PHẬT NÓI KINH LẠC TƯỞNG

Nghe như vầy: Một thời Bà Già Bà ở tại rừng cây ông Kỳ Ðà, vườn ông Cấp Cô Ðộc, nước Xá Vệ. Bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo: –Có các Sa môn, Bà la môn đối với địa có địa tưởng, ưa thích địa, chấp cho địa là ngã. Kẻ ấy nói: “Ðịa là ngã”. Ta nói…

—— Trích đoạn PHẬT NÓI KINH LẠC TƯỞNG

 

Giới thiệu chung

Được xếp vào hàng ngũ những tác phẩm triết học kinh điển, văn bản này mở ra những góc nhìn sâu sắc về đạo lý nhân quả và sự vận hành của vũ trụ theo thế giới quan phương Đông. Hoàn cảnh ra đời của tài liệu gắn liền với mục đích truyền bá thông điệp về lòng từ bi, khích lệ con người quay về nương tựa vào sức mạnh của tự tâm. Nội dung cốt lõi truyền tải một phương thức sống tỉnh thức, hướng dẫn chi tiết cách đối trị với những cảm xúc tiêu cực và những cám dỗ thường nhật. Thông qua cách lập luận logic và chặt chẽ, tác phẩm đã bẻ gãy những bám víu sai lầm, gọt rửa đi bao nỗi phiền muộn đang trói buộc tinh thần. Về mặt ý nghĩa, nó đóng vai trò như dòng nước thanh lương, nuôi dưỡng những phẩm chất cao quý và dọn đường cho trí tuệ bừng sáng rực rỡ. Đối với lịch sử tôn giáo, đây là nền tảng vững chắc để xây dựng các hệ phái tư tưởng đa dạng, kết nối con người với những giá trị đạo đức phổ quát. Qua nhiều thế hệ, sự tôn kính dành cho tác phẩm chưa bao giờ suy giảm, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của một chân lý thực thụ. Tổng quan, đây là cẩm nang tâm linh không thể thiếu, dẫn dắt hành giả tới bến bờ của sự giải thoát rốt ráo.

Nội dung kinh

Nghe như vầy:

Một thời Bà Già Bà ở tại rừng cây ông Kỳ Ðà, vườn ông Cấp Cô Ðộc, nước Xá Vệ. Bấy giờ đức Thế Tôn bảo các Tỳ kheo:

–Có các Sa môn, Bà la môn đối với địa có địa tưởng, ưa thích địa, chấp cho địa là ngã. Kẻ ấy nói: “Ðịa là ngã”. Ta nói kẻ ấy chưa biết được thủy, hỏa, phong, Thiên thần, Phạm thiên, A Bà thiên, A Tỳ bà thiên; đối với tịnh có tịnh tưởng, ưa thích tịnh, chấp tịnh là ngã. Kẻ ấy nói: “Tịnh là ngã”. Ta bảo kẻ ấy chưa biết Hư không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Vô tưởng xứ, hoặc một, hoặc nhiều, hoặc riêng thấy, nghe hay biết được quán giác hạnh, từ đời này đến đời sau, từ đời sau đến đời này. Kẻ ấy có tưởng này nên ưa thích nó, vì ưa thích nó, vì ưa thích nó nên chấp nó là ngã. Kẻ ấy đã hoàn toàn chấp nó là ngã rồi, ta bảo kẻ ấy (thật sự) chưa biết nó.

Có các Sa môn, Bà la môn chấp địa là thần thông, không thích địa, do không thích địa nên không chấp địa là ngã. Kẻ ấy không bảo rằng: “Ðịa là ngã”. Ta nói kẻ ấy đã biết thủy, hỏa, phong, Thiên thần, Phạm thiên, A Bà thiên, A Tỳ bà thiên. Cho tịnh là thần thông, không thích tịnh, vì không ưa tịnh nên không cho tịnh là ngã, ta bảo rằng kẻ ấy đã biết Hư không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Vô tưởng xứ, hoặc một, hoặc nhiều, hoặc riêng thấy, nghe hay biết được quán giác hạnh, từ đời này đến đời sau, từ đời sau đến đời này, kẻ ấy vận dụng tất cả thần thông, tỏ ý không thích, cũng không ưa, cũng không chấp là ngã, cũng không bảo rằng: “Ðó là ngã”. Ta bảo kẻ ấy đã biết tất cả.

Lại nữa, ta cho địa là thần thông, không thích địa, không ưa địa, không cho địa là ngã, ta không chấp địa, ta đã biết thủy, hỏa, phong, Thiên thần, Phạm thiên, A Bà thiên, A Tỳ bà thiên, các thần thông ấy không cho là tịnh, vì không cho là tịnh nên không chấp tịnh là ngã. Ta đã biết được Hư không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Vô tưởng xứ, hoặc một, hoặc nhiều, hoặc riêng thấy, nghe hay biết được quán giác hạnh, từ đời này đến đời sau, từ đời sau đến đời này, tất cả thần thông đều không ưa thích, vì không ưa thích nên không chấp là ngã. Cho nên ta đã biết chúng.

Ðức Phật thuyết như vậy, các Tỳ kheo nghe đức Thế Tôn đã thuyết, hoan hỷ vui mừng, dứt sạch nguyên nhân chấp ngã.

PHẬT NÓI KINH LẠC TƯỞNG


Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *