KINH HIỀN – HỘI HOA ĐÀM · Chương 57/61

51. Một lòng trợ đạo

Nhớ xưa vùng ngát hương cau,
Nơi dinh cơ bậc sang giàu vô song.
Là ngài Tu-đạt chính trung,
Phò vua giúp nước cường hùng một phương.
Ngài thường trải rộng lòng thương,
Giúp người cô độc vất vương bụi bờ.
Lại dành riêng cảnh nên thơ,
Cho ai đau ốm nương nhờ nghỉ ngơi.
Ông còn khuyến hóa nơi nơi,
Bớt phần xa xỉ giúp đời ấm no.
Nêu gương ông phát giống mùa,
Và thường cấp vốn bán mua khắp thành.
Hết lòng săn sóc dân sinh,
Cứu người thương vật vang danh hiền tài.
Lòng ông như ngọc sáng ngời,
Tu nhân tích đức suốt đời làm gương.
Sinh con nối dõi tông đường,
Bốn chàng hiếu đễ kính thương cha già.
Đều nên thao lược tài ba,
Rõ ràng phong độ nếp nhà công khanh.
Ba trai sớm kết duyên lành
Cùng ba kiều nữ đoan trinh trong miền.
Thêu thùa khéo léo tay tiên,
Nết na dâu thảo vợ hiền tiếng thơm.
Sắc tài sóng bước keo sơn,
Như hoa hạnh phúc trong vườn lứa đôi.
Ba con lớn vẹn duyên rồi,
Riêng người con út chưa nơi hẹn hò.
Ông nhờ bạn thiết giúp cho,
Kén nơi hiền đức liệu so tơ hồng.
Bạn ông vui tính rộng lòng,
Nhận là từ đó ra công kiếm tìm.
Tìm người tài sắc chính chuyên,
Khó khăn mấy cũng chẳng phiền ngại chi.
Dù nơi xóm cúc thôn lê,
Hết qua phố trúc lại về làng mai.
Nghe đâu thục nữ anh tài,
Làm quen bằng được tới nơi xem là.
Xét từ ngôn hạnh dung hoa,
Xét từ dòng dõi nết na mọi phần.
Từ đi kể cả trăm lần,
Chưa tìm được một mỹ nhân vẹn toàn.
Nghĩ mình kết phượng nối loan,
Thâm giao bạn đã một lòng cậy trông.
Vậy nên ta phải hết lòng,
Tìm sao bằng được đóa hồng thiên hương.
Vó lừa đủng đỉnh dặm sương,
Chòm râu lấm tấm bụi vương ngả màu.
Chiều kia đến một nương dâu,
Vượt dòng suối bạc qua cầu tre lam.
Chợt ông nhận thấy có nàng
Nghiêng mình giặt lụa dưới hàng liễu tơ.
Suối chiều lãng đãng khói mờ,
Ráng hồng theo gió cũng hờ hững bay.
Thấy ông thiếu nữ ngừng tay
Nhìn lên. Ông tưởng cõi này thêm hoa
Bóng nàng biêng biếc sương pha,
Tóc nàng như thể mây qua bồng bềnh.
10.700.  Mặt nàng như ửng nụ xuân,
Môi tươi khoé lý, tay ngần búp lan.
Thấy già đứng ngựa cầu lam,
Nàng thưa: “cụ ở đâu sang vùng này?
Chắc là cụ kiếm ai đây,
Sơn thôn khuất lạc đường mây còn tìm?”
Lão đùa “ta đi kiếm chim,
Chim bay ta biết hỏi tìm nơi mô!
Vó lừa rong ruổi sớm trưa,
Biết đâu chim đó chẳng qua cõi này.
Loài chim hót giọng ngất ngây,
Một lần nghe, mãi bao ngày khôn quên.
Loài chim tuy chẳng biết tên,
Thoáng nghe tiếng hót mà phiền não tan.
Bây giờ sông Bắc đồi Nam,
Lòng già đã quyết tìm đàn chim kia.
Chẳng hay con đã từng nghe
Tiếng chim nào mát như che lòng người?”
Nàng thưa “tăm cá chim trời,
Sớm vui đồng cỏ chiều rời non hoa.
Vị gì một tiếng thiết tha,
Tỉnh mê cũng ở lòng ta chẳng ngoài.
Cháu xin cụ chớ u hoài,
Dù cho tìm khắp trần ai thấy gì.
Nếu tìm chân tướng tham si,
Nếu tìm đạo lý từ bi giúp đời,
Còn hơn đuổi bóng chim trời,
Cưu mang ảo giác tuyệt vời tiếng ca.”
Lời nàng như tỉnh lòng già,
Nghe xong đã biết ngọc hoa rõ ràng.
Ngờ đâu giữa chốn sơn trang,
Tình cờ lại gặp kho tàng minh châu.
Lão vờ than: “chốn nương dâu,
Đêm nay biết trú nhờ đâu tạm thời?”
Nàng thưa “vậy cháu xin mời,
Nếu cụ chẳng nệ những nơi nghèo nàn.”
Bước chân thoăn thoắt dẫn đàng,
Qua cồn dâu đẫm mây vàng chiều hôm.
Đưa về ven núi sơn thôn,
Vách mây lờ lững, lau cồn lô xô.
Chim thưa tiếng rụng mơ hồ,
Dẫn vào dưới mái cỏ bồ đơn sơ.
Cha nàng mái tóc như tơ,
Dưới hoa bày dở ván cờ tiêu dao.
Đôi bên tương kính mừng chào,
Cũng người cốt cách thanh cao khác thường.
Hỏi ra, xưa ở phố phường,
Khinh đời lắm chuyện nhiễu nhương bỏ về.
An bần lạc đạo chốn quê,
Thong dong ngày tháng đề huề gió trăng.
Ở đây khoảng đã mười năm,
Với nàng gái út Ngọc Hằng đó thôi.
Tháng ngày thanh thản yên vui,
Dạy con giữ lấy đức người hiền lương.
Ngọc Hằng đã nổi tiếng ngoan,
Hầu cha, săn sóc ruộng vườn sớm hôm.
Càng nghe được rõ ngọn nguồn,
Khách càng thêm quý mến hơn nhiều phần.
Ở thêm vài buổi làm thân,
Trước sau đẹp ý xa gần mới thưa.
Thấy nơi xứng hợp duyên tơ,
Lão ông nghe cũng mừng cho con mình.
Thế là khách trở lại kinh,
Tháng sau xe ngựa linh đình dẫn sang.
Lễ nghi trang trọng cưới nàng,
Giữa nơi hoa cỏ sơn trang hẹn hò.
Rước dâu về đến thành đô,
Hoa tung lối ngõ mơ hồ nhã ca.
Ngọc Hằng từ kiệu bước ra,
Tưởng chừng ở chốn cung nga lạc về.
Một đôi ngọc sánh hoa kề,
Hai người đi dưới ngõ lê trắng ngời.
Tóc huyền theo gió buông lơi,
Sợ hoa thẹn dáng, ngại trời e hương.
Thế rồi chắp cánh uyên ương,
Vườn xuân mở cõi thiên đường trăm hoa.
Từ thêm dâu quý về nhà,
Ông Tu-đạt lại càng là thi ân.
Mở kho lớn, tặng chúng dân,
Tạ ơn trời đất ban phần cao sang.
Ngọc Hằng những lúc rảnh rang,
Thường dạy người dưới khâu đan thêu thùa.
Một chiều, ông dạo vườn hoa,
Tiếng đâu ấm ngọt nghe qua lạnh mình.
Con dâu đang giảng lẽ kinh,
Lời như gột sạch vô minh cát lầm.
Ghé qua thấy cạnh đỉnh trầm,
Hằng đang dạy bảo hàng trăm thị tỳ.
Nào là cách diệt tham si,
Nào là bình đẳng từ bi lẽ mầu.
Nghe toàn nghĩa lý cao sâu,
Đạo này chẳng hiểu từ đâu truyền vào.
Thấy cha thấp thoáng song đào,
Nàng ra khép nép cúi chào lão thân.
Ông rằng “ta đang phân vân,
Vì nghe thuyết giảng trăm phần lạ tai.
Chẳng hay con học nơi ai
Mà thông lý đạo tuyệt vời biết bao?”
Nàng thưa “đức Phật tối cao,
Bên thành La-duyệt như hào quang soi.
10.800.  Hiện về giáo hóa trời người,
Tình thương rộng nở thắm tươi muôn vàn.
Năm xưa, cha con tìm sang,
Cho con theo đến dâng nhang đạo trường.
Thật là mầu nhiệm dị thường,
Tiếng Ngài khai mở trăm đường trí bi.
Lời trong như suối lưu ly,
Phá tan tập kiến tham si cõi lòng.
Đưa về mối đạo trắng trong,
Như ao sen nở cánh bông thơm ngần.
Vua, quan, cho đến tiện nhân,
Theo về tu học chẳng phân sang hèn.”
Ông rằng “cha đã nghe tên
Đức ngài trải rộng muôn miền gần xa.
Nhưng cha chưa có kịp qua.”
Nàng thưa “nếu gặp Phật-đà nghe kinh,
Là đi tìm gặp chính mình,
Bước chân vượt cõi giả hình tù giam.
Dù cho vô lượng ngọc vàng,
Chẳng bằng chân bước qua đàng vọng mê.”
Lời con như gió thoảng về,
Lòng ông quyết đến nước kia cầu hiền.
Đêm nằm mơ thấy chư tiên
Từ cung trời xuống quanh miền gieo hoa.
Dựng lên san sát muôn tòa
Lầu vàng gác ngọc như là thiên cung.
Tàn hoa, phướn gấm trùng trùng,
Lại thêm quỉ dữ khắp vùng reo vui.
Mừng rằng pháp Phật diệu vời
Khiến cho muôn loại thoát nơi ngục tù.
Từ đây nơi cõi Diêm-phù
Rạng thêm trí tuệ thiên thu sáng ngời.
Pháp vương mỗi ý mỗi lời,
Là hoa mười cõi tuyệt vời trổ bông.
Giật mình, trời đã hừng đông,
Ra đi ngựa vượt mây hồng non cao.
Hành trình hơn một tháng sau,
Tu-đạt đã đến rừng đào thành La.
Ông vào dưới mái nhà hoa,
Gió trầm hương lẫn chim ca diệu kỳ.
Chung quanh người khoác hoàng y,
Thanh cao ánh mắt, từ bi nụ cười.
Ngồi trên chõng trúc một người,
Uy nghi phúc tướng tuyệt vời thế gian.
Dường như cảm ánh từ quang,
Chim rừng cất tiếng cây ngàn trổ hoa.
Mắt ngài trìu mến thiết tha,
Lời như gió thoảng đưa qua rừng trầm.
Lòng ông gội sạch mê lầm,
Dưới thềm thấm giọt từ âm tỉnh người.
10.850.  Nghe xong, lễ Phật, thỉnh mời,
Đón sang Xá-vệ là nơi cõi ngoài.
Nguyện về thiết lập pháp đài,
Dựng nhà tinh xá, rước Thầy qua sau.
Thỉnh xong, từ tạ cúi đầu,
Lên yên giục ngựa qua cầu mây xanh.
Núi xa như mở quách thành
Cheo leo đường cũ tươi nhành sương un.
Về phương lởm chởm mây đùn,
Ngựa tung vó tuyết cũng vùn vụt qua.
Mùa sau đã tới quê nhà,
Cỏ cây hớn hở, trẻ già mừng vui.
Đức vua cũng ngự tới nơi,
Hỏi xem Phật có như lời xưa nay.
Hàn huyên tôi chúa bàn ngay,
Quyết lòng hóa chuyển cõi này từ bi.
Ông tìm đất nọ đất kia,
Làm tinh xá đón Phật về hóa duyên.
Đã tìm khắp cả quanh miền,
Chẳng đâu là được như niềm ước mong.
Sau cùng còn đất cửa Đông
Có đồi có suối đơm hồng trăm hoa.
Là vườn thái tử Kỳ-đà,
Làm sao chuốc được để mà hiến dâng.
Đất này thái tử ưng dùng,
Bao năm gìn giữ chẳng từng nhượng ai.
Quyết lòng ông cứ sang chơi,
Hỏi mua vườn để dựng đài truyền hương.
Kỳ-đà thách: “tôi sẽ nhường
Cho ai đem trải kín vàng đất kia.”
Tưởng ông thất vọng trở về,
Ai ngờ sáng dậy bốn bề vàng tươi.
Mênh mang mấy dặm chói ngời
Phủ trên vườn nọ như lời ước giao.
Kỳ-đà kinh ngạc biết bao,
Chẳng hay oai đức vị nào gớm ghê.
Khiến ngài Tu-đạt thôn kia
Phát tâm dâng cúng, chẳng nề vong gia.
Giờ còn muôn gốc đào hoa,
Mình xin dâng nốt, vậy là xong xuôi.
Để chung công đức với người
Dựng đàn, tìm được một nơi như lòng.
Tu-đạt hoan hỉ vô cùng,
Rồi đêm mơ thất một vùng hồng soi.
Bao nhiêu thần thánh quanh người
Đốt hương khen tặng bao lời ngợi ca.
Sáng sau phơn phớt mây pha,
Hoa đâu rụng xuống quanh nhà như mưa.
Kẻ hầu vào khẽ quì thưa:
“Có người xa đến áo như mây hường…”
10.900.  Ông ra phòng khách vội vàng,
Thấy ngài Xá-lợi-phất đang ngồi chờ.
Phật cho đệ tử Phật qua
Giúp ông trong việc dựng tòa trầm nhang.
Tin hay đi khắp nẻo đàng.
Bây giờ ngoại đạo xốn xang vào hùa.
Đến xin yết kiến nhà vua,
Xin ngăn Tu-đạt dựng chùa núi Đông.
Lại đòi tỉ thí thần thông,
Nếu Phật không thắng thì không được vào.
Dù cho rằng đạo thế nào,
Cũng xin đọ thử thấp cao mới rồi.
Chìu dân, vua cũng thuận lời,
Định ngày tỉ thí cho mời đôi bên.
Ngoài thành truyền dựng đài lên,
Đến kỳ đại biểu hai bên trổ tài.
Hôm sau khai mở lễ đài,
Thành trong cho đến thôn ngoài kéo xem.
Ngoại đạo quyết lòng đua chen
Phô trương thanh thế múa men đủ trò.
Thôi thì tiếng nhỏ tiếng to,
Áo quần loè loẹt quanh lò hương bay.
Bỗng dưng thấy chiếc tàn mây
Che ngài Xá-lợi dưới đài bước lên.
Đạo trường bốn phía lặng yên,
Ngẩn trông oai đức trang nghiêm khác thường.
Nắng pha sắc áo mây hường,
Lưng trời thêm chiếc tàn hương lạ kỳ.
Hiền hòa, giải thoát dung nghi,
Hào quang theo bước chân đi tỏa ngời.
Khắp phương ngoại đạo rụng rời,
Lúc sau mới cử một người tài ba
Thổi lên lớp lớp mù sa,
Tàn mây kia bỗng hóa ra mặt trời.
Tỏa soi khắp cả nơi nơi,
Mù sương tan loãng thành hơi biến dần.
Lạ thay định lực oai thần,
Lòng người như sạch bụi trần thênh thang.
Thuật tà đó mới bị tan,
Lại người niệm chú hóa tàn cây cao.
Mặt trời giờ hiện tán đào,
Thân cây thành cán xuyên vào nghiêng che.
Hai lần pháp bị phá đi,
Thấy lo, ngoại đạo thầm thì bàn quanh.
Cử ra một gã áo xanh,
Khoa tay niệm chú phi hành cưỡi mây.
Tàn đào thành lưới bủa vây,
Tên kia nhảy xuống mặt mày xám tro.
Lại người nổi trận gió to,
Lưới kia lập tức hóa lò hương thơm.
10.950.  Gió đưa trầm ngát mười phương,
Thuật tà liền hóa thiên đường trên mây.
Như tuồng ngọc dát vàng xây,
Khiến cho đại chúng ngất ngây hướng nhìn.
Tự nhiên nơi mỗi con tim,
Tàn mây đã hóa muôn nghìn cõi tiên.
Khiến lòng tự tại an nhiên,
Mỗi người là một cõi miền thánh linh.
Bọn tà hô hoán âm binh,
Hiện ra địa ngục muôn hình khảo tra,
Thì trong tim mỗi người ta,
Hàng hàng Bồ-tát hiện ra cứu đời.
Địa ngục kia hóa cõi trời,
Vạc dầu lại hóa thành hơi tịnh trầm.
Tiếng than là giải thoát chuông,
Thần âm chuyển khắp mười phương tỉnh người.
Ngoại đạo im tiếng im lời,
Phóng ra mấy mũi dao ngời ánh quang.
Tự nhiên dao hóa sen vàng,
Búp hoa kết lại dâng làn hương bay.
Lưng trời giờ chiếc tàn mây,
Thành mưa trải khắp trong ngoài hân hoan.
Khiến cho hận dịu sầu tan,
Bây giờ ngoại đạo qui hàng về theo.
Nắng mai rực rỡ y điều,
Thinh không vẳng tiếng hạc kêu tuyệt vời.
Cánh như mây nổi chơi vơi,
Mấy dòng bay lượn giữa trời cao xanh.
Xá-lợi ngồi thuyết đạo lành,
Khiến chim cũng tụ trên cành hòa ca.
Nhà vua truyền cử long xa
Đón mời quốc khách về nhà cúng trai.
Lễ đường hoa kết trầm bay,
Cầu nghe chính pháp sâu dầy mênh mông.
Vây quanh vóc tía dung hồng,
Quần thần hoàng tộc đầy phòng uy nghi.
Xin theo ngũ giới tam quy,
Rồi vua ân xá, đền nghì đạo sư.
Lại truyền dựng chỗ an cư,
Kỳ-hoàn soi ánh chân như từ rày.
Đạo tràng xanh biếc ngàn mây,
Lưng non suối nhỏ vơi đầy thần âm.
Nào là san sát lầu trầm,
Nào sàn vân tập, nào đầm niệm hoa.
Trong khi coi dựng đạo tòa,
Một hôm Tu-đạt thấy lòa hào quang.
Hiện ra gác ngọc lầu vàng,
Trang nghiêm đủ vẻ cao sang diệu kỳ.
Vì ngài Xá-lợi đứng kề,
Đang dùng tuệ nhãn bốn bề chiếu soi.
11.000.  Khiến cho ông thấy từng trời,
Hiện ra cảnh giới chơi vơi điện đài.
Lại nghe vẳng tiếng bên tai
“Phước người dâng cúng Như Lai một lòng.
Cung trời cũng lập vừa xong,
Chờ ngài thí chủ trắng trong từ giờ.”
Tu-đạt lặng ngắm ngẩn ngơ,
Bâng khuâng như một giấc mơ trải dài.
Hẳn đây tiên cảnh Bồng Lai,
Cửa niêm phiến ngọc, mây gài then hương.
Quanh quanh gò tía dặm hường,
Suối thu lẩn khúc, cầu sương nhịp mờ.
Thinh không hạc lượn vật vờ,
Như dòng thơ cổ trên tờ phấn tiên.
Gió đùa cỏ nội hoa triền,
Tưởng muôn tấm lụa thiên nhiên dải màu.
Sương xanh kết mấy nhịp cầu,
Tiếng chim là nước nhiệm mầu xuôi nhanh.
Vườn trầm bướm ngẩn ngơ quanh,
Hoa leo kết ghế bên thành hồ sương.
Núi quanh chỏm tía đỉnh hường,
Đường cheo leo cát kim cương nạm ngời.
Tu-đạt tỉnh giấc chơi vơi,
Nào đâu cảnh giới tuyệt vời vừa qua.
Lạ lùng mới hỏi nguyên do:
“Xin thầy lân mẫn giảng cho việc này.
Rõ ràng lầu cuộn tầng mây,
Con vừa ngồi giữa hương vây hoa ngàn.
Hóa ra vẫn ở Kỳ-hoàn,
Bên thầy dưới gốc mai vàng gió lay.
Vẫn là nơi một thân này,
Là đâu hư thực, xin thầy dạy cho.”
Sư rằng “khắp cõi Diêm-phù
Khác chi một dải sương mù ban mai.
Dù cho muôn sự muôn loài,
Cũng là vọng thức hiện bày nghiệp riêng.
Chân tâm mầu nhiệm thiêng liêng,
Dung thông vũ trụ chẳng miền cách chia.
Nghiệp ông là cõi trời kia,
Ý là lầu các vừa kề phút giây.
Khẩu là hoa nở trầm mây,
Thân là cõi giới hiện bày hào quang.
Tâm sinh vạn pháp mây vàng,
Thể như nước hiện vô ngàn sóng xô.
Một khi vượt huyễn mê đồ,
Thì như trăng nước đáy hồ lặng soi.
Hóa hình đến khắp nơi nơi,
Thần thông du hí cung trời gần xa.
Mười phương trong một sát-na,
Ứng thân đi trải hương hoa cúng dường.
11.050.  Hoặc làm mây diễn vô thường,
Hoặc làm mưa diễn đạo thường luân lưu.
Hoặc làm đất thảm hoa thêu,
Hoặc làm gió cuộn dập dìu chim ca.
Đều do tâm thể hóa ra
Trang nghiêm Phật quốc như là một thân.
Đức ông vô lượng vô ngần,
Trợ đạo giải thoát, giúp dân vẹn lòng.
Khiến nên tâm thức sạch trong,
Cõi trời vừa nở một bông hoa thần.
Biến ra lầu các mây vần,
Cũng tùy thiện lực tinh cần hóa sinh.
Ông xưa từng đã quên mình,
Cõi trời đã tự dứt tình bao phen.
Nguyện vào trần thế đua chen,
Làm nhà, thỉnh Phật, đạo hiền trợ khai.
Vào ra nơi cõi đất này,
Sáu lần theo Phật dựng xây đạo trường.
Từ Tỳ-bà-thi pháp vương
Đến Phật Ca-diếp chân thường như lai
Cũng từ nơi cõi đất này
Ông từng dựng tháp xuyên mây cúng dàng.
Trải qua mấy kiếp trần hoàn,
Bây giờ lại dựng đạo tràng trí bi.
Còn như những kẻ tham si,
Chấp mê nghiệp cảnh khác chi kiến này.
Một đàn quanh quẩn nơi đây,
Đã qua vô lượng khói mây đổi dời.
Kiến này vẫn tụ một nơi,
Tan tan hợp hợp bao đời long đong.
Thôi thì mẹ mẹ con con,
Sống nhờ hoa cỏ trái non rụng rời.
Thương thay biết đến bao đời
Mới đà thoát khỏi kiếp nơi côn trùng.
Kẻ mê trong cõi mịt mùng
Bo bo ôm lấy nghiệp chung chẳng dời.
Đã may sinh ở cõi người,
Chẳng tu thiện nghiệp thoát nơi luân hồi.
Ngàn năm dễ gặp được thời
Đức Phật thị hiện cứu đời lầm mê.
Trần gian một cõi Bồ-đề chở che.”
Tu-đạt cung kính hầu nghe
Lời thiền sư tỉnh giấc mê trường đời.
Thế rồi vừa một tháng trời,
Vườn Kỳ dựng đủ năm mươi ngôi nhà.
Giữa nơi dị thảo kỳ hoa,
Lại riêng dựng một ngôi nhà gỗ thơm
Làm chỗ ngự của Thế tôn,
Bên hồ sen gió dâng hương đêm ngày.
11.100. Thêm đài hồng thạch khắc mây,
Làm tòa thuyết pháp dưới cây bạch đào.
Giữa đài đắp bệ sen cao,
Dưới đài sư tử chầu vào bốn phương.
Hai bên, cầu cuộn mây vương
Bắc lên từ bốn đỉnh hương ngát trời.
Quanh đài lại đặt đôn ngồi
Hình hoa sen nở, là nơi tọa thiền.
Đạo trường như cõi thần tiên,
Nào cầu vọng nguyệt, nào thuyền dạo thu.
Nào hồ tha thướt liễu tơ
Xanh nghiêng rũ xuống lầu thơ nguyệt đàm.
Lối hoa dẫn đến thiên đường,
Cổng vào dựng một tháp chuông đại hồng.
Tu-đạt trần thiết vừa xong,
Tâu vua sai sứ qua sông thỉnh Người
Về khai chính pháp tột vời,
Trần gian dựng một cõi trời hiền lương.
Lệnh truyền án thiết hoa hương,
Nhà vua hiện đến biên cương trước ngày.
Chờ đoàn thỉnh rước Như Lai,
Ải quan mở đón dấu hài từ bi.
Thôn trang cho đến kinh kỳ,
Tự nhiên gió thoảng hương gì thanh cao.
Khiến muôn dặm lý cồn đào,
Bỗng dưng hoa nở đón chào Phật Tăng.
Suối khe rộn rã thủy cầm,
Hòa ca như một dòng âm diệu kỳ.
Mây đùn một góc trời kia,
Dựng lên như thể tấm bia đủ màu.
Đã trông tàn kiệu chân châu,
Đoàn người rước Phật qua cầu tới ngay.
Thế rồi yến tiệc trăm ngày,
Thả tù, bố thí, trồng cây cúng dường.
Ngày Phật khai mở đạo trường,
Quần thần hoàng tộc quốc vương hầu quì.
Người vây quanh chật vườn Kỳ,
Thôi thì hoa trái, thôi thì chim bay.
Nghìn năm dường có hội này,
Sông dâng khói sóng, rừng lay gió ngàn.
Từng không mây kết nên tàn,
Như hoa muôn sắc tỏa làn diệu hương.
Cổng rừng vọng tiếng thần chuông,
Tàn mây nhẹ trải mưa hường khắp nơi.
Khiến như giải thoát lòng người,
Kẻ câm giờ chợt mở lời reo ca.
Người mù chợt mở mắt ra,
Kẻ điếc chợt lắng tiếng hoa rụng rời.
Bệnh nan y khắp gầm trời,
Hứng mưa khỏi hẳn, như người chiêm bao.
11.150.  Phật lại phóng ánh bạch hào
Như bình minh chiếu soi vào mười phương.
Hiện ra vô lượng thiên đường,
Toàn là mã não kim cương ngọc hồng.
Lưu ly là núi là sông
Hào quang kết tụ muôn bông hoa ngời.
Gió đưa là tiếng nhạc rơi,
Cỏ lay: sóng gợn, mây dời: tuyết sa.
Quần tiên vóc liễu dung hoa
Trong vườn cẩm ngọc chói lòa hào quang.
Thướt tha tay múa miệng xoang.
Gảy đàn cưỡi hạc từng hàng nhởn nhơ.
Hoặc lưng non ngả cuộc cờ,
Bâng khuâng bãi thúy, hững hờ dòng mây.
Lại hào quang Phật hiện bày
Cung trời Đâu-suất rợp cây hoa thần.
Cánh hoa rụng thành phù vân,
Mây tan thành suối tươi ngần ánh trăng.
Suối reo thành nhạc thường hằng,
Nhạc rơi hóa hiện muôn tầng lầu mây.
Toàn là ngọc khắc vàng xây,
Có chim muôn sắc có cây trăm màu.
Có tháp cẩm ngọc minh châu,
Có xe mây kết có cầu sương un.
Đó là diệu dụng thần thông
Của đức Di-lặc giữa bông hoa thần.
Ngài đang cầm sách cẩm vân,
Chữ ghi là những dấu chân hạc trời.
Phật dạy: “Bồ-tát độ đời
Sẽ truyền muôn đạo trong lời vô thanh.
Hưng chính pháp độ chúng sanh,
Mười phương hòa hợp dưới cành vô ưu.
Hóa thân xuống trước dắt dìu,
Khiến cho nhân loại xuôi chiều về theo.
Xa lìa ngã chấp mạn kiêu,
Trần gian là cõi diễm kiều thi ca.
Di-lặc sau mới hiện ra,
Tự nhiên muôn cõi là nhà trí bi.
Chẳng tranh mà được mới kỳ,
Chẳng tu mà sạch tham si bụi hồng.”
Dạy rồi ngừng phóng thần thông,
Quanh Phật đại chúng dứt lòng mạn nghi.
Quay về diệu pháp nương y,
Nguyện theo ngũ giới tam quy trọn đời.
Vườn Kỳ phấp phới hoa rơi,
Chim đâu ríu rít tụng lời từ âm.
Gió xa thoảng ngát rừng trầm,
Lời vàng khiến trổ một đầm liên hoa.
Mây về tám cõi trời xa,
Tiếng chuông cửa núi ngân nga bổng trầm.
11.200.  Âm thần vọng giữa thuyền lâm,
Giọt trăng giải thoát giữa tâm nhiệm mầu.

Mở trong trình đọc kinh