KINH MA HA MA DA

“Này thầy Xá Lợi Phất, thầy có biết rằng nếu một vị đệ tử áo trắng đạo hạnh biết hộ trì năm Giới pháp và tu tập bốn tâm cao đẹp (tăng thượng tâm) thì có thể dạt tới rất dễ dàng và không khó khăn gì khả năng an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại, và biết chắc chắn rằng mình sẽ không còn đọa lạc vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sinh và các nẻo ác khác trong tương lai?

Một người như thế là đã đắc quả Vào Dòng, không sợ còn bị rơi vào đường ác, chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác. Người ấy chỉ cần qua lại tối đa là bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới biên Giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ.”

Giới thiệu chung

Bản kinh này là một văn kiện vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo lý truyền thống, mang giá trị to lớn trong việc giải quyết những vấn nạn tâm linh. Ra đời trong bối cảnh xã hội cổ đại khi tư tưởng đang có sự chuyển mình sâu sắc, tác phẩm ghi lại những lời dạy minh triết nhằm xóa bỏ các kiến chấp sai lầm và chỉ ra con đường chân chính. Nội dung của văn bản đi sâu vào phân tích các khái niệm cốt lõi như nhân quả, nghiệp báo cùng những phương pháp thanh lọc nội tâm trong đời sống thường nhật. Thông qua những ví dụ thực tiễn và sinh động, nó làm sáng tỏ nhiều góc khuất của tâm thức, giúp người đọc nhận thức rõ ràng về sự vô thường của vạn vật. Ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm nằm ở việc cung cấp một hướng dẫn thực hành có khả năng chuyển hóa mạnh mẽ phiền não thế tục. Trải qua lịch sử lưu truyền lâu dài, văn bản vẫn được giới học giả trân trọng như một ngọn hải đăng soi sáng con đường tu dưỡng đạo đức. Sự kế thừa của nó góp phần củng cố hệ thống triết học, cung cấp phương tiện thiện xảo đưa con người vượt qua mọi khổ đau. Nhìn chung, đây là một kiệt tác tâm linh đáng quý, để lại dấu ấn triết học sâu đậm trong tiến trình phát triển tư tưởng nhân loại.

Mục lục

Phần mở đầu

KINH MA HA MA DA (PHẦN 1)

Đệ tử chúng con, Hạnh Cơ và Tịnh Kiên, chí thành đảnh lễ

Chư Tôn Đức Ân Sư:

 

Hòa thượng bổn sư Thích Huyền Tân
Hòa thượng giáo thọ Thích Đôn Hậu
Hòa thượng giáo thọ Thích Chánh Thống
Hòa thượng giáo thọ Thích Trí Thủ
Hòa thượng giáo thọ Thích Trí Hữu
Hòa thượng giáo thọ Thích Trí Thành
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Hòa
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Hoa
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Minh
Hòa thượng giáo thọ Thích Thiện Siêu
Hòa thượng giáo thọ Thích Như Ý (Trà-am)
Hòa thượng giáo thọ Thích Viên Giác
Hòa thượng giáo thọ Thích Huyền Quang
Hòa thượng giáo dưỡng Thích Chí Tín
Hòa thượng giáo thọ Thích Huyền Vi
Hòa thượng giáo thọ Thích Định Tuệ
Hòa thượng giáo thọ Thích Thuyền Ấn
Hòa thượng giáo đạo Thích Đỗng Minh
Ni trưởng bổn sư Thích Nữ Đàm Thu

KINH MA HA MA DA (PHẦN 2)

Kinh Ma Ha Ma Da thuộc hệ thống kinh Niết Bàn, do sa-môn Thích Đàm Cảnh, người Trung-hoa, dịch từ Phạn văn ra Hán văn, tại Trung-quốc, vào thời Tiêu-Tề (479-502), được thu vào tạng Đại Chánh, quyển 12, mang số 383, trang 1005-1014.

Nội dung kinh này gồm có bốn phần: Phần một ghi lại việc đức Phật lên cung trời Đao-lợi nói pháp hóa độ cho thánh mẫu Ma Ha Ma Da chứng được Sơ-quả Tu-đà-hoàn, cùng những bài pháp do chính thánh mẫu nói ra trước đại chúng. Phần hai ghi lại việc đức Phật từ cung trời Đao-lợi trở về tinh xá Kì-viên và du hành qua các nước để hóa độ chúng sinh; cuối cùng thì đến rừng Ta-la-song-thọ ở ngoại ô thành Câu-thi-na để nhập niết-bàn. Phần ba ghi lại việc thánh mẫu Ma Ha Ma Da từ cõi trời Đao-lợi xuống đến nơi đặt kim quan của đức Phật, buồn khóc thảm thiết, đức Phật tự mở kim quan ngồi dậy, nói pháp an ủi thánh mẫu, rồi nói lời từ biệt cuối cùng. Phần bốn, tôn giả A Nan thuật lại lời Phật dạy thuở trước liên quan đến tình hình trụ thế và hoại diệt của chánh pháp từ sau khi Ngài nhập diệt.

Nay chúng tôi xin dựa theo bản Hán dịch “Ma Ha Ma Da Kinh” của đại sư Thích Đàm Cảnh mà chuyển dịch ra Việt văn, mong được góp thêm một tài liệu quí giá vào việc tu học của Phật tử Việt-nam. Vì khả năng còn rất hạn hẹp, cho nên chúng tôi không tránh khỏi có điều sai sót, rất mong nhận được sự chỉ giáo của các bậc cao minh.

Việc dịch kinh này ra tiếng Việt, nếu có được chút ít phước đức nào, xin thành tâm nguyện đem hồi hướng cho chúng sinh, tăng trưởng lòng tin thanh tịnh, nuôi lớn tâm bồ-đề, phát triển trí tuệ, tiêu trừ tà kiến, gieo trồng các căn lành, sớm thành tựu đạo quả Niết-bàn.

 

Nhất tâm kính lễ Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni.

Nhất tâm kính lễ tôn giả Khải Giáo A Nan Đà.

 

 

Cung kính giới thiệu,

Miền Tây Canada, mùa An Cư năm 2018

Cư sĩ Hạnh Cơ

KINH MA HA MA DA (PHẦN 3)

Đây là những điều chính tôi được nghe:

Thuở đó đức Phật đang an cư ba tháng tại gốc cây ba-lợi-chất-đa, trong vườn Hoan-hỉ ở cõi trời Đao-lợi(2). Cùng an cư với đức Phật, có đông đủ chúng đại tì-kheo gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị, cùng với vô lượng trăm ngàn các chúng trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người và chẳng phải người; ngoài ra còn có vô số chúng tì-kheo, tì-kheo-ni, ưu-bà-tắc, ưu-bà-di, cùng ở chung quanh đức Phật.

Lúc bấy giờ đức Phật ngồi trong tư thế hoa sen, từ các lỗ chân lông trên khắp thân mình, phóng ra ngàn luồng ánh sáng, chiếu soi khắp ba ngàn đại thiên thế giới. Trong mỗi luồng ánh sáng ấy lại có ngàn hoa sen; trên mỗi hoa sen có ngàn đức hóa Phật, đều ngồi trong tư thế hoa sen, giống như đức Thích Ca Mâu Ni. Lúc ấy, ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các tinh tú đều không tự hiện rõ được, mà đều hòa nhập vào ánh sáng của đức Phật, làm cho khắp thân cây ba-lợi-chất-đa trở thành màu vàng ròng. Giống như bầu trời hoàn toàn trong suốt, không gợn tí mây, làm cho ánh sáng mặt trời mặt trăng chiếu rõ cùng cực; ánh sáng phóng ra từ thân của đức Phật tại cung trời Đao-lợi lúc bấy giờ cũng giống như vậy, mà còn sáng rỡ bội phần, không thể lấy gì để thí dụ được! Các vị thiên tử ở mặt trời, mặt trăng và các tinh tú, trông thấy hiện tượng ấy thì không biết có chuyện gì xảy ra, tâm ý vô cùng sợ sệt, bồn chồn, bất an.

Lúc bấy giờ, đức Phật bảo Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:

“Ông hãy đến chỗ mẹ của Như Lai, thưa với bà rằng, Như Lai đang ở tại đây, xin bà tạm khởi thân, đến kính lễ Ba Ngôi Báu. Ông hãy đem bài kệ này đến đọc cho bà nghe!”

Đức Phật liền nói bài kệ rằng:

 

“Đức Đạo Sư Thích Ca

Thành tựu nhất thiết trí

Ở cõi Diêm-phù-đề

Như vị trời ngàn mắt

Từ lâu lòng khát ngưỡng

Mong được thấy từ nhan

Vốn xưa trong cung vua

Sinh con vừa bảy ngày

Lìa trần sinh thiên giới

Nhờ di mẫu dưỡng nuôi

Đến khi thành Chánh Giác

Ứng cúng độ chúng sinh

Hôm nay đến nơi này

Nói pháp báo ân xưa

Xin mẹ cùng quyến thuộc

Khởi thân đến nơi này

Kính lễ Phật Pháp Tăng

Lãnh thọ pháp chân tịnh”

 

Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi vâng lãnh lời dạy của đức Phật, đi ngay đến chỗ đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da, đem lời thỉnh cầu của đức Phật bạch lên, và tụng lại bài kệ đức Phật đã nói. Đức thánh mẫu vừa nghe những lời ấy xong, bỗng có những giọt sữa từ ngực bà tự chảy ra, và bà nói rằng:

“Nếu quả thật vị đó chính là Tất Đạt Đa do tôi sinh ra, thì xin nguyện cho những giọt sữa này rơi vào miệng của Người.”

Đức Ma Ha Ma Da vừa nói lời ấy xong, những giọt sữa ấy, trông như những hoa sen trắng, bay thẳng đến, rơi vào miệng của đức Phật. Đức thánh mẫu trông thấy sự việc như vậy thì vui mừng hớn hở, sắc mặt tươi như đóa sen ngàn cánh vừa mới nở. Ngay lúc đó, ba ngàn đại thiên thế giới đều chấn động, muôn loại hoa đẹp chưa tới lúc nở mà đều nở rộ, ngàn loại trái ngon chưa đến lúc chín mà đều chín muồi. Đức thánh mẫu liền nói với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi:

“Từ ngày được cùng với Phật kết làm mẹ con đến nay, tôi chưa từng có lúc được hoan hỉ an lạc như hôm nay. Ví như có người đói khát đau khổ cùng cực, bỗng có được bữa ăn ngon thì vui mừng không kể xiết, niềm vui của tôi hôm nay cũng giống như vậy; ngoài niềm vui ấy ra, không còn có bất cứ một niệm tưởng tạp loạn nào khác!”

Đức thánh mẫu nói lời ấy rồi, liền cùng với Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi đi đến chỗ Phật.

Lúc bấy giờ, đức Phật thấy mẹ từ xa đến, lòng tràn đầy hân hoan, tôn kính. Toàn thân Ngài dao động, như tướng rung động của núi chúa Tu-di và bốn biển lớn. Khi thấy mẹ đã đến trước mặt, đức Phật bèn dùng Phạm âm(3) mà thưa với bà rằng:

“Mẹ đã từng đi qua nhiều nơi, khổ vui đều trải đủ. Nay xin mẹ tu tập đạo niết-bàn, vĩnh viễn xa lìa mọi khổ vui.”

Đức Ma Ha Ma Da nghe Phật nói thế, liền chắp tay cúi đầu, một lòng suy nghĩ. Bà quì trước Phật, rồi năm vóc gieo xuống đất, chuyên tâm chánh niệm, bao nhiêu dây trói buộc đều tiêu trừ. Đức thánh mẫu bèn nói bài kệ xưng tán đức Phật rằng:

 

“Đức Thế Tôn từ vô số kiếp

Đã từng uống sữa từ thân con

Xa lìa nỗi khổ sinh già chết

Thành tựu đạo Bồ-đề vô thượng

Nay Ngài báo đáp ơn sinh dưỡng

Khiến con dứt trừ ba nọc độc

Kính lạy đấng Đại Trượng Phu

Bậc không tham, hay bố thí

Kính lạy Điều Ngự, Vô Thượng Sĩ

Bậc tối tôn, không ai bằng

Kính lạy Đạo Sư của trời người

Vĩnh viễn dứt trừ dây si ái

Con nguyện suốt ngày đêm sáu thời

Niệm tưởng Thế Tôn không gián đoạn

Đầu mặt sát đất xin đảnh lễ

Đấng Đại Pháp Vương Vô Thượng Tôn

Duyên may nay gặp phước điền Phật

Con nguyện gieo trồng giống công đức

Cúi xin Ngài từ bi giúp sức

Khiến hạt giống kết thành hoa trái

Ngài từ lâu vốn có đại chí

Cho nên đã sinh vào cung vua

Toàn thân ngời sắc màu vàng ròng

Ánh sáng chiếu soi khắp mười phương

Diện mạo thật tròn đầy thanh tịnh

Giống như mặt trăng Rằm mùa Thu”

 

Lúc bấy giờ, đức Phật thưa với mẹ rằng:

“Xin mẹ lắng nghe và suy nghĩ thật chín chắn. Giáo pháp này, ở phần đầu, phần giữa và phần cuối, nghĩa lí thật sâu xa, ngôn từ thật tinh diệu, hoàn toàn thuần nhất, không hỗn tạp; đầy đủ tướng phạm hạnh thanh khiết.”

Đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da nghe lời nói ấy rồi, nhờ thần lực của Phật, bà biết rõ túc mạng của mình, và do căn lành của bà lúc bấy giờ đã thuần thục, bà liền phá trừ được tám mươi ức các loại phiền não, chứng quả Tu-đà-hoàn. Bà chắp tay bạch Phật rằng:

“Con từ trong lao ngục sinh tử đã chứng được quả giải thoát.”

Cả chúng hội nghe đức thánh mẫu nói như vậy, đồng thanh nói rằng:

“Xin nguyện cho tất cả chúng sinh đều được giải thoát, như thánh mẫu Ma Ha Ma Da hiện tại!”

Bấy giờ, đức Ma Ha Ma Da bạch Phật rằng:

“Ví như đống lửa mạnh đang đốt thanh sắt nóng, nếu ai đụng vào đó thì thân tâm tan nát. Biển sinh tử ở thế gian cũng giống như vậy, những chỗ tới lui đều là đau khổ tích tụ; mà nguồn gốc của khổ đau chính là do tâm ý. Tâm ý đuổi theo dục vọng mà sai sử chúng sinh, luân chuyển trong năm nẻo đường(4) nhanh như gió mạnh, như đánh cầu.”

Ở trước đức Phật, đức thánh mẫu lại tự trách tâm ý của mình rằng:

“Ngươi vì sao thường làm những điều không lợi ích? Ngươi luôn dạo chơi khắp sáu trần cảnh(5) mà không chịu ở yên; bao nhiêu ý tưởng tạp loạn loay hoay không phút nào ngưng nghỉ; những điều suy nghĩ đều không tốt đẹp. Tại sao ngươi chứa nhóm những điều xấu xa kia để mê hoặc ta? Ví như có người cuốc đất, đất thì không bao giờ tiêu mất, mà lưỡi cuốc thì cứ mỗi ngày mỗi cùn đi. Ở trong biển sinh tử cũng như thế, thân mạng bỏ đi không thể đếm xuể, mà thần thức của ta thì vẫn không tăng không giảm. Ngươi có thể khiến ta làm bậc chuyển luân thánh vương, có đầy đủ bảy món báu, thống trị cả bốn châu thiên hạ; phút chốc lại khiến ta trụt xuống làm loài ếch nhái; phút chốc lại kiến ta làm người nghèo khổ, chạy Đông chạy Tây để cầu xin cơm áo; phút chốc lại khiến ta làm ông trưởng giả giàu sang tột bậc, ai cũng biết danh; phút chốc lại khiến ta trú tại cung trời, ăn uống toàn vị cam lồ, thụ hưởng năm dục(6) thỏa thích; phút chốc lại khiến ta đọa vào địa ngục, uống nước đồng sôi, nuốt hòn sắt nóng. Ta trong nhiều đời quá khứ từng mang thân trâu ngựa, da chất đống cao như núi Tu-di, ở mãi trong biển sinh tử, chưa được giải thoát; bỗng chốc lại được vô số tên gọi: nào là đại gia, nào là đầy tớ, hoặc là chuyển luân thánh vương, hoặc là đế vương, hay trời, rồng, dạ-xoa, càn-thát-bà, a-tu-la, ca-lâu-la, khẩn-na-la, ma-hầu-la-già, người, chẳng phải người; hoặc là súc sinh, hoặc là ngạ-quỉ, hoặc là địa-ngục v.v…, chúng sinh có nhiều loại tên gọi như thế. Này tâm ý ngu si! Ngươi tuy từng trải đủ năm dục ở thế gian, nào của cải trân quí như vàng bạc, nào vợ con, kẻ hầu hạ, ngựa voi xe cộ, nhà cửa ruộng vườn, nhân dân làng xóm, nhưng tất cả đều là vô thường, đều phải tiêu tán. Chúng chỉ tạm có đối với mình, và rồi sẽ phải diệt mất; giống như người lữ khách chỉ đến nhà trọ để tạm nghỉ ngơi rồi đi, chứ không phải là người chủ ở luôn tại đó. Trên các cõi Trời thì chư thiên thụ hưởng đầy đủ năm dục một cách tự tại, nhưng khi phước hết sắp chết, năm tướng suy hoại(7) hiện ra, thì lòng bồi hồi luyến tiếc, vô cùng sầu khổ; và ở trong cõi Người, những kẻ nghèo khó thấp hèn thường bị người khác sai sử, nếu là vua chúa thì sát phạt lẫn nhau, quần thần, cha con thì tranh giành, tàn hại lẫn nhau; ở dưới Địa-ngục thì toàn những cảnh tượng giết, cắt, đốt, nấu; trong loài Súc-sinh thì ăn nuốt lẫn nhau, lấy da thịt xương gân đền trả những nợ nần kiếp trước, luôn bị nghiệp chướng bức bách không lúc nào được tự tại; trong chốn Ngạ-quỉ thì bị đói khát dày vò, chạy Đông chạy Tây chỉ thấy toàn lửa, và những bánh xe sắt nóng cứ chạy đuổi theo đằng sau. Năm nẻo đường sinh tử đầy dẫy khổ đau như vậy đó, không thể nào kể ra cho hết được! Này tâm ý ngu si! Từ vô số kiếp đến nay, ngươi lôi kéo ta tới lui các chốn, ta một mực tùy thuận theo ngươi mà chưa từng làm trái lại. Nhưng hôm nay thì ta quyết chuyên nghe Phật pháp, ngươi chớ gây chướng ngại cho ta nữa! Ngươi cũng nên chán ghét và xa lìa khổ đau, hãy mau chóng cầu đạo quả Niết-bàn an lạc.”

Lúc ấy, đức thánh mẫu Ma Ha Ma Da lại nói bài kệ dâng lên đức Phật rằng:

 

“Cúi xin rưới mưa pháp

Thấm tươi cây khô héo

Mầm Phật pháp nẩy nở

Tăng trưởng khắp mọi nơi

Nay con và chúng hội

Căn lành đều thuần thục

Các nấc thang đạo quả

Chứng ngộ theo thứ lớp

Xin ban cho cam lồ

Tiêu trừ gốc tham sân

Chúng con từ xưa nay

Bị vô minh trói buộc

Si mê không trí tuệ

Không biết cầu chánh đạo

Xin chỉ đường giải thoát

Chóng đến thành Niết-bàn”

 

Nói bài kệ đó xong, đức Ma Ha Ma Da lại nói tiếp bài kệ khen ngợi đức Phật, rằng:

 

“Trí tuệ Phật cao rộng

Như núi cao chất ngất

Như khe rộng hang sâu

Như suối trong đầy nước

Có các loại dược thảo

Mọc tươi tốt bên bờ

Nếu ai uống thuốc đó

Được an vui vô cùng

Cũng ví như cây mía

Tính chất luôn tự ngọt

Người biết ép lấy nước

Liền được vị ngọt ngon

Giáo pháp Thế Tôn nói

Bản chất tự thanh tịnh

Nếu có người tin nhận

Được phước báo vô cùng

Tất cả các chúng sinh

Cầu phước lạc vô tận

Chỉ có đức Mâu Ni

Gia hộ cho đầy đủ

Chúng sinh bị phiền não

Từ vô thỉ thiêu đốt

Phật như thầy thuốc giỏi

Tùy bệnh cho thuốc hay

Đường sinh tử khúc khuỷu

Gian hiểm khó vượt qua

Năm thầy Kiều Trần Như

Không biết lối trở về

Thế Tôn đại từ bi

Thân đến Ba-la-nại

Vì họ chuyển pháp luân

Đều chứng được đạo quả

Tám muôn các thiên tử

Bỗng dưng được pháp nhãn

Không có thầy dẫn đường

Mà thành tựu như vậy

Xá Lợi Phất, Mục Liên

Ca Diếp, Ca Chiên Diên

Bốn đại Thanh-văn ấy

Lúc chưa đi xuất gia

Tài cao trí thông bác

Nơi nơi đều tôn kính

Danh đức không ai bằng

Kiêu mạn thường khinh người

Nhưng khi nếm cam lồ

Qui phục thành La-hán

Giúp cho bậc Đạo Sư

Xoay chuyển bánh xe pháp

Như cây ni-câu-đà

Hạt giống vô cùng nhỏ

Mà mọc cây cao lớn

Cành lá phủ sum sê

Chúng sinh Phật hóa độ

Tăng tiến cũng như vậy

Như Ương Quật Ma La

Từng giết hại nhiều người

Nhưng Thế Tôn thương xót

Độ cho vào Phật đạo

Đề Bà Đạt Đa kia

Tạo tội ác ngũ nghịch

Đã xô hòn đá lớn

Muốn hại chết Thế Tôn

Thế Tôn vẫn bình đẳng

Coi như La Hầu La

Lại mẹ con loài quỉ

Chuyên ăn thịt con nít

Phật thương muốn hóa độ

Bèn đem dấu quỉ con

Quỉ mẹ không thấy con

Lòng sợ hãi bấn loạn

Liền đến trước Thế Tôn

Xin chỉ chỗ con mình

Thế Tôn dùng phương tiện

Vặn hỏi quỉ mẹ rằng

‘Ngươi thương nhớ con mình

Chạy đây đó tìm con

Sao không khởi tâm từ

Lại ăn con người khác

Hãy tự xét lại mình

Chớ giết hại kẻ khác

Nếu sửa đổi tâm tánh

Ngươi tức khắc thấy con’

Quỉ mẹ nghe lời dạy

Sám hối xin đảnh lễ

Và vì cả con mình

Chắp tay bạch Phật rằng

‘Con nay đến trọn đời

Đọc tiếp: KINH MA HA MA DA (PHẦN 3) →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *