![]()
“Này các vị khất sĩ, sắc thân này không phải là ngã. Nếu sắc thân này là ngã, thì sắc thân này không thể bị bệnh khổ, và hành giả có thể ra lệnh cho sắc thân mình rằng: ‘Sắc thân của tôi hãy như thế này, sắc thân của tôi đừng như thế kia’. Nhưng vì sắc thân là vô ngã, nên sắc thân mới bị bệnh khổ, và không một ai có thể điều khiển được sắc thân rằng: ‘Sắc thân của tôi hãy như thế này, sắc thân của tôi đừng như thế kia’.
Cũng như thế, này các vị khất sĩ, cảm thọ, tri giác, tâm hành và ý thức đều không phải là ngã. Nếu ý thức là ngã, thì ý thức không thể bị bệnh khổ, và người hữu tình có thể ra lệnh cho ý thức rằng: ‘Ý thức của tôi hãy như thế này, ý thức của tôi đừng như thế kia’. Nhưng vì ý thức là vô ngã, nên ý thức mới bị bệnh khổ, và chẳng thể có một thực thể nào cưỡng lại được quy luật để ra lệnh rằng: ‘Ý thức của tôi hãy như thế này, ý thức của tôi đừng như thế kia’.
Vậy nên, này các vị khất sĩ, bất cứ sắc thân nào, cảm thọ nào, tri giác nào, tâm hành nào, hay ý thức nào — dù quá khứ, tương lai hay hiện tại; dù bên trong hay bên ngoài; dù thô hay tế; dù thấp hay cao; dù xa hay gần — tất cả cần phải được quán chiếu bằng trí tuệ đúng đắn rằng: ‘Cái này không phải là tôi, cái này không phải là của tôi, cái này không phải là tự ngã của tôi’.”
—— Trích đoạn KINH VÔ NGÃ TƯỚNG
Bài giảng này là một tài liệu mang tính bước ngoặt, được thuyết giảng ngay sau bài pháp đầu tiên, nhằm phá vỡ hoàn toàn ảo tưởng về một cái tôi thường hằng và độc lập. Nội dung tập trung phân tích năm uẩn gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức, chỉ ra rằng không có bất kỳ yếu tố nào trong số này có thể được xem là tự ngã hay sở thuộc của ngã, bởi lẽ tất cả đều luôn biến diệt và nằm ngoài khả năng kiểm soát tuyệt đối. Qua quá trình quán chiếu sâu sắc, người nghe nhận chân được sự trống rỗng của vạn pháp, từ đó buông bỏ lòng tham ái và chấp thủ, dẫn đến sự thanh tịnh hoàn toàn của tâm thức. Tác phẩm giữ vai trò then chốt trong việc xác lập triết lý cốt lõi của Phật giáo, phân biệt rõ ràng con đường này với các hệ thống tư tưởng truyền thống khác vốn tin vào một linh hồn bất tử. Ý nghĩa lớn lao của bản văn nằm ở chỗ nó cung cấp chìa khóa tuệ giác tối hậu, giúp hành giả trực tiếp cắt đứt cội rễ của luân hồi và chứng ngộ quả vị giải thoát ngay trong kiếp sống hiện tại.
Tôi được nghe như vầy: một thuở nọ, Đức Thế Tôn đang ngụ tại vườn Nai, ở Isipatana gần Bénarès. Lúc bấy giờ Thế Tôn nói với năm vị Tỳ Kheo:
“Này các thầy, sắc không phải là ta, là tự ngã. Nếu sắc là ta thì sắc sẽ không gây đau khổ (bệnh tật) và đối với thân thể ta có thể ra lệnh: ” Thân tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”. Thế nhưng, bởi vì thân thể không phải là ta, nên nó không tránh khỏi bệnh tật và không ai có thể ra lệnh cho thân thể: “Thân tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”.
Này các thầy, cảm thọ không phải là ta, là tự ngã. Nếu cảm thọ là ta thì cảm thọ sẽ không gây đau khổ phiền não và đối với sự cảm thọ ta có thể ra lệnh: “Cảm thọ của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”. Thế nhưng, bởi vì cảm thọ không phải là ta, nên nó không tránh khỏi đau khổ phiền não và không ai có thể ra lệnh cho cảm thọ : “Cảm thọ của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”.
Này các thầy, tri giác không phải là ta, là tự ngã. Nếu tri giác là ta thì tri giác sẽ không gây đau khổ phiền não và đối với tri giác ta có thể ra lệnh: “Tri giác của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”. Thế nhưng, bởi vì tri giác không phải là ta, nên nó không tránh khỏi khổ đau phiền não và không ai có thể ra lệnh cho tri giác: “Tri giác của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”.
Này các thầy, tâm tư không phải là ta, là tự ngã. Nếu tâm tư là ta thì tâm tư sẽ không gây đau khổ phiền não và đối với tâm tư ta có thể ra lệnh: “Tâm tư của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”. Thế nhưng, bởi vì tâm tư không phải là ta, nên nó không tránh khỏi khổ đau phiền não và không ai có thể ra lệnh cho tâm tư: “Tâm tư của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”.
Này các thầy, ý thức không phải là ta, là tự ngã. Nếu ý thức là ta thì ý thức sẽ không gây đau khổ phiền não và đối với ý thức ta có thể ra lệnh: “Ý thức của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”. Thế nhưng, bởi vì ý thức không phải là ta, nên nó không tránh khỏi khổ đau phiền não và không ai có thể ra lệnh cho ý thức: “Ý thức của tôi phải như thế này hay như thế kia theo ý tôi”.
Này các thầy, các thầy nghĩ sao? Sắc là thường hay vô thường?
– Sắc là vô thường, thưa Thế Tôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay sướng ?
– Là khổ, thưa Thế Tôn.
– Như vậy, đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, người ta có thể nói: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta” được chăng?
– Không thể được, thưa Thế Tôn.
Các thÀy nghĩ sao? Cảm th là thường hay vô thường?
– Cảm th là vô thường, thưa Thế Tôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay sướng?
– Là khổ, thưa Thế Tôn.
– Như vậy, đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, người ta có thể nói: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta” được chăng?
– Không thể được, thưa Thế Tôn.
Các thầy nghĩ sao? Tri giác là thường hay vô thường?
– Tri giác là vô thường, thưa Thế Tôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay sướng?
– Là khổ, thưa ThếTôn.
– Như vậy, đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, người ta có thể nói: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta” được chăng?
– Không thể được, thưa Thế Tôn.
Các thầy nghĩ sao? Tâm tư là thường hay vô thường?
– Tâm tư là vô thường, thưa Thế Tôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay sướng?
– Là khổ, thưa Thế Tôn.
– Như vậy, đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, người ta có thể nói: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta” được chăng?
– Không thể được, thưa Thế Tôn.
Các thầy nghĩ sao? Ý thức là thường hay vô thường?
– Ý thức là vô thường, thưa ThếTôn.
– Cái gì vô thường là khổ hay sướng?
– Là khổ, thưa Thế Tôn.
– Như vậy, đối với cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, người ta có thể nói: “Cái này là của ta, cái này là ta, cái này là tự ngã của ta” được chăng?
– Không thể được, thưa Thế Tôn.
Này các thầy, như thế thì tất cả những gì thuộc sắc thân quá khứ, vị lai hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, xấu hay tốt, xa hay gần, tất cả những gì là sắc thân cần phải được nhận định theo chánh trí huệ, đúng như thật: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.
Cũng thế, tất cả những gì thuộc cảm thọ , tri giác, tâm tư và ý thức quá khứ, vị lai hay hiện tại, ở trong hay ở ngoài, thô hay tế, xấu hay tốt, xa hay gần, tất cả những gì là sắc thân cần phải được nhận định theo chánh trí huệ, đúng như thật: “Cái này không phải của ta, cái này không phải là ta, cái này không phải là tự ngã của ta”.
Khi nhận định sự vật như thế, này các thầy, người hành giả thông minh xa lià và nhàm chán sắc thân, xa lià và nhàm chán cảm thọ , tri giác, tâm tư và ý thức. Do nhàm lià nên vị ấy không còn ham muốn. Do hết ham muốn nên được giải thoát. Khi được giải thoát, trí huệ khởi lên: “Đây là sự giải thoát” và vị ấy biết: “Tái sinh chấm dứt, phạm hạnh đã thành, điều nên làm đã làm, không còn trở lại thế gian này nữa”.
Khi Đức Thế Tôn nói xong, năm vị Tỳ Kheo đều hoan hỷ: Trong lúc đang nghe giảng, tâm của năm vị được hoàn toàn giải thoát khỏi ái luyến và ô nhiễm.
Thích Trí Siêu dịch từ “Sermons du Bouddha”
de Mohan Wijayaratna
Edition du Cerf
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.