KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ

Tìm đến nơi thanh vắng, dưới gốc cây hay ngôi nhà trống, hành giả ngồi xuống trong tư thế kiết già, giữ lưng thẳng đứng và thiết lập chánh niệm ngay trước mặt. Với sự tỉnh thức trọn vẹn, vị ấy thở vô và thở ra, nhận biết rõ ràng hơi thở mình đang dài hay ngắn, đồng thời mở rộng ý thức để cảm nhận sự hiện diện của toàn thân và nhẹ nhàng làm lắng dịu mọi thân hành trong từng nhịp thở. Từ nền tảng an tịnh đó, hành giả tiếp tục nương theo hơi thở để nuôi dưỡng niềm hỷ lạc, nhận diện và làm êm dịu các cảm thọ, khiến cho tâm ý trở nên định tĩnh, vui vẻ và cởi bỏ những vướng mắc. Cuối cùng, duy trì hơi thở chánh niệm kiên định, vị ấy quán chiếu sâu sắc về tính vô thường, sự ly tham và đoạn diệt của vạn pháp, để rồi đạt đến sự từ bỏ hoàn toàn mọi dính mắc, thành tựu giải thoát.”

—— Trích đoạn KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ

 

Giới thiệu chung

Đây là một trong những bản hướng dẫn thực hành quan trọng bậc nhất của thiền nguyên thủy, trình bày phương pháp cốt lõi để cột tâm vào đề mục hơi thở, từ đó phát triển định lực và tuệ giác. Nội dung bản văn hướng dẫn chi tiết mười sáu bước thiền tập, đi từ việc nhận biết luồng khí vào ra đơn thuần đến việc quán chiếu sự vô thường của cảm thọ, tâm thức và các pháp. Qua từng giai đoạn, hành giả học cách buông thư căng thẳng, làm lắng dịu những trào lưu suy nghĩ miên man, và dần dần chứng nghiệm sự vắng bặt của bản ngã trong từng khoảnh khắc hiện tại. Tác phẩm có ý nghĩa nền tảng trong việc thiết lập một đời sống tỉnh thức, giúp con người kết nối lại với chính mình và tìm thấy sự bình an nội tại ngay giữa những bộn bề của cuộc sống. Tầm quan trọng của bài giảng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ tôn giáo mà ngày nay còn được ứng dụng rộng rãi trong các phương pháp trị liệu tâm lý hiện đại, minh chứng cho giá trị vượt thời gian của chánh niệm.

Mục lục

Phần mở đầu

KINH QUÁN NIỆM HƠI THỞ

Tôi nghe như sau:
Hồi đó, Bụt còn ở tại thành Xá Vệ [1], cư trú trong vườn Kỳ Thọ với nhiều vị đại đệ tử nổi tiếng như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Thi La, A Nậu Lâu Đà, Ưu Bà Đa, A Nan Đà v.v… Trong cộng đồng các vị khất sĩ, những vị trưởng thượng thì lo chăm sóc dạy dỗ các vị khất sĩ tân học, có vị chăm dạy mười người, có vị bốn mươi người. Các vị khất sĩ tân học được chăm sóc và dạy dỗ như thế dần dần thực hiện được nhiều tiến bộ.

Đêm ấy là một đêm trăng tròn ngày lễ Tự Tứ kết thúc mùa an cư [2]. Đức Giác Ngộ ngồi ở ngoài trời và xung quanh người, chúng đệ tử khất sĩ quy tụ. Sau khi đưa mắt lặng lẽ nhìn đại chúng Bụt lên tiếng:

“Quý vị khất sĩ, tôi rất hài lòng về những thành quả mà quý vị đã đạt được trong sự tu học. Quý vị hãy tinh tiến lên nữa. Những gì chưa đạt được, hãy đạt cho được, và những gì chưa thực hiện, hãy thực hiện cho xong. Tôi sẽ ở đây, và đợi tại thành Xá Vệ này cho đến ngày trăng tròn chấm dứt tháng an cư thứ tư [3].”

Nghe tin Đức Thế Tôn bảo người sẽ lưu lại Xá Vệ cho đến ngày trăng tròn của tháng thứ tư, các vị khất sĩ lúc bấy giờ hành đạo rải rác ở những miền quê liền lên đường lục tục tìm đến Xá Vệ thăm người. Vào dịp này, các vị trưởng thượng lại càng chăm chú chỉ dạy các vị tân học, vị thì chỉ dạy mười người, vị thì hai mươi người, vị thì ba mươi người, vị thì bốn mươi người… Các vị khất sĩ tân học nhờ đó
lần lượt đạt được nhiều tiến bộ đáng kể.

Bây giờ đây, đã đến ngày trăng tròn tháng tư và Bụt cũng đang ngồi ngoài trời với các khất sĩ. Ngồi đưa mắt lặng lẽ quan sát đại chúng
một hồi rồi lên tiếng:

“Quý vị khất sĩ ! Cộng đồng chúng ta đây quả là thanh tịnh và có thực chất tu học, không mang tính chất phù phiếm và ba hoa, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được gọi là phước điền, xứng đáng được kính nể. Cúng dường cho một đại chúng như thế chắc chắn sẽ có công đức. Một cộng đồng như thế này thật là hiếm có và dù xa xôi mấy ai cũng phát tâm tìm tới để quy kính.”

“Này quý vị, trong đại chúng đây có những vị khất sĩ đã chứng quả La Hán [4], đã trừ hết mọi phiền não [5], đã trút bỏ được mọi gánh nặng, đã thành tựu được trí tuệ và giải thoát. Lại có những vị đã cắt được năm sợi dây ràng buộc đầu [6], chứng được quả Bất Hoàn [7], sẽ không còn trở lại luân hồi; có những vị đã cắt bỏ được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Nhất Hoàn [8], hàng phục được phần thô của các phiền não tham, sân và si, và chỉ cần trở lại một lần; có những vị đã cắt bỏ được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Dự Lưu [9], đang
vững chãi đi về quả vị giác ngộ; có vị đang thực tập tứ niệm xứ, có vị đang thực tập tứ chánh cần, có vị đang thực tập tứ như ý túc, có vị đang thực tập ngũ căn, có vị đang thực tập ngũ lực, có vị đang thực tập thất bồ đề, có vị đang thực tập bát thánh đạo [10], có vị đang thực tập Từ, có vị đang thực tập Bi, có vị đang thực tập Hỷ, có vị đang thực tập Xả [11], có vị đang thực tập cửu tưởng quán [12], có vị đang thực tập vô thường quán. Lại có những vị khác đang thực tập quán niệm hơi thở.”

“Quý vị khất sĩ! Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực hiện liên tục, sẽ đem lại những thành quả và lợi lạc lớn, có thể làm
thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ); bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát.”

“Làm thế nào để phát triển và thực tập phép Quán Niệm Hơi Thở, để phép này mang lại những thành quả và lợi lạc lớn?”

“Này đây, quý vị khất sĩ, người hành giả đi vào rừng hoặc tới một góc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, giữ thân cho thẳng,
và đặt vững chánh niệm trước mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở vào; Thở ra, người ấy biết là mình thở ra.”
1. Thở vào một hơi dài người ấy biết: ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài người ấy biết: ta đang thở ra một hơi dài.
2. Thở vào một hơi ngắn người ấy biết: ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn người ấy biết: ta đang thở ra một hơi ngắn.
3. Ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân thể ta; ta đang thở ra và có ý thức về toàn thân thể ta, người ấy thực tập như thế.
4. Ta đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh; ta đang thở ra và làm cho toàn thân an tịnh, người ấy đang thực tập như thế.
5. Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui [13]; ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui, người ấy đang thực tập như thế.
6. Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc [13]; ta đang thở ra và cảm thấy an lạc, người ấy đang thực tập như thế.
7. Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta; ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta, người ấy đang thực tập như thế.
8. Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta an tịnh; ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta an tịnh, người ấy đang thực tập như thế.
9. Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta; ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta, người ấy đang thực tập như thế.
10. Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc; ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc, người ấy đang thực tập như thế.
11. Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định; ta đang thở ra và thu nhiếp tâm ý ta vào định, người ấy đang thực tập như thế.

12. Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do; ta
đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do, người ấy đang thực tập như thế.
13. Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp; ta
đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp, người ấy đang thực tập như thế.
14. Ta đang thở vào và quán chiếu về tính tàn hoại của vạn pháp [14];
ta đang thở ra và quán chiếu về tính tàn hoại của vạn pháp, người ấy đang thực tập như thế.
15. Ta đang thở vào và quán chiếu về giải thoát [15]; ta đang thở ra và
quán chiếu về giải thoát, người ấy đang thực tập như thế.
16. Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ [16]; ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ, người ấy đang thực tập như thế.”

“Phép Quán Niệm Hơi Thở, theo những chỉ dẫn trên, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem đến những thành quả và lợi lạc lớn.”

Phát triển và thực tập liên tục như thế nào để phép quán niệm hơi thở có thể thành tựu được bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ)?
Khi hành giả thở vào hoặc thở ra một hơi dài hay một hơi ngắn mà có ý thức về hơi thở và về toàn thân mình, hoặc có ý thức là đang làm cho toàn thân mình an tịnh, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán thân trong thân, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Hơi thở vào và hơi thở ra có ý thức ở đây thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ nhất về
thân thể.

Khi người hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về sự vui thích hoặc về sự an lạc, về những hoạt động của tâm ý, hoặc để làm cho những hoạt đông của tâm ý an tịnh thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán cảm thọ trong cảm thọ, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Những cảm thọ được chứng nghiệm trong hơi thở có ý thức ấy
thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ hai là cảm thọ.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về tâm ý, làm cho tâm ý an tịnh, thu nhiếp tâm ý vào định hoặc cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán niệm tâm ý trong tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Không có quán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được chánh niệm và sự hiểu
biết.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà quán chiếu về tính cách vô thường hoặc về tính cách phải tàn hoại của vạn pháp, về giải thoát và
về sự buông bỏ, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời.

Phép Quán Niệm Hơi Thở nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đưa bốn lĩnh vực quán niệm đến chỗ thành tựu viên mãn.

Nhưng nếu được phát triển và thực tập liên tục, bốn lĩnh vực quán niệm sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ đến chỗ thành tựu viên mãn. Bằng cách nào?

Khi hành giả an trú trong phép quán thân trong thân, quán cảm thọ trong cảm thọ, quán tâm ý trong tâm ý, quán đối tượng tâm ý nơi đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời, thì lúc ấy chánh niệm của hành giả được duy trì vững chãi và bền bỉ, và hành giả đạt được yếu tố giác ngộ (giác chi) thứ nhất là niệm. Yếu tố này sẽ tiến
dần đến thành tựu viên mãn.

Khi hành giả an trú trong chánh niệm để quán chiếu và quyết trạch về các pháp, đối tượng của tâm ý, thì yếu tố giác ngộ thứ hai được sinh
khởi và phát triển, đó là yếu tố trạch pháp. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả an trú trong quán chiếu và quyết trạch về các pháp một cách bền bỉ, tinh cần, vững chãi thì yếu tố giác ngộ thứ ba được sinh khởi và phát triển đó là yếu tố tinh tấn. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi mà hành giả đã an trú vững chãi và bền bỉ trong sự hành trì tinh tiến thì yếu tố giải thoát thứ tư được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố hỷ lạc xuất thế [17]. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả được an trú trong trạng thái hỷ lạc rồi thì hành giả cảm thấy thân và tâm của mình nhẹ nhàng và an tịnh, đó là yếu tố giải thoát thứ năm được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố khinh an. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi thân và tâm mình đã nhẹ nhàng và thanh tịnh, hành già có thể đi vào định một cách dễ dàng. Lúc đó yếu tố giải thoát thứ sáu được
sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố định. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi đã thực sự an trú trong định, hành giả không còn duy trì sự phân biệt và so đo [18] nữa. Khi đó yếu tố giải thoát thứ bảy là buông thả
được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố hành xả. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ) nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi) đến chỗ thành tựu viên mãn như thế.

Nhưng bảy yếu tố giác ngộ, nếu được phát triển và thực tập liên tục, làm thế nào để có thể đưa đến sự thành tựu viên mãn của trí tuệ và giải thoát?
Nếu hành giả tu tập theo bảy yếu tố giác ngộ, một mình tịnh cư, chuyên quán chiếu về tính cách phải tàn hoại của vạn pháp, quán chiếu về sự tự do, thì sẽ đạt tới khả năng buông bỏ. Đó là do tu tập bảy yếu tố giác ngộ mà thành tựu viên mãn được trí tuệ và giải thoát.

Đó là những điều Đức Thế Tôn nói. Đại chúng ai nấy đều tỏ vẻ vui mừng được nghe người dạy.

II. Chú thích

[1]. Thành Xá Vệ (Sāvatthi): Thủ đô của Vương Quốc KOSALA nằm
về phía tây kinh đô Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu).

[2]. Lễ Tự Tứ (Pavāranā) được cử hành vào cuối mùa mưa, tức là
mùa an cư ba tháng của các vị khất sĩ. Lễ tự tứ là lễ trong đó mỗi
vị tu sĩ có mặt cầu xin đại chúng chỉ bảo cho mình biết những
thiếu sót và yếu kém của mình trong mùa tu học ba tháng vừa
qua. Ngày trăng tròn là ngày cuối của mỗi tháng. Thường
thường lễ tự tứ được tổ chức vào cuối tháng Assayuja – tương
đương với tháng mười dương lịch, nhưng vào năm nói kinh này
thì Bụt muốn lễ được tổ chức trễ hơn một tháng, tức là vào cuối
tháng Kattika – tương đương với tháng mười một dương lịch.
Mùa an cư năm ấy như vậy dài tới bốn tháng.

[3]. Ngày trăng tròn tháng tư được gọi là ngày Komudi. Komudi có
nghĩa là ngày trăng tròn của tháng Kattika. Kumuda là loại sen
trắng thường nở ra vào tiết này cho nên ngày trăng tròn tháng
Kattika được gọi là Kumudi.

[4]. La Hán (arahat, tiếng Phạn: arhat): cũng đọc là lô hán hay a la
hán, quả vị cao nhất của tiểu thừa. La Hán có nghĩa là ứng cúng
(xứng đáng được cung dưỡng), sát tặc (giết được giặc phiền
não) và bất sinh (không còn sinh tử luân hồi).

[5]. Phiền não: những sợi dây ràng buộc tâm ý như: tham, sân, si,
mạn, nghi, tà kiến v.vvv Tiếng Pali là kisela. Phiền não tương
đương với lậu hoặc (āsava), những chất độc của tâm ý, nguyên
do của sinh tử, như tham dục, tà kiến, vô minh.

[6]. Năm sợi dây ràng buộc đầu: đó là năm thứ đầu trong mười
triền sử (samyojana) sau đây: kẹt vào tà niệm bản ngã, nghi
hoặc, kẹt vào giới cấm và lễ nghi vô lý, tham dục, hờn giận,
tham đắm thế giới hình sắc, tham đắm thế giới vô sắc, kiêu mạn,
trạo cử (bất an) và vô minh. Triền sử là trói buộc và sai khiến

Trong đại thừa, thập sử được kể như sau: tham, sân, si, mạn,
nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ
kiến. Năm thứ đầu được gọi là độn sử, năm thứ sau được gọi là
lợi sử.

[7]. Quả Bất Hoàn (Anāgami-phala): quả vị tu chứng gần quả vị La
Hán nhất. Người đạt được quả vị này không còn trở lại luân hồi.
[8]. Quả Nhất Hoàn (Sakadāgami-phala): quả vị tu chứng thấp hơn
Bất Hoàn một bậc. Người đạt quả vị này còn trở lại tái sinh một
lần nữa.

[9]. Quả Dự Lưu (Sotāpatti-phala): quả vị tu chứng thấp nhất.
Người đạt được quả vị này được xem như là đã gia nhập vào
dòng sông giác ngộ, thế nào cũng chảy về biển cả giải thoát.

[10].Tứ Niệm Xứ (Satipatthāna): bốn lĩnh vực quán niệm, tức là
quán niệm thân trong thân, cảm giác trong cảm giác, tâm ý
trong tâm ý và đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý.
Tứ Chánh Cần (padhāna): bốn nỗ lực chân chính: điều ác chưa
phát sinh đừng để cho chúng có cơ hội phát sinh, điều ác đã

Đọc tiếp: II. Chú thích →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *