KINH KIM QUANG MINH

“Nếu quốc vương nào cung kính cúng dường kinh Kim Quang Minh thì các ông nên dốc lòng bảo vệ, khiến họ an ổn.”

Đây là lời Đức Phật khen ngợi và giao phó cho Tứ Đại Thiên Vương, sau khi các ngài phát nguyện hộ trì kinh này và những ai thọ trì nó — đặt nền cho danh xưng “kinh hộ quốc” nổi tiếng của Kim Quang Minh trong suốt lịch sử Phật giáo Á Đông.

—— Trích đoạn KINH KIM QUANG MINH

 

Giới thiệu chung

Kinh Kim Quang Minh (金光明經, Suvarṇaprabhāsa Sūtra), nghĩa là “Ánh Sáng Vàng”, là một trong những bộ kinh Đại thừa quan trọng bậc nhất của Phật giáo Đông Á, đặc biệt được xem là “kinh hộ quốc” tại Trung Hoa, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam. Bản kinh gồm 10 quyển với nhiều phẩm, trình bày giáo lý về pháp thân, báo thân, hóa thân của chư Phật (Tam thân), pháp sám hối diệt trừ nghiệp chướng, cùng những đà-la-ni thần chú nhiệm mầu. Nổi bật nhất là phẩm Tứ Thiên Vương Hộ Quốc, trong đó bốn vị Thiên Vương phát nguyện trước Đức Phật sẽ luôn bảo hộ, ban an lạc cho quốc gia và nhân dân nào tôn kính, thọ trì, lưu truyền kinh này. Chính vì lời nguyện hộ quốc an dân đó mà trong lịch sử, nhiều triều đại đã cho tụng đọc, sao chép và xây dựng chùa tháp thờ phụng kinh Kim Quang Minh như một pháp bảo trấn quốc, cầu mưa thuận gió hòa, dân an nước thịnh.

Mục lục

Phần mở đầu

QUYỂN 1

PHẨM 1: TỰA

Đúng thật như thế, chính tôi được nghe: Một thời Đức Phật trú tại Linh Thứu[10], nơi thành Vương Xá[11]. Ngài nhập pháp giới[12] thanh tịnh sâu xa, là cảnh giới Phật cũng là trụ xứ của các Như Lai[13].

Bấy giờ trong hội có chín mươi tám ngàn đại bí-sô[14], tất cả đều là bậc A-la-hán[15], tâm đã điều phục như voi thuần tánh, các lậu[16] đã hết, không còn phiền não, tâm khéo giải thoát, tuệ khéo giải thoát, công việc đã trọn, buông bỏ gánh nặng, lợi mình đã xong, không còn kết sử[17], an lạc tự tại, trụ nơi tịnh giới, có phương tiện khéo, trí tuệ trang nghiêm, chứng tám giải thoát[18], đã đến bờ kia. Trong đó có các cụ thọ[19] A-nhã Kiều-trần-như[20], A-thuyết-thị-đa, Bà-thấp-ba, Ma-ha-na-ma, Bà-đế-lợi-ca, Đại Ca-diếp-ba[21], Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp[22], Già-da Ca-diếp, Na-đề Ca-diếp, Xá-lợi-phất[23], Mục-kiền-liên[24]…, chỉ còn A-nan[25] ở vị Hữu học[26]. Vào khoảng xế chiều, các Đại thanh văn[27] đồng thời xuất định, đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Có trăm ngàn vạn ức đại bồ-tát[28], oai đức cực lớn như loài vua rồng, nổi tiếng khắp nơi, người đều quen biết, luôn thích thực hành thí giới[29] thanh tịnh, siêng tu hạnh nhẫn trải vô lượng kiếp, vượt các thiền định[30], chính niệm hiện tiền, mở cửa trí tuệ thực hành phương tiện, tự tại vận dụng thần thông vi diệu, đạt được tổng trì[31], luận biện thông suốt, đoạn dứt phiền não, vắng bặt nhiễm ô. Không bao lâu nữa, các vị này sẽ thành tựu trọn vẹn Nhất thiết chủng trí[32], hàng phục ma quân[33], gióng trống Đại pháp, chế ngự ngoại đạo, khiến cho tất cả phát tâm thanh tịnh. Các Đại bồ-tát chuyển bánh xe pháp độ cả trời người, khiến các cõi Phật trong khắp mười phương thanh tịnh trang nghiêm, chúng sanh sáu đường[34] đều được lợi ích. Các Đại bồ-tát thành tựu đại trí[35], trọn vẹn đại nhẫn[36], an trụ nơi tâm đại từ đại bi, thành tựu trọn vẹn sức đại kiên cố, phụng sự vô lượng các đức Như Lai mà không Niết-bàn[37]. Các Đại bồ-tát phát thệ nguyện lớn: ‘Đến tận vị lai trồng sâu tịnh nhân nơi các Đức Phật, từ pháp ba đời ngộ Vô sanh nhẫn[38], vượt trên trình độ tu tập Nhị thừa[39]. Các Đại bồ-tát dùng phương tiện khéo dẫn dắt thế gian, có thể diễn giảng pháp môn bí mật của đấng Đạo sư, thấu suốt pháp tánh vô cùng sâu xa, không mảy nghi ngờ. Trong số đó có các Đại bồ-tát: Vô Chướng Ngại Chuyển Pháp Luân, Thường Phát Tâm Chuyển Pháp Luân, Thường Tinh Tấn, Bất Hưu Tức, Từ Thị, Diệu Cát Tường, Quán Tự Tại, Tổng Trì Tự Tại Vương, Đại Biện Trang Nghiêm Vương, Diệu Cao Sơn Vương, Đại Hải Thâm Vương, Bảo Tràng, Đại Bảo Tràng, Địa Tạng, Hư Không Tạng, Bảo Thủ Tự Tại, Kim Cang Thủ, Hoan Hỉ Lực, Đại Pháp Lực, Đại Trang Nghiêm Quang, Đại Kim Quang Trang Nghiêm, Tịnh Giới, Thường Định, Cực Thanh Tịnh Huệ, Kiên Cố Tinh Tấn, Tâm Như Hư Không, Bất Đoạn Đại Nguyện, Thí Dược, Liệu Chư Phiền Não Bệnh, Y Vương, Hoan Hỉ Cao Vương, Đắc Danh Xưng Hỉ Lạc, Đại Vân Hiện Vô Biên Xưng, Đại Vân Sư Tử Hống, Đại Vân Ngưu Vương Hống, Đại Vân Cát Tường, Đại Vân Bảo Đức, Đại Vân Nhật Tạng, Đại Vân Nguyệt Tạng, Đại Vân Tinh Quang, Đại Vân Hỏa Quang, Đại Vân Điển Quang, Đại Vân Lôi Âm, Đại Vân Huệ Vũ Sung Biến, Đại Vân Thanh Tịnh Vũ Vương, Đại Vân Hoa Thọ Vũ Vương, Đại Vân Thanh Liên Hoa Hương, Đại Vân Bảo Chiên-đàn Hương Thanh Lương Thân, Đại Vân Trừ Ám, Đại Vân Phá Ế. Vào khoảng xế chiều, vô lượng bồ-tát như thế xuất định, đến trụ xứ Phật đảnh lễ chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Lại có năm ức tám ngàn đồng tử[40] dòng Lê-xa-tì[41]. Trong đó có các đồng tử bậc nhất: Sư Tử Quang, Sư Tử Huệ, Pháp Thọ, Nhân-đà-la, Đại Quang, Đại Mãnh, Phật Hộ, Pháp Hộ, Tăng Hộ, Kim Cang Hộ, Hư Không Hộ, Hư Không Hống, Bảo Tạng, Cát Tường Diệu Tạng. Tất cả đều trụ Vô thượng bồ-đề[42], vui vẻ tin sâu pháp môn Đại thừa[43]. Vào khoảng xế chiều, các đồng tử này đều đến chỗ Phật, đảnh lễ chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Lại có bốn vạn hai ngàn vị trời với những vị trời xuất sắc bậc nhất, luôn luôn phát nguyện hộ trì Đại thừa, nối tiếp phát triển tuyên dương chánh pháp, không để gián đoạn. Đó là: Thiện Kiến, Hỉ Duyệt, Nhật Quang, Nguyệt Kế, Minh Huệ, Hư Không Tịnh Huệ, Trừ Phiền Não, Cát Tường. Vào khoảng xế chiều, các vị trời này đều đến chỗ Phật, đảnh lễ chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Lại có hai vạn tám ngàn long vương[44]. Trong đó có các long vương bậc nhất: Liên Hoa, Y-la-diệp, Đại Lực, Đại Hống, Tiểu Ba, Trì Khoái Thủy, Kim Diện, Như Ý. Các long vương này có lòng tin sâu và luôn ưa thích thọ trì khen ngợi, bảo vệ Đại thừa; vào khoảng xế chiều, tất cả đều đến trụ xứ của Phật, đảnh lễ chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Lại có ba vạn sáu ngàn Dược-xoa[45], đứng đầu là Tì-sa-môn thiên vương. Trong đó có vị: Yêm-bà dược-xoa, Trì Yêm-bà, Liên Hoa Quang Tạng, Liên Hoa Diện, Tần Mi, Hiện Đại Bố, Động Địa, Thôn Thực. Các vị này đều ưa thích chánh pháp của đức Như Lai, một lòng bảo vệ, chưa từng biếng trễ; vào khoảng xế chiều, tất cả đều đến trụ xứ của Phật, đảnh lễ chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Bốn vạn chín ngàn Yết-lộ-trà[46] vương, đứng đầu là Hương Tượng Thế Lực vương; các càn-thát-bà[47], thần a-tu-la[48], thần khẩn-na-la[49], ma-hô-lạc-già[50], thần tiên ở các núi rừng sông biển, vua các nước lớn cùng với hoàng hậu, hoàng phi của họ và chúng trời người đều nguyện ủng hộ, đọc tụng thụ trì, biên chép truyền bá giáo pháp Đại thừa; vào khoảng xế chiều, tất cả đều đến trụ xứ của Phật, đảnh lễ nơi chân Ngài, nhiễu ba vòng rồi ngồi sang một bên.

Vào lúc xế chiều, các vị thanh văn, các đại bồ-tát, tám bộ[51] trời, người… nhóm họp đầy đủ, Đức Phật xuất định quan sát đại chúng rồi thuyết kệ rằng:

Pháp mầu Kim quang minh

Tối thắng, vua các kinh

Sâu xa rất khó gặp

Là cảnh giới Như Lai

Ta sẽ vì tất cả

Giảng nói rõ kinh này.

Bốn Phật trụ bốn phương

Phương đông Phật A-súc

Phật Thật Tướng phương nam

Phương tây Vô Lượng Thọ

Thiên Cổ Âm phương bắc

Dùng oai thần gia hộ.

Ta cũng sẽ nói pháp

Sám Cát tường thù thắng

Diệt được tất cả tội

Dứt sạch các nghiệp chướng

Tiêu trừ những nạn khổ

Ban phát nhiều niềm vui

Căn bản Nhất thiết trí

Các công đức trang nghiêm.

Những người thân khiếm khuyết

Tuổi thọ sắp tổn giảm

Tướng xấu đã hiện ra

Thiên thần đều xa lánh

Bạn bè sinh sân hận

Quyến thuộc thảy phân li

Đây kia đều trái nghịch

Của cải tiêu tan hết

Sao xấu hiện bất tường

Hoặc bị trùng độc xâm

Hoặc lòng nhiều lo buồn

Khổ đau lại bức bách

Nằm ngủ thấy ác mộng

Do vậy phiền não sanh.

Những người này cần phải

Tắm gội thay y phục

Tâm chuyên nhất, không loạn

Đọc tụng, nghe, thọ trì

Kinh vương thật sâu mầu

Mà Phật đã khen ngợi.

Do oai lực của kinh

Tránh khỏi được tai ách

Và các khổ nạn khác

Tất cả đều không còn.

Tứ thiên vương[52] hộ thế

Cùng đại thần quyến thuộc

Vô lượng các dược-xoa

Đều một lòng bảo vệ.

Thiên nữ Đại Biện Tài

Thần sông Ni-liên-thiền[53]

Thần Ha-lợi-để mẫu[54]

Cùng địa thần Kiên Lao[55]

Phạm vương[56], Đế Thích[57] chủ

Long vương, khẩn-na-la

Các vua kim sí điểu

Thiên chúng a-tu-la

Đều dẫn quyến thuộc mình

Đến bảo vệ người ấy

Ngày đêm luôn không rời.

Ta thuyết kinh mầu này

Là hành xứ của Phật

Giáo bí mật Như Lai

Ngàn vạn kiếp khó gặp.

Nếu ai nghe kinh này

Diễn nói cho người khác

Hoặc lòng sinh vui mừng

Sắm lễ vật cúng dường

Thì những người như thế

Thường trong vô lượng kiếp

Được tất cả trời người

Cùng long thần cung kính

Phước ấy nhiều vô lượng

Hơn số cát sông Hằng.

Người đọc tụng kinh này

Được công đức như thế

Cũng được Phật mười phương

Các bồ-tát bậc nhất

Giúp đỡ và bảo vệ

Tránh được các nạn khổ.

Người cúng dường kinh này

Tắm rửa thay y phục

Hằng khởi lòng từ bi

Dâng hương hoa, ẩm thực.

Nếu muốn nghe kinh này

Tâm phải thật thanh tịnh

Lòng phải luôn vui vẻ

Thì công đức tăng trưởng.

Người với tâm tôn trọng

Lắng nghe kinh mầu này

Nếu sanh về cõi người

Xa lìa các khổ nạn.

Người căn lành thuần thục

Được chư Phật ngợi khen

Mới được nghe kinh này

Và pháp sám Cát tường.

PHẨM 2: THỌ LƯỢNG CỦA NHƯ LAI

Ở thành Vương Xá có đại bồ-tát tên là Diệu Tràng đã từng phụng sự, cung kính cúng dường, trồng các cội lành từ nơi vô lượng câu-chi[58] do-tha[59] trăm ngàn Đức Phật. Bồ-tát an trú một mình nơi vắng và suy nghĩ rằng: “Vì sao thọ mạng của đức Thích-ca ngắn ngủi như thế, chỉ tám mươi năm? Ngài đã nói rằng: có hai nguyên nhân mà được trường thọ là không sát sanh và thường bố thí thức ăn thức uống, mà đức Thích-ca từ trong vô lượng trăm ngàn vạn ức vô số đại kiếp[60] ở đời quá khứ không hại sanh mạng, thực hành mười thiện[61], ban phát thức ăn thức uống cho các chúng sanh đói khát. Thậm chí ban cho chúng sanh máu thịt, xương tủy của mình, mong họ no đủ”.

Khi bồ-tát nghĩ về Phật như thế, nhờ oai lực Phật, ngôi thất bỗng nhiên rộng rãi thoáng mát, sạch sẽ trang nghiêm; lưu li Đế thanh[62], các báu vật khác, tơ lụa nhiều màu trang hoàng rực rỡ, giống như Tịnh độ của các Đức Phật. Lại có hương thơm tuyệt diệu hơn cả hương thơm cõi trời lan tỏa khắp thất. Bốn phía đều có tòa sư tử[63] quí do bốn vật báu kết hợp tạo thành, lại được phủ bằng vải báu thanh tịnh, có hoa sen đẹp, trân bảo trang trí, tương xứng với thân Đức Phật Như Lai tự nhiên xuất hiện. Trên hoa sen có bốn Đức Phật là Bất Động Như Lai ngự ở phương đông, Bảo Tướng Như Lai ngự tại phương nam, Vô Lượng Thọ Phật ngự ở phương tây, Thiên Cổ Âm Phật ngự ở phương bắc. Bốn đức Như Lai đều ngồi kết-già trên tòa của mình, phóng luồng ánh sáng rực rỡ chiếu soi khắp thành Xá-vệ, đến cả tam thiên đại thiên thế giới[64] và hằng hà sa cõi Phật mười phương; lại có hoa trời tươi đẹp tuôn khắp, nhạc trời reo vang.

Bấy giờ chúng sanh ở cõi Diêm-phù[65] và cả tam thiên đại thiên thế giới, nhờ oai lực Phật, nên đều nhận được niềm vui tuyệt diệu, không còn ai phải chịu sự thiếu thốn. Trong đó những ai thiếu khuyết chi phần thì lại đầy đủ, người mù được sáng, người điếc tai thông, người câm nói được, người ngu trí tỏ, người điên tâm an, người thiếu áo quần thì có áo quần, người kém hèn lại được kính trọng, thân thể hôi dơ trở lại sạch sẽ. Những việc lợi ích chưa từng có được ở thế gian này lần lượt xuất hiện đầy đủ không thiếu.

Bồ-tát Diệu Tràng thấy bốn Đức Phật và việc hiếm có, vô cùng vui vẻ chiêm ngưỡng tôn dung tuyệt mĩ của Phật. Bồ-tát lại nghĩ Thích-ca Như Lai vô lượng công đức, không phải nghi ngờ, chỉ vì thọ mạng của Ngài quá ngắn nên lòng nghi rằng: “Tại sao công đức của Phật vô lượng, mà thọ mạng Ngài lại quá ngắn ngủi, chỉ tám mươi năm?”.

Bốn đức Như Lai bảo Diệu Tràng rằng: “Hiền giả[66] Diệu Tràng! Ông chẳng nên nghĩ và cho thọ mạng Như Lai ngắn ngủi. Vì sao như thế? Vì chẳng một ai trong cõi trời người, Phạm thiên-ma vương[67], sa-môn[68], Phạm chí[69], phi nhân[70] vân vân mà tính biết được thọ mạng Như Lai, chỉ trừ bậc Vô Thượng Chánh Biến Tri[71]”.

Bốn đức Như Lai sắp nói thọ lượng của Phật Thích-ca. Do oai lực Phật, nên các vị trời cõi Dục, cõi Sắc, các vị long vương, thần càn-thát-bà, thần a-tu-la, loài yết-lộ-trà, loài khẩn-na-la, ma-hô-lạc-già, cùng với vô lượng trăm ngàn vạn ức do-tha bồ-tát đều nhóm họp tại ngôi thất tịnh diệu của ngài Diệu Tràng. Bấy giờ bốn đức Như Lai ở trước đại chúng dùng kệ trình bày thọ lượng của đức Thích-ca Mâu-ni Như Lai.

Có thể tính biết được

Số giọt nước biển lớn

Nhưng sẽ không thể nào

Biết thọ lượng Thích-ca.

Dù biết số hạt cát

Từ Diệu Cao[72] phân ra

Nhưng không thể tính biết

Thọ lượng của Thích-ca.

Có thể tính biết được

Số hạt bụi đại địa

Nhưng không thể tính biết

Thọ lượng của Thích-ca.

Giả sử lường biết được

Giới hạn của hư không

Nhưng không thể tính biết

Thọ lượng của Thích-ca.

Nếu người sống ức kiếp

Dốc sức hằng tính toán

Cũng không thể biết được

Thọ lượng của Thế Tôn[73].

Do không hại sinh mạng

Và bố thí ẩm thực

Cho nên đức Thích-ca

Được thọ mạng dài lâu.

Do đó khó tính biết

Thọ mạng bậc Đại Giác[74]

Thọ lượng của Như Lai

Như kiếp số vô biên.

Diệu Tràng, ông nên biết!

Chớ khởi tâm nghi hoặc

Như Lai thọ vô lượng

Không ai tính biết được.

Bồ-tát Diệu Tràng nghe bốn Đức Phật nói về thọ lượng của đức Thích-ca, liền bạch Phật rằng: “Như thế tại sao Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi?”. Bốn Đức Phật dạy: “Này thiện nam tử[75]! Thích-ca Mâu-ni xuất hiện thế gian vào thời năm trược, thọ mạng con người chỉ được trăm năm, thiên tư kém cỏi, căn lành nhẹ mỏng, không có lòng tin, khởi kiến chấp ngã[76], kiến chấp về nhân[77], kiến chấp chúng sanh[78], kiến chấp thọ giả[79]; nuôi dưỡng tà kiến[80], ngã-ngã sở kiến[81], đoạn kiến[82] thường kiến[83]…Vì muốn giúp cho những chúng sanh này và các ngoại đạo phát sanh chánh kiến[84], mau chóng thành tựu Vô thượng bồ-đề, cho nên Thích-ca Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi. Này Thiện nam tử! Nhưng đức Như Lai muốn các chúng sanh thấy Phật niết-bàn, sanh khởi ý niệm khó được gặp Phật xuất hiện thế gian, ý niệm buồn khổ…, phải chóng thọ trì, đọc tụng thông thạo, giảng nói cho người những kinh giáo mà Như Lai đã dạy, không sinh hủy báng. Vì thế Như Lai thị hiện thọ mạng ngắn ngủi như thế. Còn nếu chúng sanh thấy đức Như Lai không vào niết-bàn, thì chẳng cung kính, chẳng có ý niệm khó gặp được Phật xuất hiện thế gian, không chịu thọ trì, đọc tụng thông thạo, giảng nói cho người nghe những kinh điển Như Lai đã dạy. Vì mãi gặp Phật thì không khởi tâm cung kính tôn trọng.

Này Thiện nam tử! Như có người thấy cha mẹ giàu sang, của cải vô số, thì sẽ không có ý nghĩ khó được số tài sản này, mà xem là thường. Các chúng sanh kia cũng lại như vậy, thấy đức Như Lai không vào niết-bàn, thì sẽ không sanh ý tưởng khó gặp, vì thường thấy vậy! Như có người thấy cha mẹ nghèo khổ, không có tài sản, người ấy đến nhà vương gia quan lớn, thấy những kho tàng chứa đầy trân bảo, liền sanh ý tưởng cho là khó được. Bấy giờ người ấy tìm mọi phương cách, siêng năng cần mẫn, tìm cầu cho được của cải như thế, hầu thoát đói nghèo, cuộc sống an vui. Các chúng sanh kia cũng lại như vậy, nếu thấy Như Lai vào niết-bàn rồi, sẽ sanh ý tưởng cho là khó gặp, cho đến buồn khổ mà suy nghĩ rằng: “Trải vô lượng kiếp, Như Lai mới hiện ở thế gian này, như hoa ưu-đàm đúng lúc mới hiện”. Các chúng sanh kia, đã sanh ý niệm khó gặp Như Lai, nên khi gặp được, tâm liền kính tin, nghe thuyết chánh pháp liền cho thật ngữ, thọ trì tất cả mà không hủy báng. Vì nhân duyên ấy, cho nên Thế Tôn không thể trụ lâu, mà chóng niết-bàn. Các đức Như Lai dùng các phương tiện khéo léo như thế để giúp chúng sanh thành tựu bồ-đề”.

Bốn Phật nói xong, bỗng nhiên biến mất. Bấy giờ Diệu Tràng cùng với vô lượng trăm ngàn bồ-tát, vô lượng vạn ức do-tha trăm ngàn chúng sanh tụ tập tại non Linh Thứu, trụ xứ của đức Thích-ca Như Lai, lễ chân Ngài rồi đứng về một phía; bồ-tát Diệu Tràng trình bày cho Phật biết những việc trên. Lúc ấy bốn đức Như Lai cũng vừa đến ngọn Linh Thứu, mỗi vị tùy theo phương vị của mình mà ngồi vào tòa. Mỗi vị đều bảo bồ-tát thị giả: “Các ông hãy đến trước Phật Thích-ca Mâu-ni chuyển lời của ta thăm hỏi: ‘Ngài hẳn không bệnh, không có nhọc mệt, đi đứng nhẹ nhàng, thật an lạc chứ?’. Lại nói: ‘Quí thay, quí thay! Thích-ca Như Lai! Nay Ngài giảng nói kinh Kim quang minh, pháp yếu sâu xa của các Như Lai, để làm lợi ích cho khắp chúng sanh, dứt trừ đói khát, khiến được an lạc. Chúng tôi cũng sẽ tùy hỉ việc này’ ”.

Đọc tiếp: QUYỂN 1 →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *