 

“Mặt trời trí tuệ Phật

Chiếu sáng khắp thế gian

Rồi đây sẽ lặn mất

Vào quả núi vô thường

Bậc Đạo Sư cao cả

Đấng Thượng Sĩ tột cùng

Không còn bao lâu nữa

Các hành cũng xâm phạm

Các chúng sinh phước mỏng

Chìm trong chốn tối tăm”

 

Lúc bấy giờ, đức Phật ở cung trời Đao-lợi nói pháp hóa độ cho tám bộ chúng(18) và bốn chúng đệ tử(19) đã tròn ba tháng. Ngài muốn trở lại cõi Diêm-phù-đề, liền bảo người con của một quan đại thần ở thành Vương-xá, vốn thông minh biện tài, tên là Cưu Ma La, rằng: “Ông hãy xuống cõi Diêm-phù-đề, đi khắp các nước, nói cho mọi người biết rằng, Như Lai không bao lâu nữa sẽ nhập niết-bàn. Ông hãy đem bài kệ này mà bố cáo cho dân chúng.” Đức Phật liền nói kệ rằng:

 

“Thế gian nay mờ tối

Mất con mắt trí tuệ

Rễ ba độc sâu dầy

Không có vị y vương

Lại không bao lâu nữa

Phật sẽ nhập niết-bàn

Hiện nay Ngài đang ngự

Tại cung trời Đao-lợi

Nói pháp độ chúng sinh

Quí vị mau cung thỉnh

Trở về Diêm-phù-đề”

 

Công tử Cưu Ma La vâng lời Phật dạy, xuống cõi Diêm-phù-đề, đem bài kệ của Phật truyền đạt đến dân chúng khắp các nước. Mọi người nghe bài kệ ấy rồi, thì lòng vô cùng sầu não, đều cúi đầu đảnh lễ, thưa với công tử rằng: “Trong thời gian qua, chúng tôi đã bị mất bóng mát đại từ, lửa độc của thế gian càng thêm mãnh liệt, mà không biết bậc Đạo Sư đang ở nơi nào! Hôm nay chúng tôi mới biết được đức Thế Tôn đang ngự tại cung trời Đao-lợi, lại không còn bao lâu nữa Ngài sẽ nhập niết-bàn! Vậy là con mắt của thế gian sắp diệt mất, sao mà đau khổ đến thế! Chúng tôi mang thân phàm phu, không thể lên trời để cung thỉnh đức Thế Tôn, xin nhân giả thương xót chúng tôi, trở lại cõi trời, bạch lên đức Thế Tôn rằng: Tất cả chúng sinh ở cõi Diêm-phù-đề, từ xa xin đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn. Trong thời gian qua họ không được ân thánh hóa, tìm cầu khắp nơi mà không biết đức Thế Tôn ở đâu. Nay họ mới biết được Ngài đang ngự tại cung trời Đao-lợi, hóa độ rộng khắp chúng sinh; và không còn bao lâu nữa Ngài sẽ nhập niết-bàn. Vậy là thế gian sẽ mất đi con mắt trí tuệ! Cúi xin đức Thế Tôn thương xót chúng sinh ở Diêm-phù-đề mà mau chóng trở về ban cho họ pháp dược!”

Công tử Cưu Ma La nghe mấy lời ấy xong, liền trở lại cung trời Đao-lợi, đến ngay chỗ Phật ngự, đem lời cung thỉnh của chúng sinh ở cõi Diêm-phù-đề, trình bạch đầy đủ lên đức Phật. Ngài nghe xong, liền phóng ra ánh sáng năm màu: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng; chiếu soi cùng khắp cõi Diêm-phù-đề.

Bấy giờ, tất cả dân chúng cõi Diêm-phù-đề trông thấy ánh sáng ấy đều vô cùng hân hoan, cho là điều chưa từng có. Họ bảo nhau rằng: “Hôm nay sao bỗng dưng lại có hiện tướng kì lạ này? Đây không phải là ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các vì sao; cũng không giống với thứ ánh sáng do các tiên nhân đã chứng năm thần thông hoặc các vị bà-la-môn có thần lực dùng chú thuật tạo ra.” Lại cũng có người nói rằng: “Theo tôi quan sát kĩ thì thấy ánh sáng này nhất định không phải của ai khác, mà chính là của đức Y vương vô thượng, đại từ. Ngài vì thương xót thế gian, cho nên đã phóng ra ánh sáng ấy để đem đến cho chúng ta niềm an lạc.”

Lúc đó, trời Đế Thích biết Phật sắp trở về cõi Diêm-phù-đề, liền sai quỉ thần làm ba cái cầu thang quí báu: cầu thang chính giữa dùng toàn vàng diêm-phù-đàn, cầu thang bên phải dùng thuần ngọc lưu-li, cầu thang bên trái dùng thuần ngọc mã-não; lan can được chạm trổ cực kì tinh vi.

Bấy giờ, đức Phật thưa với thánh mẫu Ma Ha Ma Da rằng: “Các pháp sinh tử, có sum họp tất có chia lìa. Giờ đây con phải trở lại cõi Diêm-phù-đề, và không bao lâu nữa sẽ nhập niết-bàn.”

Đức thánh mẫu nghe Phật nói thế thì buồn bã rơi nước mắt, liền nói bài kệ rằng:

 

“Thế Tôn vô số kiếp

Vì thương xót chúng sinh

Bỏ đầu mắt tủy não

Nay chứng thành Chánh Giác

Vì chúng sinh ba cõi

Đang chìm đắm biển mê

Dùng thuyền pháp cứu vớt

Mà sao vội chia lìa!”

 

Đức Phật dùng kệ đáp lại rằng:

 

“Chư Phật hiện ra đời

Đều do có nhân duyên

Duyên hết phải chia lìa

Pháp Phật là như thế”

 

Đức Phật nói bài kệ ấy xong thì từ biệt thánh mẫu Ma Ha Ma Da, bước xuống cầu thang báu, có trời Đại Phạm Thiên Vương cầm lọng theo hầu, trời Đế Thích và bốn vị Thiên Vương đi hai bên, vô số trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và những loài không phải người, chư vị tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cùng các chúng quỉ thần khác, trước sau vây quanh đức Phật, chật cả hư không, cùng theo đức Phật xuống cõi Diêm-phù-đề.

Lúc bấy giờ, ở cõi Diêm-phù-đề, các vị quốc vương như Ba Tư Nặc, Tần Bà Ta La, Ưu Đà Diên, Vật Đà già, Phất Ca La Ta La, v.v…, cùng các quan đại thần, các vị trưởng giả, cư sĩ, bà-la-môn, tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, đều đứng ở chân cầu thang để nghinh đón đức Phật. Đặc biệt, vua Ba Tư Nặc của thành Xá-vệ, đã sai các quan viên sửa soạn thức ăn cùng các vật dụng cần thiết, đặt sẵn trong tinh xá Kì-hoàn để cúng dường.

Bấy giờ, đức Phật đã về đến Diêm-phù-đề, các vị quốc vương, đại thần, trưởng giả, cư sĩ, cùng bốn chúng, đồng cung kính đảnh lễ, dâng lời xưng tán, và theo Phật cùng vào tinh xá Kì-viên. Vào lúc ấy, dân chúng khắp các nơi cũng được biết tin đức Thế Tôn đã trở về tinh xá Kì-viên từ cõi trời Đao-lợi, liền kéo nhau đi, chật cả đường sá, hướng về tinh xá Kì-viên, đông đảo không thể kể xiết!

Bấy giờ, đức Phật ngồi tòa sư tử, có bốn chúng đệ tử và tám bộ chúng ngồi vây quanh. Vua Ba Tư Nặc, với niềm hân hoan vô tận, liền đọc bài kệ dâng lên đức Phật rằng:

 

“Chúng con xin kính lạy

Đấng công đức vô thượng

Nhổ sạch gốc khổ đau

Đã trồng nhiều căn lành

Từ bi thương chúng sinh

Bậc Điều Ngự tối thắng

Tướng tốt thân đoan nghiêm

Bậc Đạo Sư cao cả

Ruộng phước của chúng sinh

Công đức trùm thế gian

Hàng phục bằng nghị luận

Thần lực luôn tự tại

Con cúi đầu đảnh lễ

Bậc Thầy của trời người”

 

Vua Ba Tư Nặc nói bài kệ ấy xong, lại bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Chúng sinh đang chìm đắm trong biển sinh tử, ăn uống toàn thuốc độc, không thể nào cứu chữa. Cúi xin đức Thế Tôn vẩy nước cam lồ!”

Đức Phật dạy:

“Quí vị nên biết tất cả nguồn gốc của sinh tử: Do vô minh mà có hành, do hành mà có thức, do thức mà có danh sắc, do danh sắc mà có lục nhập, do lục nhập mà có xúc, do xúc mà có thọ, do thọ mà có ái, do ái mà có thủ, do thủ mà có hữu, do hữu mà có sinh, do sinh mà có lão tử(20) và lo buồn khổ đau chồng chất. Nếu vô minh diệt mất thì hành diệt mất, hành diệt mất thì thức diệt mất, thức diệt mất thì danh sắc diệt mất, danh sắc diệt mất thì lục nhập diệt mất, lục nhập diệt mất thì xúc diệt mất, xúc diệt mất thì thọ diệt mất, thọ diệt mất thì ái diệt mất, ái diệt mất thì thủ diệt mất, thủ diệt mất thì hữu diệt mất, hữu diệt mất thì sinh diệt mất, sinh diệt mất thì lão tử diệt mất và cả khối lo buồn khổ đau cũng diệt mất. Quí vị nên chuyên cần tu tập để mau chóng xa lìa biển khổ ba cõi. Lại nữa, này quí vị! Ở trong biển sinh tử, chúng sinh luôn bị tám thứ khổ(21) bủa vây, đều do các nghiệp thân miệng ý(22) tích tập và lưu chuyển không ngừng. Nếu diệt trừ được các gốc rễ tích tập kia, thì mọi khổ não cũng bị tiêu diệt. Tu tập tám nguyên tắc hành động chân chánh(23), đó là con đường chánh dẫn đến niết-bàn. Người nào quán chiếu và thấy tỏ tường điều này, thì có thể xa lìa được ba cõi.”

Đức Phật nói pháp cho vua Ba Tư Nặc và đại chúng nghe xong, bèn dẫn chúng tì-kheo, khởi hành từ thành Xá-vệ, tuần tự đi đến các thôn ấp xóm làng khác, những ai có duyên lành đều được Ngài hóa độ; rồi Ngài đến sông Ni-liên-thuyền, thay áo tắm, xuống sông tắm gội. Bấy giờ, vô lượng trăm ngàn trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và không phải người, trông thấy đức Phật tắm gội ở dưới sông, đều cầm mọi thứ hương xoa, hương bột, v.v…, đem đến cúng dường. Lúc đó, các loài chúng sinh, hoặc ở dưới nước, hoặc ở trên mặt đất, hoặc ở trong không trung, thấy thân thể của đức Thế Tôn giống như tấm gương sáng, hình sắc cực kì vi diệu, đều vô cùng hoan hỉ, phát khởi từ tâm, ba thứ phiền não độc hại(24) đều tiêu trừ, không tàn hại lẫn nhau, và đều phát tâm bồ-đề vô thượng. Tôn giả A Nan liền bạch Phật rằng:

“Hôm nay các loài chúng sinh ở dưới nước, trên mặt đất, trong không trung, thấy thân thể của đức Thế Tôn còn sinh niềm hoan hỉ, phát tâm bồ-đề, thế mà thầy Đề Bà Đạt Đa(25), vốn sinh ra trong dòng họ Thích, là kẻ thân thuộc của đức Thế Tôn, lại là sa-môn, miệng thường đọc tụng kinh điển thâm diệu, nhưng lại luôn luôn làm những việc đối nghịch với đức Thế Tôn, như phá hoại sự hòa hợp của Tăng đoàn, làm cho thân đức Thế Tôn chảy máu, bày mưu cho thái tử A Xà Thế giết hại vua cha, hằng ngày ăn uống món ngon vật lạ, tự kiêu cho rằng mình ngang bằng với đức Thế Tôn, vì món lợi dưỡng nhỏ mà bị lửa đốt mình, dù chư Phật muốn cứu vớt cũng không thể cứu được!”

Đức Phật bảo tôn giả A Nan:

“Như thầy vừa nói, Đề Bà Đạt Đa lúc nào cũng để tâm oán hận và muốn ám hại Như Lai, tự tạo nghiệp nhân địa ngục a-tì, tất cả chư Phật không thể cứu thoát. Như Lai rất thương xót thầy ấy, nhưng chẳng bao lâu nữa thì nghiệp khổ sẽ đến với thầy ấy.”

Lúc ấy, đại đức Đề Bà Đạt Đa đang đi gần đó, nghe được lời nói ấy của đức Phật thì tức giận vô cùng. Ông liền bỏ đức Phật, dẫn các đệ tử của mình đi sang nước Ma-kiệt-đà để nương tựa với vua A Xà Thế. Trên đường đi, từng đàn chim bay lượn qua lại trên đầu, kêu la inh ỏi; lại có con trâu dữ muốn xông đến húc ông. Các đệ tử của ông thấy những hiện tượng như thế, nói với ông rằng: “Đây đúng là điềm chẳng lành, sợ rằng chúng ta đang đi đến chỗ bất lợi!” Đại đức Đề Bà Đạt Đa liền mắng các đệ tử: “Các ngươi ngu si, đâu có biết gì! Chỉ việc đi theo ta mà thôi, không cần phải nói nhiều!”

Bấy giờ, thầy trò Đề Bà Đạt Đa đã đến trước cửa thành Vương-xá. Ồng bảo người lính giữ cửa vào báo cho vua A Xà Thế biết là ông đã đến, đang chờ ở ngoài cửa thành. Người lính giữ cửa thành y lời, vào cung bạch lên đức vua. Vua A Xà Thế nghe tin Đề Bà Đạt Đa đã đến trước cửa thành, thì đùng đùng nổi giận, bảo người lính giữ cửa thành rằng: “Cho đến tên của người ấy mà ta cũng không muốn nghe, huống gì là nhìn thấy mặt ư? Ví như mưa đá có thể làm gẫy nát cỏ cây, nhưng ở trên đất chẳng bao lâu cũng sẽ tiêu tan hết. Người ác như Đề Bà Đạt Đa cũng giống như vậy, xúi giục người khác làm ác khiến cho căn lành của người ta bị tiêu hoại, thì cũng trở lại làm tiêu hủy căn lành của mình.” Rồi nhà vua bảo người giữ cửa thành không cho Đề Bà Đạt Đa vào thành. Việc này đã làm cho Đề Bà Đạt Đa vô cùng giận dữ. Ông tự đấm vào đầu và nghiến răng mạ lị. Ngay lúc ấy, một vị tì-kheo-ni là Ưu Ba La từ trong thành đi ra, trông thấy Đề Bà Đạt Đa thì nói rằng: “Chính ông đã làm cho dòng họ Thích suy vi, và làm chướng ngại cho Phật pháp.” Đề Bà Đạt Đa nghe câu nói ấy, lại tràn đầy tức giận, liền nắm tay đánh vào đầu vị ni sư, khiến cho ni sư mạng vong! Thế là Đề Bà Đạt Đa lại giết một vị tì-kheo-ni A-la-hán! Tức thì, mặt đất nứt ra, một ngọn lửa lớn cuốn lấy thân thể của ông, lôi thẳng xuống địa ngục!

Lúc bấy giờ, đức Phật tắm gội đã xong, hướng về chư vị tì-kheo, nói kệ rằng:

 

“Như đi đường hiểm trở

Mỗi bước đều lo sợ

Khi đến nơi đất bằng

Tâm mới được yên ổn

Đường sinh tử hiểm ác

Chúng sinh luôn sợ sệt

Chỉ có đường niết-bàn

Người đi thấy an lạc

Nay ta muốn đến đó

Nơi thường lạc tịch tĩnh”

 

Đức Phật nói bài kệ ấy xong, cùng với tôn giả A Nan đi đến thành Vương-xá, giảng pháp cho chúng tì-kheo tại đó. Rồi Ngài đến ấp Ba-liên-phất, nói pháp giáo hóa cho dân chúng, quí vị trưởng giả, cư sĩ và phạm-chí. Dần dà Ngài du hành đến thành Tì-xá-li, nói pháp hóa độ cho dân chúng tộc Li-xa. Bấy giờ đức Phật cảm thấy toàn thân đau nhức, liền bảo tôn giả A Nan:

“Hiện giờ khắp thân thể của Như Lai đều đau nhức. Như Lai chỉ muốn bỏ cái xác thân khô mục này! Này A Nan! Thầy nên biết, những tì-kheo và tì-kheo-ni nào đã tu tập thành tựu bốn phép như ý(26), thì có thể duy trì mạng sống ở thế gian này tròn một kiếp hoặc ít hơn một kiếp; huống gì Như Lai đã đạt đến chỗ sở cầu tự tại!”

Lúc đó tôn giả A Nan đang bị thiên ma che mờ tâm trí, nên không nghe biết gì; thậm chí, đức Phật đã nhắc đi nhắc lại đến ba lần, mà tôn giả vẫn im lặng, không trả lời đức Phật! Cuối cùng, đức Phật bảo tôn giả A Nan, hãy ra ngồi ở một gốc cây, chuyên tâm tư duy quán chiếu về các pháp.

Tức thì, thiên ma Ba Tuần đến trước Phật, cúi đầu đảnh lễ, và bạch rằng:

“Ngày trước tôi đã xin Ngài hãy nhập niết-bàn, Ngài bảo rằng, bốn chúng đệ tử của Ngài là tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc và ưu-bà-di, chưa có đầy đủ, nên chưa vội nhập niết-bàn. Nay bốn bộ chúng của Ngài đã đầy đủ, những người đáng độ Ngài đã độ xong, vậy xin Ngài hãy nhanh chóng nhập niết-bàn.”

Đức Phật nói với ma vương rằng:

“Lành thay, này Ba Tuần! Ông nên biết, sau ba tháng nữa Như Lai sẽ nhập niết-bàn!”

Được đức Phật chuẩn hứa, thiên ma vui mừng hớn hở, liền đảnh lễ chân Phật, rồi trở về thiên cung.

Đức Phật đã hứa với thiên ma, sau ba tháng nữa sẽ nhập niết-bàn. Thế rồi, Ngài liền xả bỏ thọ mạng vô lượng, dùng thần lực duy trì mạng sống đến ba tháng nữa. Ngay lúc đó, đại địa chấn động sáu cách(27), ánh sáng mặt trời bị lu mờ, gió mưa bất thường, trời rồng và cả tám bộ chúng đều kinh hãi, kéo đến chỗ Phật, chật cả hư không.

Tôn giả A Nan trông thấy những hiện tượng khác thường ấy thì lo sợ vô cùng, liền đi nhanh về chỗ đức Phật, bạch rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Vì duyên cớ gì mà bỗng nhiên lại hiện ra những hiện tượng này?”

Đức Phật bảo tôn giả A Nan:

“Vừa rồi ma Ba Tuần đã đến khuyến thỉnh Như Lai hãy nhập niết-bàn. Như Lai đã hứa, cho nên đã xả bỏ thọ mạng, chỉ dùng thần lực để duy trì mạng sống trong ba tháng nữa.”

Tôn giả A Nan bạch Phật:

“Đức Thế Tôn thường dạy: Người đã tu tập thành tựu bốn phép như ý thì có thể duy trì thọ mạng đến tròn một kiếp hoặc ít hơn một kiếp, tùy ý tự tại. Tại sao đức Thế Tôn không trụ thế dài lâu?”

Đức Phật bảo tôn giả A Nan:

“Lúc nãy Như Lai có nói cho thầy điều đó, nhưng ma vương đã che mờ tâm trí thầy, cho nên thầy đã không biết thưa thỉnh. Bây giờ Như Lai đã hứa rồi, không thể trụ thế dài lâu hơn nữa được. Này A Nan! Thầy nên biết, tất cả các pháp đều không thể tồn tại vĩnh viễn!”

Tôn giả A Nan nghe những lời Phật dạy này thì ân hận vô cùng, lòng đau buồn áo não, khóc than thảm thiết, không thể tự kềm chế được!

Thế rồi, đức Phật lại cùng với tôn giả A Nan tiếp tục lên đường du hóa, xuyên qua ranh giới của các vương quốc, đến các thôn ấp xóm làng, nơi nào cũng nói pháp giáo hóa, số dân chúng được hóa độ đông đảo không thể kể xiết. Dần dà đức Phật đi đến thành Câu-thi-na (lãnh thổ của bộ tộc Lực-sĩ), vào rừng Ta-la song-thọ, bên bờ sông Hi-liên, bảo tôn giả A Nan rằng:

“Này A Nan! Thầy hãy trải giường cho Như Lai nằm đầu hướng về phương Bắc. Thân thể của Như Lai hiện rất đau nhức, vào nửa đêm hôm nay Như Lai sẽ nhập niết-bàn!”

Tôn giả A Nan vâng lời Phật dạy, trải giường xong, đức Phật liền nằm xuống, nghiêng người về bên tay phải. Tôn giả thấy đức Phật đã nằm yên rồi, bèn ẩn ở sau Phật, đau buồn khóc than, nước mắt ràn rụa. Đức Phật liền hỏi chư vị tì-kheo:

“Thầy A Nan đâu?”

Chư vị tì-kheo bạch:

“Thầy ấy đang đứng sau lưng đức Thế Tôn, đang đau buồn than khóc.”

Với tâm đại từ, đức Phật dùng Phạm âm nói với tôn giả A Nan rằng:

“Này A Nan! Thầy không nên khóc lóc như trẻ con! Vì sao vậy? Ở trong sinh tử, tất cả đều là như thế. Cho nên hãy chuyên cần tư duy quán tưởng về các pháp. Lâu nay thầy đã hầu hạ Như Lai bằng những hành động của thân, miệng và ý cực kì thuần thiện, chưa từng phạm một mảy may lỗi lầm nào. Từ nay thầy hãy chuyên tâm mong cầu giải thoát, dứt bỏ tâm bi thương, đừng tự đốt mình bằng lửa phiền não!”

Tôn giả A Nan bạch Phật:

“Bạch đức Thế Tôn! Sau khi đức Thế Tôn nhập niết-bàn, cách thức trà-tì phải làm như thế nào?”

Đức Phật dạy:

“Này A Nan! Hãy trà-tì theo cách thức của bậc Chuyển luân thánh vương. Dùng một ngàn tấm lụa sạch sẽ quấn quanh thân Như Lai, rồi rảy dầu thơm bên trong hòm vàng, lại đem hòm vàng để trong hòm bạc, lại đem hòm bạc để trong hòm đồng, lại đem hòm đồng để trong hòm sắt, rồi chất củi thơm mà hỏa thiêu. Hỏa thiêu xong thì thu thập xá-lợi, xây tháp để cúng dường.”

Đức Phật lại bảo tiếp:

“Này A Nan! Bây giờ thầy hãy vào thành, báo tin cho dân chúng bộ tộc Lực-sĩ biết rằng, nửa đêm hôm nay Như Lai sẽ nhập niết-bàn tại đây.”

Tôn giả A Nan vâng lệnh, liền đi vào thành Câu-thi-na, qua các con đường phố lớn nhỏ, đều lớn tiếng tuyên cáo rằng:

“Đức Như Lai, Ứng Cúng, bậc Đạo Sư của ba cõi, vào nửa đêm hôm nay sẽ nhập niết-bàn tại rừng Ta-la song-thọ. Quí vị nào muốn đến lễ bái cúng dường thì bây giờ là thời khắc thích hợp.”

Mọi người nghe như thế thì vô cùng sầu não, than rằng:

“Đức Thế Tôn diệt độ sao mà chóng thế! Từ nay chúng ta đã mất chỗ nương tựa.”

Họ vừa đi vừa khóc trên suốt con đường đi đến chỗ Phật.

Trong lúc đó, tại rừng Ta-la song-thọ, trời, rồng và tám bộ chúng đứng chật cả hư không, tất cả đều đau buồn áo não, đồng than rằng: “Thế gian nay đã mất đức Từ Phụ!” Rồi bảo nhau rằng: “Chúng ta đang còn chìm trong sinh tử, ai sẽ cứu vớt chúng ta đây?”

Lúc bấy giờ, trong thành có một vị phạm-chí tên là Tu Bạt Đà La, đã một trăm hai mươi tuổi, nghe tin vào lúc nửa đêm, đức Phật sẽ nhập niết-bàn tại rừng Ta-la song-thọ, bèn tức tốc đi đến chỗ Phật, thưa với tôn giả A Nan rằng:

“Tôi nghe nói đức Thế Tôn, bậc Nhất Thiết Trí, vào nửa đêm hôm nay sẽ nhập niết-bàn. Tôi có vài điều nghi hoặc, xin tôn giả cho tôi được yết kiến Ngài để thưa hỏi.”

Tôn giả A Nan thầm nghĩ: “Vị phạm-chí này từ lâu đã dính mắc nhiều thứ kiến chấp, chắc chắn hôm nay đến đây muốn cùng với đức Thế Tôn nghị luận; nhưng thân thể đức Thế Tôn đang đau nhức, đâu để ông ấy quấy rầy được!” Tôn giả bèn im lặng, không cho ông vào yết kiến Phật. Ông xin đến ba lần mà tôn giả vẫn im lặng. Nhưng từ xa, đức Phật đã nghe được lời cầu xin của ông, nên bảo tôn giả:

“Thầy hãy cho ông phạm-chí ấy vào! Đó là người đệ tử cuối cùng của Như Lai.”

Được vào yết kiến đức Phật, ông Tu Bạt Đà La vui mừng hớn hở, vội vàng cúi đầu đảnh lễ. Đức Phật giảng cho ông về tám nguyên tắc hành động chân chánh. Nghe xong bài pháp, ông liền chứng quả A-la-hán ngay tại chỗ ngồi. Ông bạch Phật rằng:

“Bạch đức Thế Tôn! Con mong nhờ đức Thế Tôn mà thoát ra khỏi biển khổ sinh tử. Nay con không cam lòng trông thấy đức Thế Tôn nhập niết-bàn, nên xin nguyện diệt độ trước!”

Thế rồi, ông nhập niết-bàn ngay ở trước đức Phật.

Bấy giờ là lúc nửa đêm, đức Phật nói pháp đã xong, thời khắc nhập niết-bàn đã đến, Ngài nói bài kệ rằng:

 

“Các chúng sinh có duyên

Ta đã hóa độ hết

Đêm yên tĩnh an hòa

Giờ niết-bàn đã đến!”

 

Đức Phật nói bài kệ ấy xong, liền nhập vào định Sơ-thiền; rồi ra định Sơ-thiền và vào định Nhị-thiền; ra định Nhị-thiền vào định Tam-thiền; ra định Tam-thiền vào định Tứ-thiền; ra định Tứ-thiền vào định Không-xứ; ra định Không-xứ vào định Thức-xứ; ra định Thức-xứ vào định Vô-sở-hữu-xứ; ra định Vô-sở-hữu-xứ vào định Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ; ra định Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ vào định Diệt-tận.

Bấy giờ, khắp cả chúng hội đều trông thấy toàn thân đức Phật đã bất động, bèn hỏi tôn giả A Na Luật rằng:

“Đức Thế Tôn đã nhập niết-bàn chưa?”

Tôn giả A Na Luật trả lời:

“Đức Thế Tôn đang nhập vào định Diệt-tận.”

Lúc ấy, đức Phật ra khỏi định Diệt-tận, rồi nhập lại vào định Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ; ra định Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ và vào lại định Vô-sở-hữu-xứ; ra định Vô-sở-hữu-xứ và vào lại định Thức-xứ; ra định Thức-xứ và vào lại định Không-xứ; ra định Không-xứ và vào lại Tứ-thiền; ra Tứ-thiền vào lại Tam-thiền; ra Tam-thiền vào lại Nhị-thiền; ra Nhị-thiền vào lại Sơ-thiền; rồi từ Sơ-thiền vào lại Nhị-thiền; ra Nhị-thiền vào Tam-thiền; ra Tam-thiền vào Tứ-thiền; ra Tứ-thiền vào Không-xứ; ra Không-xứ vào Thức-xứ; ra Thức-xứ vào Vô-sở-hữu-xứ; ra Vô-sở-hữu-xứ vào Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ; ra Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ vào định Diệt-tận; ngay nơi định này, đức Phật nhập niết-bàn! Tức thì đại địa chấn động, trời rồng, tám bộ chúng đau buồn, khóc than thảm thiết! Trời Đế Thích và Phạm Thiên Vương bèn nói kệ rằng:

 

“Sinh tử không chân thật

Lừa dối các chúng sinh

Hôm nay đức Mâu Ni

Vất bỏ như đờm dãi”

 

Bấy giờ các chúng sinh nói với nhau rằng: “Đức Thế Tôn diệt độ sao mà chóng thế! Lao ngục ba cõi còn biết nhờ ai mà được giải thoát!” Trong số các chúng sinh đó, có người thì lăn lộn trên mặt đất, có người thì ném bỏ chuỗi ngọc, có người thì vò đầu bức tóc, đấm ngực kêu gào.

Thế rồi tôn giả A Nan đi vào thành Câu-thi-na, thông báo cho khắp dân chúng bộ tộc Lực-sĩ rằng: “Vào nửa đêm hôm qua, đức Thế Tôn đã nhập niết-bàn. Quí vị nên cúng dường lễ trà-tì.” Dân chúng trong thành nghe tôn giả A Nan nói thế thì vô cùng buồn khổ, đều theo tôn giả đến rừng Ta-la. Họ hỏi tôn giả về cách thức trà-tì nhục thân của đức Phật. Tôn giả trả lời: “Hôm qua tôi đã thưa hỏi đức Thế Tôn về việc này. Ngài dạy, hãy làm theo cách thức trà-tì nhục thân một vị Chuyển luân thánh vương.” Rồi tôn giả đem lời dạy của đức Phật, tuần tự thuật lại cho họ biết. Họ liền sắm sửa đầy đủ các thứ để cúng dường, mọi việc đều làm đúng theo lời chỉ bảo của tôn giả A Nan, cho đúng với cách thức trà-tì nhục thân một vị Chuyển luân thánh vương.

Trong khi đó, ở trên thiên cung, đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da thấy hiện ra năm tướng suy hoại: 1) Hoa trên đầu héo úa; 2) Dưới nách chảy mồ hôi; 3) Ánh sáng trên đỉnh đầu tắt mất; 4) Đôi mắt nhấp nháy liên hồi; 5) Không thích chỗ ngồi của mình nữa. Và cũng ngay trong đêm ấy, bà còn thấy năm giấc mộng dữ: 1) Mộng thấy núi Tu-di sụp đổ, nước bốn biển khô cạn; 2) Mộng thấy có nhiều quỉ la-sát, tay cầm dao bén, tranh nhau khoét mắt chúng sinh; lúc ấy, một ngọn gió đen thổi đến, đuổi hết các quỉ la-sát chạy vào núi Tuyết; 3) Mộng thấy chư thiên ở cõi Dục và cõi Sắc, bỗng nhiên mất chiếc mũ quí báu, xâu chuỗi ngọc anh lạc bị đứt, chỗ ngồi không yên ổn, thân mất ánh sáng, giống như đống mực; 4) Mộng thấy viên ngọc như ý ở trên trụ cờ cao, thường rơi châu báu xuống để chu cấp cho tất cả, nay có bốn con rồng độc dữ, miệng phun ra lửa, thổi ngã trụ cờ kia và nuốt mất viên ngọc như ý, rồi một ngọn gió lốc thổi mạnh đến, xô bốn con rồng ấy chìm xuống vực sâu; 5) Mộng thấy năm con sư tử từ trên không nhảy xuống, cắn ngực bà, rồi chui vào hông bên trái của bà, khiến thân tâm bà đau đớn như bị dao cắt.

Đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da thấy năm giấc mộng dữ ấy xong, liền tỉnh dậy trong nỗi kinh hoàng! Bà tự nói với mình rằng: “Sao trong giấc ngủ, ta bỗng nhiên mộng thấy những việc chẳng lành, khiến cho thân tâm ta bất an! Ngày xưa, ở vương cung vua Tịnh Phạn, ta đã thấy một giấc mộng lành hi hữu. Ta mộng thấy một vị thiên tử thân màu hoàng kim, cỡi voi trắng, có các vị thiên tử khác tùy tùng, trỗi nhạc vi diệu, làm lu mờ ánh sáng mặt trời, chui vào hông phải của ta, khiến cho thân tâm ta vô cùng an lạc. Liền đó ta mang thai, rồi sinh ra thái tử Tất Đạt Đa, làm vinh hiển dòng tộc, soi sáng thế gian. Hôm nay thì năm giấc mộng này thật là đáng sợ. Chắc chắn đây là điềm dữ báo cho biết, con ta là Thích Ca Như Lai đã nhập niết-bàn!” Bà liền thuật lại năm giấc mộng dữ ấy cho các vị thiên tử nghe.

Bấy giờ, tôn giả A Na Luật thấy nhục thân của Phật đã nhập vào kim quan, liền lên cung trời Đao-lợi, đến chỗ của thánh mẫu Ma Ha Ma Da, nói bài kệ rằng:

 

“Bậc Đạo Sư tối thắng

Khéo dìu dắt chúng sinh

Nay đã xả thân mạng

Trong biển lớn vô thường

Tại rừng cây Ta-la

Gần thành Câu-thi-na

Nhục thân sẽ trà-tì

Cửa Đông thành Câu-thi

Trời người tám bộ chúng

Đau buồn khóc thảm thiết”

 

Tôn giả A Na Luật nói xong bài kệ ấy, liền trở về lại rừng Ta-la; còn thánh mẫu Ma Ha Ma Da, sau khi nghe tôn giả A Na Luật nói bài kệ ấy xong thì ngất xỉu, ngã lăn trên mặt đất, các thiên nữ phải lấy nước lạnh vẩy lên mặt bà, hồi lâu bà mới tỉnh lại. Bà vò đầu bứt tóc, vất bỏ đồ trang sức, buồn khóc nước mắt chảy ràn rụa. Rồi bà nói rằng: “Đêm hôm qua ta nằm mộng thấy năm việc dữ, ta đoán chắc đức Phật đã nhập niết-bàn. Quả nhiên hôm nay tôn giả A Na Luật đến báo cho biết đức Phật đã nhập diệt tại rừng Ta-la song-thọ; và không bao lâu nữa sẽ làm lễ trà-tì. Sao mà đau khổ dường này! Con mắt của thế gian diệt mất sao mà chóng thế! Đám ruộng phước của trời người giờ đây không còn nữa! Ngày xưa nơi vương cung vua Tịnh Phạn, ta mới sinh thái tử được bảy ngày thì liền mạng chung, chưa kịp bồng bế để biểu lộ tình mẹ con; đành phải phó thác thái tử cho Ma Ha Ba Xà Ba Đề, vốn là dì ruột của thái tử, thay ta dưỡng nuôi. Lớn lên đến mười chín tuổi, một hôm, vào nửa đêm, thái tử vượt thành ra đi, khiến cho khắp cả trong ngoài hoàng cung đều đau buồn thương nhớ. Sau đó thì Ngài chứng thành đạo quả, mở con mắt trí tuệ cho thế gian, che chở cho mọi loài chúng sinh giống như đấng cha lành. Thế mà vì sao bỗng chốc lại nhập niết-bàn! Quỉ dữ vô thường thật là hung bạo, đã hại mất người con Chánh Giác của ta!”

Thế rồi, ở giữa chúng, bà nói kệ rằng:

 

“Ta từ vô lượng kiếp

Cùng Ngài làm mẹ con

Nay Ngài thành Chánh Giác

Duyên này mới dứt hẳn

Và rồi bây giờ đây

Ngài lại nhập niết-bàn

Ví như cây cao lớn

Muôn chim làm chỗ trú

Buổi sáng bay tứ tán

Tối lại tụ tập về

Cùng nơi cây sinh tử

Ta, Ngài làm mẹ con

Ngài chứng thành đạo quả

Lìa hẳn cội cây này

Nay lại nhập niết-bàn

Không còn gặp nhau nữa”

 

Thánh mẫu Ma Ha Ma Da nói bài kệ ấy xong thì khóc than vô cùng áo não, không thể tự chế được. Bà liền cùng với vô lượng thiên nữ tấu thiên nhạc vi diệu, đốt hương, rải hoa, ca tụng tán thán, từ hư không xuống rừng Ta-la song-thọ. Từ xa, vừa nhìn thấy kim quan của Phật, bà lại hôn mê bất tỉnh, các thiên nữ phải vẩy nước vào mặt để cho bà tỉnh lại. Rồi bà tiến đến kim quan, cúi đầu đảnh lễ. Bà lại buồn khóc thảm thương, nước mắt ràn rụa, nói rằng: “Từ vô lượng kiếp trong quá khứ đến nay, từng làm mẹ con, chưa bao giờ xa cách; bỗng chốc hôm nay không còn thấy nhau nữa! Khổ thay! Chúng sinh đã hết phước, vẫn đang mê muội, ai sẽ là người dìu dắt họ đây!”

Mở trong trình đọc kinh