KINH THIÊN THỈNH VẤN

Chính tôi được nghe: một thời kia đức Thế-Tôn ở nơi vườn của ông Cấp-Cô- Độc, trong Thệ-Đa-lâm, nước Thất-La-Phạt (Sràvasti). Khi ấy, có một Thiên-nhân (người cõi Trời) dung-nhan đẹp lạ, vào khoảng ban đêm, thân tới nơi Phật, đỉnh lễ chân Phật, rồi…

—— Trích đoạn KINH THIÊN THỈNH VẤN

 

Giới thiệu chung

Tác phẩm là một bộ kinh ngắn gọn nhưng vô cùng thâm thúy thuộc tạng A-hàm cổ đại, ghi lại cuộc đối thoại trí tuệ tuyệt vời giữa Đức Phật và một vị chư thiên giáng trần vào giữa đêm khuya thanh vắng. Nội dung văn bản trình bày dưới dạng những câu hỏi súc tích bằng kệ ngôn của vị chư thiên về các vấn đề đạo đức, triết lý nhân sinh và con đường dẫn đến hạnh phúc chân thực, cùng với những lời giải đáp vô cùng khúc chiết, thâm sâu của bậc Đạo sư. Tuy dung lượng khá khiêm tốn, bản kinh lại bao quát được rất nhiều khía cạnh quan trọng của giáo lý, từ việc tu dưỡng nhân cách, quản lý tài sản đúng đắn đến việc đoạn trừ gốc rễ phiền não và đạt chứng Niết-bàn tịch tĩnh. Ý nghĩa lớn nhất của tác phẩm là phác họa rõ nét trí tuệ siêu việt của Đấng Giác Ngộ, người có khả năng tháo gỡ mọi thắc mắc vi tế nhất của cả con người lẫn các bậc phi nhân cõi trời. Văn bản này thường xuyên được sử dụng như một giáo trình luân lý cơ bản thiết yếu, giúp người học nhanh chóng nắm bắt được những nguyên tắc cốt lõi của một đời sống đạo hạnh toàn diện. Với văn phong thi ca tuyệt đẹp và nhịp điệu uyển chuyển, tác phẩm không chỉ là một bài pháp thoại xuất sắc mà còn là một viên ngọc quý tỏa sáng trong nền văn học cổ kính. Nó truyền tải một thông điệp vĩnh cửu về việc xây dựng một nội tâm bình an giữa thế giới đầy rẫy sự biến động.

Nội dung kinh

Chính tôi được nghe: một thời kia đức Thế-Tôn ở nơi vườn của ông Cấp-Cô- Độc, trong Thệ-Đa-lâm, nước Thất-La-Phạt (Sràvasti).

Khi ấy, có một Thiên-nhân (người cõi Trời) dung-nhan đẹp lạ, vào khoảng ban đêm, thân tới nơi Phật, đỉnh lễ chân Phật, rồi đứng lui về một bên. Vị Thiên-nhân ấy uy-quang rực-rỡ rất là rộng lớn, soi sáng khắp cả vườn Thệ-Đa-lâm.

Bấy giờ vị Thiên-nhân kia nói ra bài tụng, có nghĩa vi-diệu, thỉnh-vấn đức Phật:

– Gì là dao gươm sắc?

Gì là thuốc thảm-độc?

Gì là lửa cháy bừng?

Gì là tối mù-mịt?

Khi ấy đức Thế-Tôn cũng dùng bài tụng đáp lại vị Thiên-nhân kia:

– Lời thô: dao gươm sắc,

Tham-dục: thuốc thảm-độc;

Lửa giận-bực cháy bừng,

Vô-minh tối mù-mịt.

Thiên-nhân lại thỉnh-vấn:

– Người nào là được lợi?

Người nào là mất lợi?

Gì là giáp-trụ (2) bền?

Gì là dao gậy tốt?

Đức Thế-Tôn đáp:

– Người cho là được lợi,

Người nhận là mất lợi;

“Nhẫn” là giáp-trụ bền,

“Tuệ” là dao gậy tốt.

– Gì gọi là giặc-cướp?

Gì là của Trí-nhân?

Gì mà trong Nhân-Thiên,

Nói là: hay cướp-bóc?

– Nghĩ tà là giặc-cướp?

“Giới” là của Trí-nhân;

Trong các cõi Nhân-Thiên,

Phạm giới: hay cướp-bóc.

– Gì là rất yên vui?

Gì là giàu sang lớn?

Gì là thường đoan-nghiêm?

Gì là thường xấu-xí?

– Ít muốn rất yên vui,

Biết đủ giàu sang lớn;

Giữ giới thường đoan-nghiêm,

Phá giới thường xấu-xí.

– Gì là quyến-thuộc thiện?

Gì là tâm oán ác?

Gì là khổ cực trọng?

Gì là vui thứ nhất?

– “Phúc” là quyến-thuộc thiện,

“Tội” là tâm oán ác;

Địa-ngục khổ cực trọng,

“Vô-sinh” vui thứ nhất.

– Gì “ái” mà không hợp?

Gì hợp mà không “ái”?(3)

Gì là bệnh cực nhiệt?

Ai là Đại-lương-y?

– Mọi dục-ái không hợp,

Giải-thoát hợp, không “ái”;

“Tham” là bệnh cực nhiệt,

Phật là Đại-lương-y.

– Gì che được thế-gian?

Gì làm mê thế-gian?

Gì làm bỏ bạn thân?

Gì ngăn lối sinh Thiên?

– “Không trí” che thế-gian,

“Si” làm mê thế-gian;

Sẻn-tham bỏ bạn thân,

Nhiễm-trước ngăn sinh Thiên.

– Vật gì lửa không cháy,

Gió cũng chẳng xé tan;

Nước không làm mục nát,

Lại phù-trì thế-gian?

Gì cùng vua chống giặc,

Dũng-mãnh kháng-cự nhau;

Không bị Nhân, Phi-Nhân,(4)

Tới nơi xâm-đoạt được?

– “Phúc”, lửa không cháy được,

“Phúc”, nước không làm mục,

Thường phù-trì thế-gian.

“Phúc”, cùng vua chống giặc,

Không bị Nhân, Phi-nhân,

Tới nơi xâm-đoạt được.

– Con nay còn ngờ-vực,

Thỉnh Phật vì trừ-đoạn;

Đời nay đến đời sau,

Ai tự dối cực độ?

– Người có nhiều của báu,

Mà không hay tu phúc;

Họ tự dối cực độ.

Bấy giờ, Thiên-nhân kia nghe Phật Thế-Tôn nói kinh này rồi, vui mừng hớn-hở, khen chưa từng có, đỉnh lễ chân Phật và liền ngay trước Phật thốt-nhiên biến mất.

Chú thích:

(1) Kinh này là cuốn kinh số 592 trong Đại-Tạng kinh.

(2) áo mũ nhà binh.

(3) ái là chỉ cho “tham-ái”. Hợp và không hợp đây là chỉ vào đạo “giải-thoát” mà nói.

(4) Nhân là loài người; Phi-nhân là Thiên, Long, quỷ-thần v.v…


Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *