PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH THIỂN THÍCH

Mỗi bộ kinh có tên riêng và tên chung. Tên riêng thì chỉ đặc biệt bộ kinh ấy có; tên chung là tên phổ thông kinh nào cũng có. Tên nêng là gì? Như tên “Phật thuyết A Di Đà” chính là tên riêng, chỉ có bộ kinh này được gọi thôi, còn những kinh khác thì…

—— Trích đoạn PHẬT THUYẾT A DI ĐÀ KINH THIỂN THÍCH

 

Giới thiệu chung

Được xếp vào hàng ngũ những tác phẩm triết học kinh điển, văn bản này mở ra những góc nhìn sâu sắc về đạo lý nhân quả và sự vận hành của vũ trụ theo thế giới quan phương Đông. Hoàn cảnh ra đời của tài liệu gắn liền với mục đích truyền bá thông điệp về lòng từ bi, khích lệ con người quay về nương tựa vào sức mạnh của tự tâm. Nội dung cốt lõi truyền tải một phương thức sống tỉnh thức, hướng dẫn chi tiết cách đối trị với những cảm xúc tiêu cực và những cám dỗ thường nhật. Thông qua cách lập luận logic và chặt chẽ, tác phẩm đã bẻ gãy những bám víu sai lầm, gọt rửa đi bao nỗi phiền muộn đang trói buộc tinh thần. Về mặt ý nghĩa, nó đóng vai trò như dòng nước thanh lương, nuôi dưỡng những phẩm chất cao quý và dọn đường cho trí tuệ bừng sáng rực rỡ. Đối với lịch sử tôn giáo, đây là nền tảng vững chắc để xây dựng các hệ phái tư tưởng đa dạng, kết nối con người với những giá trị đạo đức phổ quát. Qua nhiều thế hệ, sự tôn kính dành cho tác phẩm chưa bao giờ suy giảm, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một chân lý thực thụ. Tổng quan, đây là cẩm nang tâm linh không thể thiếu, dẫn dắt hành giả tới bến bờ của sự giải thoát rốt ráo.

Nội dung kinh

Mỗi bộ kinh có tên riêng và tên chung. Tên riêng thì chỉ đặc biệt bộ kinh ấy có; tên chung là tên phổ thông kinh nào cũng có.

Tên nêng là gì?

Như tên “Phật thuyết A Di Đà” chính là tên riêng, chỉ có bộ kinh này được gọi thôi, còn những kinh khác thì không. “Kinh” là tên chung, tên chung này kinh nào cũng có. “Chung” là chung của các kinh, “riêng” là chỉ riêng của kinh này.

Không nên xem thường bộ kinh này, vì nó là kinh thường tụng đọc vào thời khóa chiều trong tòng lâm, nhất là kinh này lại là của Phật nối.

Có năm hạng người có thể nói kinh: l/ Phật; 2/ Đệ tử Phật; 3/ Người trên trời; 4/ Tất cả người, trời; 5/ Người biến hóa ra.

Trừ kinh của Phật nói ra, kinh điển của bốn hạng người kia nói phải qua sự ấn chứng của Phật mới được gọi là kinh, nếu không thì không thể gọi là kinh được.

Kinh này là từ kim khẩu của Phật giảng nói lý vi diệu không cần phải thưa thỉnh. Các kinh điển khác phải có người thưa hỏi Phật mới nói ra; chỉ riêng Kinh A Di Đà này là không có ai thưa hỏi, Phật tự nói ra. Tại sao thế? Vì nghĩa lý kinh này rất huyền diệu, trí huệ của hàng Thanh văn không thể đạt đến dược, tất cả hàng Bồ tát cũng không thể hiểu rõ, cho nên không có nhơn duyên người thưa hỏi về pháp môn Tịnh độ. Chỉ vì pháp môn này đáng được nói ra, cho nên Đức Phật xem thấy căn cơ thành thục bèn tự nói kinh này. Kinh này vì thế rất trọng yếu trong Phật giáo.

Tại sao kinh này lại rất trọng yếu?

Khi Phật pháp sắp diệt, diệt trước nhất là Kinh Lăng Nghiêm, vì tất cả Ma vương đều rất sợ chú Lăng Nghiêm. Sau Kinh Lăng Nghiêm diệt, các kinh khác lần lượt diệt theo. Lúc bấy giờ dù có giấy đi nữa, nhưng trên giấy không có chữ.. Sau cùng chỉ còn Kinh A Di Đà lưu lại thế gian 100 năm để hóa độ vô lượng vô biên chúng sanh mà thôi Nhưng rồi Kinh A Di Đà cũng diệt đi, chỉ còn sáu chữ hồng danh “Nam mô A Di Đà Phật” lưu lại trên thế giới này hơn 100 năm nữa. Nhờ sáu chữ hồng danh này mà rất nhiều người được độ, có đến số vô lượng vô biên. Sau đó, trong sáu chữ hồng danh lại mất đi hai chữ “Nam mô”, chỉ còn “A Di Đà Phật” lưu lại 100 năm nữa, sau đó Phật pháp mới diệt hẳn. Kinh này diệt sau cùng nên là kinh rất trọng yếu trong Phật pháp.

Phật là gì?

Phật là bậc đại giác, giác ngộ tất cả pháp không có mảy may mê lầm.

Phật là bậc nghiệp hết tình không, không còn nghiệp chướng nữa, tình hoặc cũng rỗng không. Phàm phu là kẻ nghiệp nặng tình mê, đắm trước tình ái nên gọi là chúng sanh. Phật có đủ ba giác ngộ nên là baäc Đại giác.

Ba giác ngộ là:

1. Bản giác: Vốn đã là giác ngộ.

2. Thỉ giác: Mới giác ngộ.

3. Cứu cánh giác: Giác ngộ đến cực điểm.

Ba giác ngộ này có thể nói là: Tự giác, Giác tha, Giác hạnh viên mãn.

Hàng phàm phu chúng ta là bất giác, một ngày từ sáng đến tối tự cho là thông minh, nhưng kỳ thực là kẻ ngu si không biết gì cả. Cũng giống như tự cho mình là thầng bạc, nhưng sự thực là thua. Tại sao lại điên đảo như thế? Tại vì quá mê lầm. Biết rõ việc ấy sai mà vẫn cứ làm, đó là vì quá mê vậy. Càng mê càng lún sâu, càng lún sâu càng mê thêm. Phải làm sao đây?

Cần phải giác ngộ mới được.

Phật cũng là một phần tử trong chúng sanh, cũng là một chúng sanh, nhưng Ngài không mê. Ngài tự mình giác ngộ, đó là tự giác. Người tự giác không giống với phàm phu, cũng chính là người Nhị thừa: Thanh văn, Duyên giác.

Người Nhị thừa là bậc tự ngộ, tự giác mà không giác tha, cho nên gọi là Thanh văn thừa. Giác tha chính là Bồ tát. Bồ tát không phải vì tự mình, không giống với hàng Nhị thừa là bậc tự liễu ngộ, tự mình giác ngộ rồi không muốn cho người khác cũng giác ngộ. Bồ tát phát tâm không giống như thế, Bồ tát phát tâm muốn làm lợi ích cho tất cả chúng sanh mà không cần chúng sanh làm lợi ích cho chính mình. Đó là dùng phương pháp tự mình giác ngộ đem giáo hóa chúng sanh, khiến cho tất cả chúng sanh cũng đều giác ngộ không còn mê mờ nữa, đó là thực hành Bồ tát đạo.

Người Nhị thừa tu về Khổ Tập Diệt Đạo và 12 nhân duyên. Sao gọi là 12 nhân duyên? Mười hai nhân duyên là Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sanh, Sanh duyên Lão tử.

Mười hai nhân duyên này từ đâu mà có? Từ Vô minh mà có. Nếu anh không có Vô minh thì 12 nhân duyên này không thể phát sinh tác dụng được. Tại vì anh có Vô minh nên cái này kéo theo cái khác mà có. Hàng Nhị thừa tu chính là những pháp này. Còn Bồ tát thì vượt qua giai đoạn này, các Ngài tu Lục độ vạn hạnh, như:

1. Bố thí độ xan tham: Nếu người muốn hết tham lam thì phải bố thí, bỏ không được cũng phải bỏ. Không bỏ chính là vì tham lam nên bỏ không được. Cho nên nói bố thí độ xan tham.

2. Trì giới độ hủy phạm.

3. Nhẫn nhục độ giận dữ: Nếu anh tánh tình hay giận, thì phải nên tu hạnh nhẫn nhục. Phàm gặp việc phải nhẫn nại, không nên cả ngày giống như A tu la, không nói được lời nào hòa nhã, nói ra thì mắt trợn trừng giống như mắt bò. Đó đều là cảnh giới của A tu la.

4. Tinh tấn độ giải đãi: Nếu giải đãi cần phải tu tinh tấn để đẩy lùi giải đãi đi.

5. Thiền định độ tán loạn: Nếu anh cứ vọng tưởng lung tung thì phải tu Thiền định. Nếu không có vọng tưởng thì tán loạn cũng không, điều cần nhứt là anh phải có trí huệ.

6. Trí huệ độ ngu si: Có trí huệ thì không còn ngu si nữa, nếu ngu si thời không có trí huệ. Ta trước nay không có trí huệ, mà nay có trí huệ, chính là độ ngu si đấy, như ánh sáng đẩy lùi bóng tối vậy. Ánh sáng là trí huệ, bóng tối là ngu si.

Bồ tát tu Lục độ vạn hạnh, tự giác giác tha, khác với hàng Nhị thừa là chỗ này.

Giác mãn chính là Diệu giác, là Phật. Phật tự giác, cũng giác tha, cho nên Phật là Giác hạnh viên mãn. Phật nếu nói đầy đủ là Phật-đà-gia, vì người Trung Quốc thích nói gọn cho nên gọi tắt là Phật, người Tây phương nói Buddha cũng là nói tắt của Phật-đà-gia.

Nói tới nói lui có người lại nói: Tôi không hiểu.

Tôi xin nói cho anh biết: Anh chính là Phật đó!

Anh nói: Sao tôi không biết?

– Anh không biết mình là Phật cũng phải. Chỉ vì Phật của anh không phải là Phật đã thành, mà là Phật chưa thành.

Nói đến đây anh mới hiểu: A! Té ra Phật là người thành, vậy ai ai cũng có thể tu hành thành Phật được.

Người nếu giác ngộ chính là Phật; trái lại, bèn là chúng sanh.

Phật còn có ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông. Chúng ta là chúng sanh, dù có tánh Phật, đều có thể thành Phật, mà vì chưa chứng được quả Phật nên không có ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông này. Phật là từ phàm phu tu hành đến quả vị Phật mới đầy đủ những thứ kể trên. Cho nên có người nói: “Tôi đây chính là Phật”, đó thiệt là ngu si quá mức! Anh ta chưa được thành Phật mà lại nói ta đây là Phật, rõ ràng là dối mình dối người. Thật là kẻ đại ngu si trên thế giới. Tuy mọi người đều có thể thành Phật, nhưng ai nấy đều phải tu hành có đủ ba thân, bốn trí mới có thể thành Phật, chẳng phải chỉ có năm nhãn hoặc một ít thần thông mà thành Phật được.

Ba thân là: l/ Pháp thân, 2/ Báo thân; 3/ Hóa thân.

Bốn trí là: l/ Đại viên cảnh trí, 2/ Diệu quan sát trí, 3/ Thành sở tác trí; 4/ Bình đẳng tánh trí.

Sáu thông là: l. Thiên nhãn thông: Cố thể thấy được tất cả hành động của trời và người.

2. Thiên nhĩ thông: Có thể nghe thấy những tiếng nói và thanh âm của người ở trên trời.

3. Tha tâm thông: Có thể biết được những ý tưởng trong lòng người khác.

4. Túc mạng thông: Chẳng phải chỉ biết hiện tại, mà cả đến quá khứ cũng biết nốt.

5. Thần túc thông (còn gọi: Thần cảnh thông): Thứ thần thông này không thể nghĩ bàn, cảnh giới rất vi diệu.

6. Lậu tận thông: Giống như là dưới đáy bình có một lỗ hổng, nước dều từ lỗ hổng đó chảy ra hết. Nay đây không còn rịn chảy nữa, vì chỗ rò rỉ ấy đã bịt kín, nên gọi là Lậu tận.

Những gì là Lậu tận? Tức là không có tâm dâm dục thì là không có lậu; không có tâm tham cũng là không có lậu; không có tâm si cũng là không có lậu. Tóm lại, tám vạn bốn ngàn những bịnh vặt vãnh đều không có, gọi là Vô lậu.

Năm nhãn là: l/ Thiên nhãn; 2/ Nhục nhãn; 3/ Huệ nhãn; 4/ Pháp nhãn; 5/ Phật nhãn.

Có bài kệ nói về năm nhãn như thế này: l. “Thiên nhãn thông không ngại”: Thiên nhãn thông suốt không ngăn ngại, cho nên gọi là “thông không ngại”. Người ấy có thể nhìn thấy các việc trong tám vạn đại kiếp, nhưng không thể thấy được việc ngoài tám vạn đại kiếp.

2. “Nhục nhãn ngại không thông”: Nhục nhãn có thể nhìn thấy cảnh tượng có chướng ngại. Trái lại, Thiên nhãn có thể nhìn thấy cảnh tượng không chướng ngại.

3. “Pháp nhãn chỉ quán tục”: Pháp nhãn là quán Tục đế, quán sát tất cả Tục đế ở thế gian, đạo lý thế tục.

4. “Huệ nhãn rõ chơn không”: Huệ nhãn còn kêu là Trí huệ nhãn, hay rõ rành Chơn không.

5. “Phật nhãn ngàn mặt nhật; Chiếu khác, thể lại đồng”: Phật nhãn không phải chỉ ở trên mặt Đức Phật mới có, mỗi chúng ta đều có Phật nhãn, chỉ có điều mở hay chưa mở mà thôi. Khi Phật nhãn mở ra, khác nào ánh sáng ngàn mặt trời, có thể chiếu soi vạn sự vạn vật, nhưng bản thể lại là đồng nhau.

Phật là người đủ ba thân, bốn trí, năm nhãn, sáu thông; nếu anh nói mình là Phật thì phải đủ những thứ trên mới có thể nói là thành Phật được, không như thế chỉ là phàm phu. Nếu muốn làm người tốt thì không nên gạt gẫm người khác.

Phật Thích Ca Mâu Ni là Giáo chủ của thế giới Ta Bà. Thế giới Cực Lạc mà Ngài nói đến có Giáo chủ là Phật A Di Đà. Cõi nước ấy rất trang nghiêm, mặt đất bằng vàng ròng.

Thế nào gọi là thế giới Ta Bà?

Ta Bà là tiếng Ấn Độ, dịch sang tiếng Trung Quốc là Kham Nhẫn, có nghĩa là thế giới Ta Bà khổ như thế, chúng sanh khó làm cũng kham nhẫn thọ những khổ ấy. Thế giới Ta Bà chính là thế giới mà chúng ta đang ở, có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni làm Giáo chủ. Thích Ca là họ của Phật, Mâu Ni là tên của Phật. Những họ tên này đều là tiếng Phạn, dịch sang tiếng Trung Quốc là Năng Nhơn. Sao gọi là Năng Nhơn? Ấy chính là hay dùng lòng nhơn thương người để giáo hóa chúng sanh, cũng chính là lòng từ bi. Từ hay cho vui, Bi hay cứu khổ, hay dứt trừ nỗi khổ của chúng sanh mà ban cho họ những vui sướng.

Bi có ba thứ: l. Ái kiến bi: Lòng bi này phàm phu đều có đủ, đó cũng là một thứ tâm đồng tình, gọi là Ái kiến đồng tình.

Sao gọi là Ái kiến bi?

Những người nào gần gũi anh thì anh yêu mến họ, thương xót họ; khi họ xa anh thì anh không yêu mến, không thương xót họ nữa. Những bạn bè thân thích anh đều có thể giúp đỡ họ, khi thấy họ đau khổ anh cố hết sức mình giúp đỡ họ, đó gọi là Ái kiến bi. Nhưng khi họ xa anh, hoặc không liên can gì đến anh, khi họ có đau khổ, anh cũng bỏ mặc. Tại sao thế? Tại vì đối với họ anh không có lòng yêu mến (ái). Có yêu mến anh mới có thứ Bi này. Hơn nữa, họ đồng loại với anh, anh mới có thứ Ái kiến bi này, nếu không đồng loại anh sẽ không có lòng Bi ấy. Như đối với súc sanh: bò, dê, gà, ngỗng. . . anh không những không có ái kiến bi, mà còn muốn ăn thịt nó, cướp lấy sinh mạng nó để nuôi dưỡng sinh mạng của chính mình, đó là vì không có ái kiến bi. May mắn nhân loại còn không đến nỗi ăn thịt đồng loại của mình. Tuy ăn bò, dê, gà, ngỗng, cá… nhưng chưa có tình hình người ăn thịt người, cũng chưa thấy có một người nào ăn thịt người khác, như vậy còn khá hơn là hổ, báo, sói một tí. Nhưng hổ báo cũng không ăn thịt đồng loại của nó. Nhân đó, người không ăn thịt người mà chỉ ăn thịt súc vật, chỉ vì đối với súc vật không có lòng ái kiến bi mà ra.

2. Pháp duyên bi: Lòng Bi này của hàng Nhị thừa. Hàng Nhị thừa không chỉ có Ái kiến bi mà còn có Pháp duyên bi. Họ quán tất cả pháp đều là từ nhân duyên sinh. Nhưng nhân duyên không có tánh, đương thể tức không, tức là ngay nơi bản thân của nhân duyên không có tự tánh nên “đương thể tức không”. Hàng Nhị thừa quán pháp “Duyên không” mà sanh tâm Bi cho nên họ giáo hóa chúng sanh mà không dính mắc ở tướng chúng sanh, vì tất cả đều là không. Đó là Pháp duyên bi của hàng Nhị thừa.

3. Đồng thể bi: Chư Phật, Bồ tát còn có một thứ Bi nữa, tức là Đồng thể đại bi. Chư Phật, Bồ tát cùng chúng sanh đồng thể, nhơn vì Pháp thân của Phật cùng khắp tất cả chỗ, tâm tánh của Phật cũng cùng khắp tất cả chỗ, nên chúng sanh đều bao gồm ở trong tâm tánh của Phật. Chúng ta là chúng sanh trong tâm Phật, Phật là Phật trong tâm chúng sanh. Tâm chúng sanh cùng tâm Phật đều là “dọc cùng ba tế, ngang khắp mười phương” như nhau.

Vì thế giữa Phật và chúng sanh là đồng thể, không có sai khác. Đây là Đồng thể đại bi.

Năng nhơn của Phật Thích Ca Mâu Ni đủ cả ba thứ Bi ở trên, nếu nói rộng ra thì là vô lượng vô biên. Mâu Ni là tên của Phật. Đây cũng là tiếng Phạn, Trung Quốc dịch là Tịch Mặc. Tịch là lặng lẽ không lay động. Mặc là miệng không nói năng, chẳng những miệng không nói mà tâm cũng không nghĩ, đó là cảnh giới không thể nói dụ. Cho nên Đức Phật Thích Ca Mâu Ni dù là nói pháp, nhưng nói mà chưa từng nói; dù chưa nói pháp cũng là chưa nói mà đã nói. “Nói mà không nói, không nói mà nói”. Đó là tịch mặc, dù lặng lẽ không động mà lại cảm, mà bèn thông, dù cảm mà bèn thông lại hằng nhiên không động. Đó là tên đặc biệt Thích Ca Mâu Ni, chỉ có Đức Phật này có tên đó. Đức Phật khác thì không gọi tên này. Đây là tên riêng. Phật là tên chung. Hễ được thành Phật thì đều gọi chung là Phật.

Bây giờ giảng về chữ “Thuyết”. Thế nào gọi là thuyết? Vì sao cần phải thuyết?

Về chiết tự, chữ “Thuyết” là chữ Ngôn nằm bên chữ Đoái. Hai chấm trên là chữ Nhơn có nghĩa là người, chữ Khẩu ở giữa có nghĩa là nói, còn chữ Nhơn ở dưới là người khác. Có nghĩa là một người nói chuyện với một người khác. Nói những chuyện gì? Nói những lời anh muốn nói. Ấy là nói những điều vui thích trong lòng vậy, cũng chính là anh nói được những điều mình muốn nói anh sẽ vui thích vậy. Trái lại, nếu nói không được thì sẽ không vui thích. Cũng chính là vui thích những điều mình muốn nói, sướng khoái vì được nói ra những điều mà mình đã từng ôm ấp bấy lâu nay.

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *