(Dịch và chú giải)
PHẦN I
I. Lời dẫn về kinh Trái Tim
Kinh Trái Tim, tiếng Phạn gọi
(Tâm kinh).
Theo nhiều sử liệu, kinh Bát
Nhã xuất hiện trước tây lịch khoảng một trăm năm. Có lẽ, bản cổ nhất là Astasàhasrikà thường được gọi là Bách Luận. Bản kinh này lần đầu tiên được dịch sang tiếng Trung Hoa vào năm 179 sau tây lịch, dưới nhan đề là Đạo Hành Bát Nhã (Tiểu phẩm Bát Nhã) gồm 8.000 bài kệ, dẫn xuất từ bản Pancavimasatisàsrikà (Đại Phẩm Bát Nhã, cũng gọi là Quang Tán Bát Nhã hay Phóng Quang Bát Nhã), gồm có 25.000 bài kệ.
Bản Tâm kinh này là bản cô kết nhất, không hơn 300 chữ, và đang được lưu hành rất phổ biến tại các nước Viễn Đông châu Á.
Về mặt lịch sử tư tưởng, kinh
Bát Nhã là bộ kinh đầu tiên truyền bá tư tưởng Đại thừa (Mahayana), bắt nguồn từ miền Nam Ấn Độ, thuộc trung tâm truyền giáo của Đại chúng bộ (Mahàsamghikà) và đại biểu trung tâm của kinh này là Tánh Không (Sùnyata).
Riêng về bản Tâm kinh này đã được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới như tiếng Anh, Đức, Pháp,…
Bản Anh ngữ đầu tiên do Max Muller dịch, in năm 1884 ; bản thứ hai do Shaku Hannya dịch,in năm 1923 ; bản dịch lần thứ ba do TS. Suzuki dịch, và được in trong bộ Thiền Luận (Essay in Zen Buddhism) vào năm 1934. Và đến năm 1948, E. Conze công bố thêm một bản dịch mới. Trên đây là các bản dịch nổi tiếng của các học giả có thẩm quyền chuyên môn về Phật học.
Nhìn chung, các bản dịch Tâm kinh chỉ khác nhau ở cách dùng từ và ngắt đoạn, còn nội dung thì giống nhau, tương tự với bản dịch đầu tiên của ngài Huyền Trang vào thế kỷ thứ VII.
Về nội dung, Tâm kinh được xem như là “Trái tim” của tư tưởng Phật học được nói ra bởi Tuệ giác Vô thượng của Phật, nhằm dắt dẫn chúng sinh đi vào thực tại -giải thoát.
II. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm
Kinh
(Ngữ âm Hán – Việt)
1. Quán tự tại Bồ Tát hành thâm
Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách.
2. Xá Lợi tử ! Sắc bất dị
Không, Không bất dị Sắc ; Sắc tức thị không, không tức thị sắc; thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.
3. Xá Lợi tử ! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
4. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức ; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý ; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới ; vô vô minh diệc, vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận ; vô khổ, tập, diệt, đạo ; vô trí diệc vô đắc.
5. Dĩ vô sở đắc cố, Bồ đề tát đỏa y Bát nhã Ba la mật đa cố tâm vô quái ngại ; vô quái ngại cố vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng ; cứu cánh Niết bàn.
6. Tam thế chư Phật y Bát nhã
Ba la mật đa cố đắc A nậu Đa la tam miệu tam Bồ đề.
7. Cố tri Bát nhã Ba la mật đa, thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát nhã Ba la mật đa chú, tức thuyết chú viết : “Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, Bồ đề, tát bà ha”.
III. Kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô
Thượng
(Lời Việt)
1- Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng (1), Người Tỉnh Thức Bình Yên (2) soi sáng như thật rằng tự tính của năm hợp thể (3) đều là Không (4), liền thoát ly mọi khổ ách.
2- Này người con dòng Sari (5), hình thể chẳng khác chân không, chân không chẳng khác hình thể; hình thể là chân không, chân không là hình thể; cảm xúc (6), niệm lự (7), tư duy (8) và ý thức (9) đều là như vậy.
3- Này người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị là Không; nó không sanh, không diệt; không nhơ, không sạch; không tăng, không giảm.
4- Vì thế, này người con dòng
Sari, trong Không không có hình thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy, không có ý thức (10) ; không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý ; không có hình thể, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm (11) và hiện hữu (12). Không có đối tượng của mắt, cho đến không có đối tượng của ý thức ; không có minh, không có vô minh (13), không có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt của vô minh ; cho đến không có tuổi già và sự chết, cũng không có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết ; không có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự chấm dứt khổ đau, và không có con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau (14) ; không có trí giác (15) cũng không có sự thành tựu trí giác, vì chẳng có quả vị của trí giác nào để thành tựu.
5- Người Tỉnh Thức Bình Yên, do sống an lành trong Tuệ giác Vô thượng mà thoát ly tất cả chướng ngại. Và rằng, vì không có những chướng ngại trong tâm nên không có sợ hãi và xa rời những cuồng si mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn.
6- Tất cả chư Phật trong ba đời
(16) đều nương vào Tuệ giác Vô thượng mà thành tựu (17) chánh giác.
7- Vì thế, nên biết rằng Tuệ giác Vô thượng là sức thần (18) kỳ vĩ, là sức thần của trí tuệ vĩ đại, là sức thần cao tuyệt, là sức thần tối hậu, vô song; có thể trừ diệt tất cả khổ đau. Sức thần thoắt sinh từ Tuệ giác Vô thượng này là sự thật, là chân lý. Sức thần có năng lực tối thượng đó được tuyên nói trong kinh Trái Tim Tuệ Giác Vô Thượng rằng : “Đi qua, đi qua, Đi qua bờ bên kia, Đã đi qua đến bờ bên kia, reo vui!”
(Xem chú thích phần cuối)
IV. Cấu Trúc Của Kinh Trái Tim
Bản Tâm kinh lời Việt trên được chia thành bảy phân đoạn, biểu thị cho con đường Thiền quán của Bồ Tát, và được trình bày thứ tự như sau :
1-Phân đoạn một : Giới thiệu : a- Chủ thể quán sát; b- Trí tuệ quán sát ; c- Đối tượng quán sát, và d- Tác năng của trí tuệ quán sát.
2- Phân đoạn hai : Giới thiệu về Tính Không.
3- Phân đoạn ba : Giải minh về bản Tính Không.
4- Phân đoạn bốn : Giải minh về
5 uẩn, 12 xứ, 18 giới và 12 nhân duyên trong 4 Thánh đế.
5- Phân đoạn năm : Giới thiệu về năng lực của Tuệ giác Vô thượng.
6- Phân đoạn sáu : Xác chứng về
Tuệ giác Vô thượng qua ba đời chư Phật.
7- Phân đoạn bảy : Minh thị về sức thần của Tuệ giác Vô thượng đối với sự diệt trừ khổ đau hay thăng chứng Niết bàn.
Kết thúc, Tâm kinh trùng tụng câu linh ngữ của Phật. “Gate, gate, paragate; parasamgate, Bodhi Svàha!”.
V. Phân Tích Cấu Trúc Của Kinh
Trái Tim
A) Phân đoạn một “Khi tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng, Người Tỉnh Thức Bình Yên soi sáng như thật rằng tự tính của năm hợp thể đều là Không, liền thoát ly mọi khổ ách”. (The Bodhisattva Avalokitésvara, while engaged in the practice of profound Prajnàparamità, perceived that the five aggregates are empty of “Self-existence”, thus he overcame all sufferings and troubles).
Đoạn kinh này chỉ có một câu duy nhất, cũng là câu luận đề (thesis sentence) của toàn bộ bản kinh Trái Tim. Và sau khi đọc hết toàn bản kinh ta sẽ thấy rằng tất cả nội dung của nó được hàm chứa trong câu luận đề này một cách trọn vẹn và chặt chẽ.
Ở đây, luận đề của kinh bao gồm : (1) Chủ thể quan sát (Bồ Tát Avalokitésvara), (2) Đối tượng quan sát (năm uẩn hay năm hợp thể), (3) Cơ sở quan sát (trí tuệ Bát nhã) và (4) Tác năng của trí tuệ quan sát (soi sáng tự tính của năm hợp thể là Không, và thoát ly mọi khổ ách) 1.1 Chủ thể quan sát Bồ Tát Avalokitésvara được dịch là Quan Thế Âm hay là Quán Tự Tại, cả hai danh từ này đều có ý nghĩa vị Bồ Tát lắng nghe âm thanh của cuộc đời (seeing world voice). Song, theo Bát Nhã Tâm Kinh Tán của Viên Trắc (Wonch’uk) (1*) thì, danh từ Quan Thế Âm về mặt ngôn ngữ không biểu thị được quyền năng quan sát về tâm thức và mạng căn; do đó Avalokitésvara được dịch lại là Quán Tự Tại; có lẽ, vì mục đích biện minh cho sự trong sáng của ý kinh nên vấn đề danh từ được bàn đến.
Còn về bản chất, theo từ nguyên, Quán Thế Âm hay Quán Tự Tại đều được dịch từ một danh từ duy nhất đó là Avalokitésvara.
Và khi nỗ lực Việt hóa, chúng tôi lấy ý nghĩa của “Quán – Tự – Tại” để định danh cho chủ thể quan sát : “Người Tỉnh Thức Bình Yên” với hai lý do : a) Kinh Trái Tim là con đường tu tập duy nhất khả dĩ đưa đến giác ngộ hay tri nhận thực tại Tính Không; đây là con đường mà chính Đức Phật đã đi qua. Do đó, chỉ có những ai thật sự sống trong tỉnh thức và bình yên mới có thể tri nhận được Tính Không.
Thức tỉnh và bình yên ở đây là sự biểu thị cho trạng thái thiền định (quan sát về năm uẩn hay năm hợp thể). b) Kinh Trái Tim lại là bản kinh gối đầu của Phật tử ở các nước Phật giáo Viễn Đông và châu Á, và ngày nay thì đang rung chuyển mạnh đến cả giới trí thức châu Âu, châu Mỹ… Riêng người Việt, nếu là Phật tử thì không ai mà không thuộc Tâm Kinh. Vì thế, khi Việt hóa danh từ này người dịch nghĩ rằng, nếu Avalokitésvara được Trung Hoa dịch là Quán Tự Tại để truyền bá cho dân tộc của họ thì tại sao danh từ ấy không được Việt hóa?
1.2 Đối tượng quan sát
Đối tượng quan sát ở đây là năm uẩn hay năm hợp thể (aggregates) gồm : hợp thể của sắc (thuộc thế giới vật lý), của thọ, tưởng, hành và thức (thuộc tâm lý), nói chung là con người và thế giới sự vật hiện tượng (The world of phenomena).
1.3 Cơ sở quan sát
Ở đây cơ sở dùng để quan sát là trí tuệ Bát nhã (Tuệ giác Vô thượng), hay trí tuệ thoát ly nhị nguyên ; trực nhận thực tại như là chính nó (to their appearances as they really are). Kinh gọi là trí tuệ bên kia bờ : Trí tuệ (Prajnà), Bên kia bờ (pàramità).
1.4 Tác năng của trí tuệ quan sát
Tác năng của trí tuệ quan sát trước hết được xác định ở hai điểm ngay trong câu luận đề của kinh : a) “Hành thâm Bát nhã”: nghĩa là tiến sâu vào nguồn mạch của Tuệ giác Vô thượng (engaged in the practice of profound Prajnàparamità); và b) “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”: nghĩa là soi sáng như thực rằng tự tính của năm hợp thể đều là Không (perceived that the five aggregates are empty of Self-existence). Nếu thực hành được hai điểm then chốt này thì lập tức “liền thoát ly mọi khổ ách” (overcame all sufferings and troubles). Như vậy, tác năng của trí tuệ quan sát ở đây là tác năng giải thoát cho tự thân (Svartha) và tha nhân (Parartha).
B) Phân đoạn hai “Này người con dòng Sari, hình thể chẳng khác chân không, chân không chẳng khác hình thể. Hình thể là chân không, chân không là hình thể; cảm xúc, niệm lự, tư duy và ý thức đều là như vậy”. (O Sàriputra, Form is not different from Emptiness, and Emptiness is not different from Form. Form is Emptiness and Emptiness is Form. The same can be said of feelings, conceptions, actions and consciousnesses).
Phân đoạn này giới thiệu về
Tính Không. Không, không có nghĩa là khác với Sắc (Có – hay hiện hữu), lại cũng không có nghĩa là rỗng tuếch, trống vắng. Nhưng Không ở đây là bản tính siêu việt và hóa giải mọi cực đoan, định kiến về chân lý công ước và chân lý tuyệt đối. Do đó, bản tính mầu nhiệm kỳ vĩ của “Không” là về mặt hiện tượng thì “hình thể” chẳng khác chân không, chân không chẳng khác hình thể. Như thế, Sắc (hình thể) và Không ở đây trông có vẻ như là hai; như sóng (sắc) khác với nước (không). Còn về mặt tự thể, sóng và nước là một, sắc và không cũng vậy. Do đó, kinh nói rằng: “Hình thể là chân không, chân không là hình thể”.
C) Phân đoạn ba
Này người con dòng Sari, tất cả hiện hữu được biểu thị là Không ; nó không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không tăng, không giảm”. (O Sàriputra, the characteristics of the Emptiness of all dharmas are that it is not arising, not ceasing, not defiled, not immaculate, not increasing, not decreasing).
Phân đoạn này giải minh bản tính Không của hiện hữu (dharmas), tức con người và thế giới sự vật hiện tượng. Bản chất của con người và thế giới vốn không có một ngã thể độc lập, chúng là hiện hữu của duyên sinh; do đó, nó phải được nhận thức như là chính nó, tức là “Không” có một ngã thể (entity) tuyệt đối. Còn chuyện sinh diệt, nhơ sạch, tăng giảm ở đây là do ý niệm phân biệt của con người.
Hiện hữu – hay các pháp – vốn không có những đặc tính đó. Điều này được cắt nghĩa qua 3 tự tính của triết học Duy thức như sau :
1- Với tự tính giả lập
(parikalpita – svabhava), hiện hữu vốn không thật nên không thể được xem như là sinh diệt, nhơ sạch, tăng giảm.
2- Với tự tính tùy thuộc
(panratantra svabhava), hiện hữu là do duyên sinh nên không thể nói là có sinh diệt, nhơ sạch, tăng giảm.
3- Với tự tính tuyệt đối
(prinispanna-svabhava), hiện hữu là chân như, vốn thoát ly ngoài ý niệm và nhân, ngã – (vô nhân ngã hay ngã pháp câu không), nên không thể nói đến sinh diệt, nhơ sạch, tăng giảm.
D) Phân đoạn bốn “Vì thế, này người con dòng
Sari, trong Không không có hình thể, không có cảm xúc, không có niệm lự, không có tư duy, không có ý thức, không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý ; không có hình thể, âm thanh, hương thơm, mùi vị, xúc chạm và hiện hữu ; không có đối tượng của mắt cho đến không có đối tượng của ý thức ; không có minh, không có vô minh; không có sự chấm dứt của minh, cũng không có sự chấm dứt của vô minh ; cho đến không có tuổi già và sự chết, cũng không có sự chấm dứt của tuổi già và sự chết ; không có khổ đau, không có nguyên nhân của khổ đau, không có sự chấm dứt khổ đau và không có con đường đưa đến sự chấm dứt khổ đau ; không có trí giác cũng không có sự thành tựu trí giác ; vì chẳng có quả vị của trí giác nào để thành tựu (For these reasons, in Emptiness there are no form, no feelings, no conceptions, no actions, no consciousnesses ; no eye, ear, tongue, body, or mind ; no form, sound, odour, taste, touch or mind object ; no eye – elements until we come to no elements of consciousnesses ; no ignorance and no extinction of ignorance ; no old age-and-death, and no extinction of old age-and-death ; no truth of Sufferings, no Truth of the causes of Sufferings, of the Cessation of Sufferings or of the Path. There is no knowledge and no attainment whatsoever).
Nội dung của phân đoạn này, Tâm kinh giải minh về 5 uẩn (Skandhas) : Sắc (hình thể) gồm nội sắc (thân thể vật lý) và ngoại sắc (thế giới sự vật hiện tượng). Nội sắc bao gồm : cảm xúc (cảm thọ), niệm lự (tưởng), tư duy, hành (hay các hoạt động thuộc cơ cấu của tâm lý nói chung [mental formation]) và ý thức. Kế đến, Tâm kinh nói về các xứ (ayatanas) : nơi sản sinh ra các hoạt động, tác nghiệp. Sáu xứ bao gồm: 6 nội xứ (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và 6 ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp [hay hiện hữu]), cộng chung lại thành 12 xứ.
Đánh Giá
Chưa có đánh giá nào.