KINH VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN,

01- Tựa – PHẦN 1 Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Phật ở nước Xá Vệ, rừng cây của Thái tử Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc. PHẦN THÔNG TỰ Khi bấy giờ, Đức Thế tôn bảo đệ tử lớn của Ngài là ông Mục Kiền Liên rằng: Nay ngươi hãy trở về thành Ca Tỳ La kia hỏi…

—— Trích đoạn KINH VỊ TẰNG HỮU THUYẾT NHÂN DUYÊN,

 

Giới thiệu chung

Tác phẩm này là một tập hợp đồ sộ những câu chuyện tiền thân và những nguyên cớ kỳ diệu hiếm có trên đời, nhằm làm sáng tỏ những công hạnh vĩ đại của Đấng Giác Ngộ và các bậc thánh đệ tử lỗi lạc. Nội dung văn bản khai thác cực kỳ sâu sắc vào chuỗi quy luật nghiệp báo phức tạp kéo dài qua vô lượng kiếp sống, giải thích tường tận lý do tại sao các nhân vật trong kinh lại đạt được những năng lực siêu phàm hay phải cam chịu những quả báo vô cùng đặc biệt trong kiếp hiện tại. Qua lời kể sinh động, hấp dẫn và đậm chất huyền thoại, bản kinh phô diễn sự vận hành vi diệu, không thể nghĩ bàn của các duyên nghiệp, qua đó khẳng định chắc nịch sự tôn quý và trí tuệ toàn tri toàn giác của bậc Chánh đẳng Chánh giác. Ý nghĩa của tác phẩm nằm ở việc củng cố vững chắc niềm tịnh tín bất hoại của tín chúng vào Tam Bảo, khơi dậy mạnh mẽ lòng khao khát noi gương các bậc tiền nhân uy linh trên lộ trình cứu độ muôn loài đau khổ. Tác phẩm không chỉ mang lại giá trị triết lý nhân quả vô cùng sâu sắc mà còn là một kho tàng văn học dân gian phong phú, làm say mê lòng người bởi nghệ thuật tự sự tài tình và ngôn từ hoa mỹ. Đến tận ngày nay, những tích truyện ly kỳ từ bộ kinh này vẫn thường xuyên được các giảng sư trích dẫn trong các bài pháp thoại để giáo dục đạo đức và truyền ngọn lửa cảm hứng tu học cho đại chúng. Tác phẩm thực sự là một bảo tàng ký ức tâm linh, lưu giữ những hình mẫu lý tưởng về sự hoàn thiện nhân cách.

Nội dung kinh

Ta nghe như vầy: Một thuở nọ Phật ở nước Xá Vệ, rừng cây của Thái tử Kỳ Đà, vườn ông Cấp Cô Độc.

PHẦN THÔNG TỰ

Khi bấy giờ, Đức Thế tôn bảo đệ tử lớn của Ngài là ông Mục Kiền Liên rằng: Nay ngươi hãy trở về thành Ca Tỳ La kia hỏi thăm Phụ vương Ta là vua Duyệt Đầu Đàn cùng di mẫu Ta là bà Ba Xà Ba Đề và ba vị Hoàng thúc Ta là vua Học Phạn v.v… Nhân dịp này lại an ủi giùm thân mẫu của La Hầu La là bà Da Du Đà La, bảo nàng nên dứt tình mẫu tử để cho La Hầu La đi làm Sa-di, tu tập theo Thánh đạo. Vì sao?

Vì tình ân ái của mẹ con chỉ vui trong giây phút, chết rồi vào địa ngục. Mẹ con đều không thấy nhau, mù mù mịt mịt biệt ly dài dặn, chịu khổ muôn phần, sau rồi ăn năn không kịp; chi bằng cho La Hầu La đi tu đắc đạo, sẽ trở về độ mẹ, hằng dứt hẳn cội gốc Sanh, Già, Bệnh, Chết, được đến quả Niết bàn như Ta nay vậy

Bấy giờ, Mục Liên vâng mệnh liền nhập định ít như trang lực sĩ trong khi co duỗi cánh tay, đã đến thành Ca Tỳ La, đến chỗ vua Tịnh Phạn thưa rằng: “Tâu Đại vương! Đức Thế tôn ân cần không xiết, hỏi thăm đức Vua ở nhà có được yên ổn không? Và sức lực có được mạnh khỏe không?”. Và bà đại Phu nhân Ba Xà Ba Đề, cùng ba vị thúc phụ là vua Học Phạn v.v… cũng lại thăm hỏi yên ổn mạnh khỏe như thế.

Bấy giờ, nàng Da Du Đà La vừa nghe tin Phật sai sứ đến chỗ vua, song nàng chưa biết có ý gì, nên nàng liền sai quan thanh y đi dọ tin tức. Quan thanh y đi rồi trở về thưa lại rằng: “Thưa bà! Đức Thế tôn sai sứ về rước Thái tử La Hầu La độ đi làm Sa-di”. Bà Da Du Đà La nghe được tin ấy rồi bèn đem Thái tử La Hầu La lên trên lầu cao và dặn bảo vị Giám quan đóng hết các cửa cho thật chắc chắn.

Lúc ấy, ngài Mục Liên đã đến cửa cung nhưng không thể vào đặng mà cũng không có người để thông tin. Ngài liền dùng sức thần thông bay lên lầu cao đến trước chỗ ngồi của bà Da Du Đà La mà đứng. Bà Da Du Đà La vừa thấy ngài Mục Liên đến thì nửa sợ nửa mừng, túng thế phải đứng dậy cung kính làm lễ hỏi thăm: “Thưa Ngài! Ngài đi đường xa có được khỏi sự mệt nhọc hay không?”. Rồi bà sai người sửa soạn chỗ thỉnh ngài Mục Liên và bà lại hỏi thăm ngài Mục Liên rằng: “Thưa Ngài, Đức Thế tôn có được mạnh khỏe chăng? Và về việc giáo hóa chúng sanh có khỏi mệt nhọc không? Lại hôm nay sai thượng nhơn về đến đây có việc gì?” Đức Mục Liên thưa rằng: “Thưa bà! Thái tử La Hầu đã được chín tuổi rất nên cho đi xuất gia tu học Đạo Thánh. Sở dĩ vì sao?

Vì tình ân ái của mẹ với con vừa ý chẳng có bao lâu, một mai mà thân mạng chết rồi phải bị đọa vào ba đường ác. Tình ân ái biệt ly mờ mờ mịt mịt thì chừng đó mẹ nào có biết con, con nào có biết mẹ. Chi bằng La Hầu tu đắc đạo sẽ trở về độ mẹ hằng xa lìa các sự ưu hoạn là: Sanh, Già, Bệnh, Chết. Mà được đến cõi niết bàn như Đức Thế tôn hôm nay vậy”.

Bấy giờ, bà Da Du Đà La đáp lại lời của ngài Mục Liên rằng: “Thưa Ngài! Phật Thích Ca Như Lai khi còn làm Thái tử cưới tôi làm vợ. Tôi hầu hạ Ngài như hầu hạ Thiên Thần, chưa từng có điều chi sơ sót đối với Ngài, vợ chồng ăn ở cùng chung nhau chưa đầy ba năm Ngài vộ bỏ thú vui của ngũ dục, cung điện thành trì, trốn đến ở nơi chốn Vương Điền. Đức Vua thân hành đi rước mà Ngài quày quả chẳng chịu về, trở lại còn sai Xa Nặc dắt ngựa trắng về trả. Ngài tự quyết thề nguyền đến chứng thành Đạo mới trở về, mặc áo bằng da nai giống như người cuồng dại, ở ẩn chốn núi rừng, chuyên tu khổ hạnh được sáu năm, lúc đặng thành Phật, khi trở về nước cũng chẳng hỏi đến người thân, ân xưa quên hẳn, tuồng như khách lạ qua đường, xa lìa cha mẹ, ở ngụ nơi xứ người. Khiến cho mẹ con tôi côi cút quạnh hiu, mẹ góa con côi một mình trơ trọ, còn sống đây cũng không có người nhờ cậy, chỉ còn một cái chết mà thôi.

Song mạng người là chí trọng, nên tôi không lẽ tự vẫn, đành phải ôm sầu nuốt thảm. Tuy là mạng còn sống, tuy là ở với loài người mà chẳng bằng một con súc vật, cái họa trong các cái thảm họa đâu có cái thảm họa nào hơn ư! Thế mà hôm nay lại còn sai người về muốn dứt con tôi đi làm quyến thuộc, tệ sao mà tệ lắm vậy. Thái tử thành đạo tự nói rằng: “Từ Bi”, mà cái đạo Từ Bi lẽ ra làm cho mọi người yên vui mới phải. Cớ sao nay lại làm biệt ly mẹ con người, trong những cái rất khổ, đâu có cái khổ nào bằng cái khổ ân ái biệt ly! Ngài lấy đây thử nghĩ thì Từ Bi chỗ nào?”. Bà lại thưa với ngài Mục Liên nữa rằng: “Thưa Ngài! Ngài cảm phiền đem những lời của tôi về thưa lại với Đức Thế tôn!”.

Bấy giờ, Mục Liên bèn dùng phương tiện mỗi mỗi nhân duyên tùy nghi giảng dụ đi lại đôi ba lần mà bà Da Du Đà La chắc ý không nghe. Túng thế, Ngài phải từ tạ trở về chỗ vua Tịnh Phạn tỏ bày tự sự như trên. Vua nghe lời ấy rồi bèn sai người mời bà đại Phu nhân là bà Ba Xà Ba Đề đến. Vua bảo với bà rằng: “Này khanh! Con ta là Tất Đạt Đa sai ngài Mục Liên về rước La Vân, muốn cho La Vân vào đạo tu học Pháp Thánh, nhưng Da Du Đà La là người đàn bà ngu si, chưa hiểu pháp yếu, nên tâm ý cứ nằn ghịt thẳng dây tình ân ái không chịu buông thả. Vậy khanh hãy đến đó giảng dụ đôi lời nữa, khiến cho tâm nó khai ngộ”.

Lúc bấy giờ, Đại Phu nhân liền đem theo năm trăm kẻ thanh y đi đến trong cung của bà Da Du Đà La ở, dùng đủ cách phương tiện tùy nghi giảng dụ cũng đến đôi ba phen mà bà Da Du Đà La vẫn không chịu nghe còn trở lại thưa với bà Đại Phu nhân rằng: “Thưa mẹ! Mẹ nghĩ coi, hồi con còn ở nhà cha mẹ con thì các vua trong tám nước đều đến nói con mà cha mẹ con chẳng hứa. Sở dĩ vì sao? Vì bởi Đức Phật Thích Ca hồi còn làm Thái tử tài trí cao xa, võ nghệ hơn người, thế cho nên cha mẹ con mới gả con cho đó. Nhưng Thái tử bấy giờ biết cuộc đời là giả tạm nên quyết chí xuất gia học đạo, đã yên bổn phận thì thôi, cớ sao lại ân cần bảo người về bắt con tôi? Luận cho đúng lý, người ta cưới vợ chính vì sự ân ái sum họp vui vầy, muôn đời sanh con đẻ cháu truyền giòng nối dõi để kế nghiệp tổ tông, đó là cái lẽ chính trong thế gian, thế mà hôm nay Thái tử đã đi tu rồi, sao lại còn về bắt La Hầu muốn khiến cho đi xuất gia, thì té ra tuyệt giòng trị nước nào có nghĩa lý gì đâu?”.

Từ nãy đến giờ Hoàng hậu ngồi nghe những lời ấy rồi lặng lẽ làm thinh không biết nói sao được!

Khi bấy giờ, Đức Thế tôn liền sao vị Hóa nhân ở giữa hư không bảo rằng: “Này Da Du Đà La! Bà còn có nhớ việc thề nguyền hồi trước kia không? Phật Thích Ca Như Lai đương đời đó chính là tôi nay đây. Khi tôi còn làm đạo Bồ tát, tôi dùng năm trăm quan tiền, theo bà mua đặng năm cành hoa sen cúng dâng lên cho Đức Phật Định Quang. Lúc ấy, bà cầu tôi đời đời sanh chỗ nào cùng nhau làm chồng vợ”. Song tôi chẳng chịu lại bảo bà rằng: “Tôi làm đạo Bồ tát đời nào, đời nào tôi cũng thực hành theo bổn nguyện của tôi. Nghĩa là bố thí tất cả không trái ý mọi người. Bà nếu có thể bằng lòng như vậy, thì tôi mới cho làm vợ tôi”. Khi đó, bà lập lời thệ rằng: “Nguyện đời đời sanh ra chỗ nào, quốc thành thê tử cùng với thân mạng tôi, mặc dù ông muốn cho ai thì cho, tôi thề không bao giờ có tâm hối hận”. Thế mà nay vì cái gì mà bà lại ái tiếc La Hầu không cho đi xuất gia học đạo Thánh vậy”.

Da Du Đà La nghe lời ấy rồi bỗng nhiên nhớ lại nhân duyên đời trước mọi sự rõ ràng như cái việc mới thấy ngày hôm qua, tâm tình thương con tự nhiên tiêu hết. Bà liền sai người mời ngài Mục Liên đến để bà sám hối từ tạ và cầm tay La Hầu phó thác cho ngài Mục Liên, cùng con biệt ly với đôi hàng giọt lệ. Lúc ấy, La Hầu tháy mẹ sầu khổ liền quỳ xuống chắp tay từ tạ mà thưa rằng: “Thưa mẹ! Xin mẹ ở nhà chớ buồn, La Hầu con nay đến viếng Đức Thế tôn rồi con sẽ trở về cùng mẹ thấy mặt”. Khi đó, vua Tịnh Phạn vì muốn an ủi bà Da Du Đà La để cho bà được vui lòng.

Liền đòi các nhà Hào tộc trong nước nhóm họp mà nói rằng: “Con của vua Kim Luân vương, nay sẽ đến nước Xà Bà Đề theo Phật Thế Tôn xuất gia học đạo. Vậy phiền các khanh mỗi người đều cho một con đi theo cháu trẫm”. Vua vừa phán xong, thì ai nấy đều vâng lời kính cẩn phụng mạng.

Tức thời nhóm họp có năm mươi người đi theo La Hàu đến nơi Đức Phật cúi đầu làm lễ. Khi đó, Phật bảo ông A Nan cạo đầu cho La Hầu La và năm mươi vị vương tôn công tử thảy đều cho xuất gia. Dạy ông Xá Lợi Phất làm Hòa thượng. Ngài Đại Mục Kiền Liên làm A Xà Lê, truyền trao cho mười Giới pháp đều làm Sa – di. Song La Hầu tuổi còn thơ ấu đã quen theo thói ngạo mạn, chỉ thích chơi đùa chẳng chịu nghe pháp, Phật hằng dạy bảo mà ông vẫn không nghe, chẳng biết làm sao được.

PHẦN CHÁNH TÔNG

Khi bấy giờ, vua Ba Tư Nặc nghe con của Phật là La Hầu đi xuất gia làm sa-di. Vua cùng với quần thần Phu nhân, Thái tử, hậu cung, thể nữ, Bà-la-môn và cư sĩ cung kỉnh đi theo. Buổi trời sáng sớm đồng đi đến chỗ Phật làm lễ hỏi thăm và xem con của Phật là Sa-di La Hầu. Rồi mỗi người ngồi một phía, nhân đó Phật lại vì nói pháp. Nhưng vua và quần thần vì đã quen thói kiêu mạn nên nghe Phật nói pháp ngồi lâu chán nản muốn từ tạ lui về.

Khi bấy giờ, Đức Thế tôn biết vua mới ngộ, tín căn chưa vững, toan muốn khai ngộ cho vua và quần thần được nhiều lợi ích. Nên bảo A Nan rằng: “Ông nên đi kêu Sa-di La Vân và tất cả quyến thuộc đều đến nhóm đây nghe Ta nói pháp”. Ông A Nan đi kêu trong chốc lát đều nhóm đủ.

Phật lại bảo vua rằng: “Người đợi giây phút nghe Ta nói pháp”. Vua liền vòng tay bạch rằng: “Thưa Đức Thế tôn! Nay thân con đây quen thói vui chơi đã nhiều, không có thể ngồi nghe lâu được, khổ lắm mong Phật tha thứ”. Phật liền bảo Vua rằng: “Thế cũng không lấy gì làm khổ. – Là vì sao? Vì bởi đời trước gieo trồng cội phúc cho nên đời nay được làm vua, thường ở trong chốn thâm cung thỏa tình ngũ dục, lúc ra vào có kẻ hầu hạ, chân không chấm đất sao gọi là khổ? Cái khổ ở trong Tam giới đâu có cái khổ nào bằng các nạn khổ nơi đường địa ngục, Súc sanh và Ngạ quỷ, những cái khổ như trên Ta đã từng nói rồi”.

Phật liền quay lại bảo La Vân rằng: “Này La Vân con ơi! Gặp Phật ra đời rất khó, nghe được Chánh pháp rất khó, giữ được thân người là khó và đắc đạo cũng khó, mà con nay được thân người, lại gặp Phật ra đời cớ sao biếng lười, chẳng chịu nghe pháp vậy?”. La Vân bạch Phật rằng: “Thưa Đức Thế tôn! Pháp Phật tinh diệu, tâm trí con còn non nớt đâu đặng nghe nổi pháp mầu của Đức Thế tôn. Trước con đã từng nghe, nay lại quên hết, luống nhọc tinh thần, không đặng một chút, và con nay tuổi còn nhỏ, tình ý hay buông lung, đợi đến chừng con tuổi lớn khôn, may ra có khác chút nào mới nghe pháp được”. Phật bảo La Vân: “Muôn vật vô thường, thân người cũng khó giữ được, vậy ngươi có thể giữ được mạng ngươi đến lớn không?”.

“Dạ thưa Đức Thế tôn! La Vân con đây không thể giữ được, như Phật há chẳng giữ giùm mạng con ư?”. Phật bảo: “Này La Vân! Ta còn không giữ được cho Ta huống chi là giữ giùm cho ngươi”. La Vân bạch Phật rằng: “Luống nhọc theo pháp đã không đắc đạo, vậy công nghe pháp nào có ích cho cho người”. Phật lại bảo La Vân: “Công trình nghe pháp dù đời nay tuy không đắc đạo, nhưng đời sau thọ thân trong ngũ đạo được nhiều lợi ích. Như Ta trước đã nói Bát Nhã trí tuệ cũng kêu là cam lộ, cũng kêu là vị lương y, cũng kêu là cầu cống, cũng kêu là chiếc thuyền to, người đã nghe chưa?”.

La Vân bạch Phật:”Thưa Đức Thế tôn! Con đã được nghe”.

Khi bấy giờ, vua Ba Tư Nặc quỳ gối chắp tay bạch Thế Tôn rằng: “Như Phật vừa nói Bát Nhã trí tuệ kể có bốn tên, nhưng chưa biết nghĩa đó ra làm sao, mong Phật thương xót vì con giảng dạy”. Phật bảo vua rằng: “Người muốn đặng nghe thì phải để tâm nghe kỹ, Ta nay nói đây”. Phật nói: “Ta nhớ nghĩ đời quá khứ từ vô số kiếp, ở nước Tỳ Ma Đại, trong núi Tỷ Đà có một con Giả Can bị một con sư tử vương rượt bắt muốn ăn thịt, Giả Can sợ hãi giông nhảy rớt xuống một cái giếng không có thể lên được, ở đấy ba ngày tâm tưởng chắc chết. Mà nói bài tụng như vầy:

Thảm kịch! Ngày nay khổ đến cùng!

Chắc là mất mạng ở nơi giếng!

Tất cả vạn vật đều vô thường,

Tiếc thay chẳng hiến thân (cho) sư tử!

Than ôi! Thân tội ách nạn gì,

Tham tiếc thân mạng chết không công,

Không công mà chết đã đáng giận.

Lại để thân thối nhơ giếng người.

Nam mô sám hối mười phương Phật,

Chứng biết lòng con sạch mãi rồi.

Đời trước đã làm ba nghiệp tội,

Nguyện đem thân này đền trả xong.

Các tội hết rồi ba nghiệp sạch,

Tâm cần bất động niệm chơn thật,

Từ đây kiếp kiếp gặp Minh sư,

Như Pháp tu hành mau thành Phật.

Khi Trời Đế Thích nghe tên Phật,

Bừng dậy dửng tóc nhớ Phật xưa.

Nghĩ mình cô lộ không Thầy dạy,

Say mê ngũ dục tự đắm chìm.

Không thể vượt qua khỏi ngục ái ân.

Càng suy càng thảm ứa nước mắt,

Liền cùng chư Thiên tám vạn chúng.

Bay xuống bờ giếng muốn hỏi gạn.

Mới thấy Giả Can nơi đáy giếng,

Hai tay bấu đất không lên được,

Thiên Đế lại tự nghĩ thầm rằng:

Thánh Nhân ứng hiện nhiều phương pháp,

Ta nay tuy thấy hình Giả Can,

Ấy là Bồ Tát chẳng phải phàm.

Nay xin hỏi rõ chỗ nghi ta,

Và khiến chư Thiên được nghe pháp.

Không nghe Thánh giáo đã hèn lâu,

Ở chỗ mịt mù không Thầy dạy,

Những lời nhơn giả chẳng phải phàm.

Xin vì chư Thiên nói pháp giáo.

Khi ấy Giả Can ngước đáp rằng:

Ngài là Thiên đế không ai dạy,

Thật rất si ngạo không biết thời,

Pháp sư ở dưới mình ở trên,

Đã không cung kính lại hỏi Pháp,

Pháp như nước mát cứu được người.

Thế nào muốn được lòng ngạo mạn.

Thiên Đế nghe rồi rất hổ trẽn (thẹn),

Chư Thiên đứng hầu bật buồn cười.

Thiên Vương chìu lòng thật không ích,

Còn bị hổ thẹn rất đáng thương,

Đế Thích tức thời bảo chư Thiên,

Dè dặt chớ cho là quái lạ,

Ta đây ngu tệ hạnh chẳng xứng.

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *