KINH HIỀN – HỘI HOA ĐÀM · Chương 52/61

47. Xuống biển tìm kinh

Một hôm đỉnh núi ùn hơi,
Mây trên Linh Thứu như trời rắc hoa.
Lưng non dưới cội mai già,
Bên hàng liễu rũ là nhà tịnh tâm.
Có suối vang vọng thần âm,
Tiếng đưa dường thoảng hương trầm lan bay.
Xa trông như biếc tàn cây,
Bóng che chở thế gian này khác chi.
Chư Tăng đang tụng Đại bi,
Trong đôi liễu rũ hoàng y chờn vờn.
Còn nơi động đá trầm thơm,
Riêng tòa bạch thạch Thế tôn trầm từ.
Mắt ngài khép cõi không hư,
Môi tươi mỉm nụ chân như diệu vời.
Tay hoa định mấy từng trời,
9.300.  Dáng như chuông ngọc khiến đời tịnh thanh.
Dưới hàng liễu họp thánh Tăng,
Tôn phong hiền giả A-nan hầu người.
Vì hiền giả trí như trời,
Từ tâm vô lượng cõi đời không hai.
Nghe qua lòng nhớ chẳng sai,
Lại thêm biện thuyết là tài chuyên môn.
Quả như xứng bực nhân tôn,
Để thay đại chúng sớm hôm hầu Thầy.
Trên thềm cỏ mướt xanh tươi,
A-nan quì lạy tạ lời tấn phong.
Nguyện rằng “xin khắc ghi lòng,
Chuyển lời Phật dạy đến trong giáo đoàn.
Nguyện đem công đức này san
Ra khắp muôn loại thế gian đồng đều.”
Nắng mai rực rỡ y điều
Vây quanh rừng liễu của nhiều chúng Tăng.
Tôn giả Ca-diếp tuyên rằng:
“A-nan xưa đã thường hằng hộ bên,
Trải qua muôn kiếp nhân duyên,
Bây giờ lại được bầu lên hầu Người.
Quẩn quanh theo Phật chẳng rời,
Giữ kho tạng báu đời đời truyền lưu.”
Mục-liên thưa “lẽ cao siêu,
Thỉnh xin ngài dạy ít nhiều duyên cơ.”
Chung quanh hàng liễu bây giờ,
Bâng khuâng dải biếc hững hờ gió lay.
Ca-diếp rằng “thế gian này,
Chúng sinh duyên nghiệp họp vầy mà ra.
Khác gì ảo ảnh mây hoa,
Khác gì bọt sóng la đà ghềnh sông.
Bồ-tát hiện giữa trần hồng,
Tuyên lưu chính pháp suốt dòng thu xuân.
Như thông đỉnh tuyết xanh ngần,
Như trăng sáng giữa chuyển vần gió mây.
Xa xưa cũng ở châu này,
Lưng non kia có một ngài tịnh thanh.
Hiền tài khắp cõi truyền danh,
Vua muôn cõi nước dâng thành dưới tay.
Khác gì ngọn cỏ lá cây
Tắm trong nắng mới một ngày đầu xuân.
Cậy nhờ đức lớn hiền nhân,
Đổi thay nghiệp cội, xa gần an vui.
Một đêm giấc điệp chơi vơi,
Vợ ngài mộng thấy hai người đáy sông.
Nhấp nhô theo sóng xuôi dòng,
Rẽ lên dâng khối ngọc hồng sáng soi.
Thưa rằng “pháp tạng bao đời,
Nhân duyên giờ mới gặp người nên trao.
Phúc nhà như thể non cao,
9.350.  Ta đem thánh chủng gửi vào cậy trông.
Bồ-tát dẫn cõi trần hồng,
Tuyên lưu chính đạo nối dòng Phật gia.
Chúng sinh như nước phù sa,
Tâm tâm kiến dựng muôn tòa trí bi.
Đức ngài là biển lưu ly,
Trí ngài nhật nguyệt diệu kỳ mở khai.
Ngự tòa vô thượng Như Lai,
Dắt dìu sáu loại lên đài vinh quang.”
Nói xong hóa cánh hạc vàng,
Với mây hồng tía đôi hàng bay cao.
Phu nhân tỉnh giấc chiêm bao,
Còn nghe hương thoảng cõi nào vấn vương.
Cứ như điềm mộng dị thường,
Hẳn sinh quý tử nối đường thanh cao.
Mới đem chuyện giấc mơ đào
Bàn cùng chồng tính lẽ nào nên chăng.
Chàng rằng “nhân quả thường hằng,
Chúng mình tích đức sánh bằng biển sông.
Hẳn là cảm ứng hóa công,
Quả lành kết tụ trong dòng nhà ta.”
Thế rồi sắm sửa trầm hoa
Đến chùa cầu tự để mà ân chiêm.
Lại cùng nhau gắng tu thêm,
Phát nguyền cứu giúp quanh miền đó đây.
Kết thêm duyên phước sây dầy,
Vợ chồng tâm niệm đợi ngày trổ bông.
Lần hồi hết hạ sang đông,
Màn đêm đã hé vừng hồng một phương.
Sân chùa có triệu cát tường,
Cây hoa cổ đại trái hường kết đôi.
Phu nhân sinh trẻ khác đời,
Mình rồng uy dũng, rạng ngời tướng tinh.
Vừa ra hương ngát quanh mình,
Chim tha hoa đến cung nghinh bực hiền.
Lưng trời đàn vẳng tơ tiên,
Mây che một ngọn tàn lên diệu kỳ.
Cán bằng mã não lưu ly,
Như sao lấp lánh muôn vì chiếu soi.
Hiện ra cả mấy tầng trời,
Lầu vàng nền bích rạng ngời minh châu.
Lại nao dòng nước dưới cầu
Hiện in một cõi nhiệm mầu long cung.
San hô thành quách trùng trùng,
Đây lầu hổ phách nọ vùng cỏ hoa.
Lại thêm đặt một ngọc tòa,
Phượng long uốn khúc như là vàng soi.
Chất lên ngàn bộ sách trời,
Hào quang chiếu rọi khắp mười cõi xa.
Xếp trong một chiếc hộp ngà,
9.400.  Chạm vàng giát ngọc như là pha lê.
Chầu quanh hải vật bốn bề,
Nép bên ngai ngọc hướng về ánh quang.
Bao la sỏi ngọc cát vàng
Hiện ra lấp lánh dưới hàng hoa tươi.
Lại khi đứa trẻ mỉm cười,
Vang vang nhã nhạc đất trời reo ca.
Một hàng nhạn trắng lượn qua,
Tha hoa trải xuống như là mưa hương.
Ba ngày mây kéo tán hường,
Cây đơm trái quý cúng dường thánh sinh.
Vườn hương mừng ánh bình minh,
Song thân phát nguyện sinh linh độ trì.
Muôn kho thóc gạo phát đi,
Quên thân bố thí kể gì vàng châu.
Thế nên đặt tên con cầu
Quý danh Đại Thí mong sau dõi truyền.
Thu xuân tròn khuyết trăng thuyền,
Hoa theo hoa nở khoé duyên dịu dàng.
Lớn lên tên tuổi đã vang,
Dù cho cõi Bắc thành Nam cũng lừng.
Ngày chàng thơ thẩn trong rừng,
Vun cây tưới cỏ tưng bừng quẩn quanh.
Nhập cùng đạo lớn hóa sanh,
Đức dầy là đất, thân lành là hoa.
Đêm thường ngồi dưới trăng tà
Trầm tư lý đạo vượt qua giả hình.
Thí lười tham cứu nghĩa kinh,
Ngâm thân suối chảy, thả tình mây bay.
Vui cùng gió thoảng qua lay,
Như con bướm nhỏ ngày ngày tìm hương.
Chí người như búa kim cương,
Lòng người như bốn đại dương nước tràn.
Lời như hương gỗ chiên đàn,
Ý như xuân quyện muôn ngàn hoa khai.
Nguyện chàng như cội đông mai,
Dù cho đá lở cát bồi sá chi.

Tự tâm đại trí đại bi
Tỏa trên vừng tráng lạ kỳ đôi mươi.
Tai chàng như cánh sen tươi,
Hòa nhan ái ngữ nói cười ung dung.
Một đêm trăng dải không trung,
Tơ trăng vàng quyện một vùng bao la.
Nghe con chim lạc về qua,
Thư phòng đẩy cửa Thí ra ngó trời.
Dưới trăng hoa tỏ tuyệt vời,
Sương sa giàn thấp mây rời núi cao.
Nền trời lấp lánh ngàn sao,
Trông lên như một hố nào hút sâu.
Chợt nghe một sức nhiệm mầu,
9.450.  Xô tan thành quách trên đầu bỗng dưng.
Xanh ôi cỏ nội hoa rừng,
Dường như vạn vật tưng bừng reo ca.
Cõi lòng vời vợi bao la,
Xót thương muôn loại như là một thân.
Đắm chìm trong lửa tham sân,
Sinh, già, bệnh, tử muôn phần khổ thay.
Kiếp người như bóng mây bay,
Như sương ngọn cỏ đầu ngày nắng tan.
Thế mà suối lệ tuôn tràn,
Giả danh một cõi ai chan máu thầm.
Luân lưu ngục khổ mê lầm,
Tự mình mình lại giam trong hận thù.
Biển còn tích lệ nghìn thu,
Lửa còn nung cõi Diêm-phù mãi sao.
Nguyện này xin có trời cao:
Ta thề xô cõi chiêm bao thế tình.
Cứu cho muôn loại sinh linh
Khỏi cơn ác mộng giả hình giả danh.
Bỗng dưng trong đám mây xanh
Hiện bầy tiên nữ dâng nhành hoa tươi.
Cánh hoa vàng ửng chói ngời,
Từ bàn tay ngọc trao người chùm bông.
Vi vu sáo nhạc từng không,
Lửng lơ như áng tơ hồng vờn quanh.
Sớm sau Đại Thí vào thành
Xin cha cho chút duyên lành kết gieo.
Lập nên mấy gánh hát chèo
Diễn toàn những vở mong treo gương dầy.
Đạo hiền lan khắp đó đây,
Thần dân một cõi vui vầy ngợi ca.
Ví dù núi ngọc san ra
Chẳng bằng khuyến hóa người ta tự mình
Dứt lìa hết nghiệp vô minh,
Ở ăn sao được công bình đó đây.
Bao nhiêu chuyện tích xưa nay
Đều thành gương sáng đắp xây nước nhà.
Soạn xong Thí mới xuất gia,
Dựng am cỏ, rũ trần sa, tu hành.
Trầm tư phá mộng huyễn trần,
Đời đời giả tướng một lần tan mây.
Thế rồi đi khắp đó đây,
Tóc xanh nhuốm bụi áo mây nhạt màu.
Thênh thang cánh hạc về đâu,
Bước chân vô ngã vô cầu ngại chi.
Cõi đời còn nặng tham si,
Cứu đời ta có, ước gì ngàn tay.
Cầm bằng chuộc tội cõi này,
Nguyện vào địa ngục đọa đày thiên thu.
Một chiều chàng đứng trầm tư,
9.500.  Trùng dương vang mãi tiếng ru muộn phiền.
Chợt người tinh tấn bước lên,
Nghĩ rằng chân cứng đá mềm mới hay.
Nếu như cõi thế gian này,
Chẳng mê vọng ấy sao dầy trí bi.
Nếu ta chuyển được tham si
Thì vào đáy biển khác gì đường mây.
Nguyện xong đáy nước hiện bày
Rõ ràng một cõi cỏ cây nhiệm mầu.
Trùng trùng ngọc quách vàng lâu,
Lưng non mã não trân châu chói lòa.
Lại thêm ao ngát liên hoa,
Mỗi đài ẩn chứa một tòa diệu kinh.
Sóng dâng bọt đến bên mình,
Kết thành hoa báu dưới chân người lành.
Đại Thí đi đến bên thành,
Ác trùng thủy quái vây quanh bước ngài
Hỏi rằng “đến kiếm chi đây?
Lấy gì để vượt cửa này cho qua?”
Ngài đáp “ta có lòng ta,
Yêu thương muôn loại trong nhà trầm luân.
Có mười phương lớn làm thân,
Đi tìm thuốc chữa tham sân bệnh dầy.
Giờ ta tìm xuống thành đây,
Thử tìm diệu pháp khai bày nhân thiên.”
Ác trùng thủy quái quì bên
Reo to: “hơn hẳn thánh hiền xưa nay.
Chúng con trấn giữ cửa này,
Do tham sân nghiệp sâu dầy hiện ra.
Giờ xin ngài tự bước qua,
Chỉ là ảo ảnh sương sa mịt mù.”
Thí dạy: “khắp cõi Diêm-phù
Cũng từ nghiệp thức thiên thu hiện bày.
Chúng sinh mười cõi đất này
Khác gì sóng nổi sương bay vật vờ.
Tụ tan như đám mây mờ,
Một nhân ái dục đôi bờ diệt sinh.
Mê thì sóng nổi mông mênh,
Ngộ rồi muôn cõi một hình vóc không.
Bao la hiện thể tâm đồng,
Dù cho hạt cải dù bông tuyết đào.
Cũng từ tâm cõi nhiệm mầu,
Khởi duyên như nước qua cầu nổi trôi.”
Nghe xong thành quách sáng ngời,
Nào là thủy quái nào trời hồng vân
Tan đi như bóng vi trần,
Chỉ còn ánh sáng ngọc thần tỏa soi.
Đại Thí nhặt ngọc cầm tay,
Trùng dương như một cõi mây chuyển dời.
Thung dung ngài bước dạo chơi,
9.550.  Dưới lòng bể cả nơi nơi đón chào.
Lại xa xa hiện lầu cao,
Có rừng trái đỏ có hào sen hương.
Có thành thất bảo kim cương,
Sáng soi chiếu khắp bốn phương ngời ngời.
Đại Thí lại tìm tới nơi,
Bao nhiêu quỉ sứ vây người giương tên.
Thành đao lũy kiếm vững bền,
Tên bay giáo phóng dưới trên vụt vù.
Đại Thí vừa niệm nam-mô,
Cung tên thấp thoáng mơ hồ rụng bên.
Hóa ra muôn cánh bạch liên
Cúng dường trải xuống đất liền ngọc châu.
Bao nhiêu quỉ oán ma sầu
Vây quanh thánh chúa cúi đầu quy y.
Xin người đại trí đại bi
Độ cho tỉnh thức mê si nghiệp mình.
Đại Thí vừa qua cửa thành,
Một con rùa biển hóa mình xe mây.
Tàn vàng lọng gấm đủ đầy
Rước qua mấy dặm thành xây ngọc vàng.
Đến tòa bảo tháp kim cang,
Nóc cao thần bút giữa hàng hoa dương.
Ngõ vào cổng khép sóng hường,
Cát xanh biêng biếc trải đường cheo leo.
Đại hồng chuông trái rêu treo,
Thêm đôi phụng múa trên đèo hoàng hoa.
Cửa trong có tiếng vọng ra
Rằng đây chính pháp riêng tòa tạng kinh.
Cửa vào là nghiệp hóa sinh,
Đố ai mở được bồng bềnh cánh mây?
Xin người mau trả lời ngay
Nếu không tất hẳn đường này chẳng qua.
“Cái gì là pháp là ta?
Cái gì khiến một cánh hoa rụng rời?
Cái gì là ý là lời?
Cái gì khiến hạt mưa rơi bàng hoàng?”
Ngài rằng “ngã, pháp đôi đàng,
Chẳng qua lớp lớp sương vàng hóa sinh.
Cỏ hoa một cõi giả hình,
Vị gì mà để vọng tình tiếc thương.
Ý lời như áng mây vương,
Cho dù trăm nẻo trăm đường ngại chi.
Bao giờ dứt sạch tham si,
Giọt mưa cũng thể một vì sao rơi.”
Đáp xong lầu các rạng ngời,
Tan như một đám sương rời sớm mai.
Giữa lòng cát hiện con trai
Ôm nghiêng hạt ngọc như đài phù vân.
Đại Thí cất ngọc vào mình,
9.600.  Bước chân dạo khắp u minh biển dầy.
Lần theo một đàn cá bay,
Lửng lơ nổi mở đường mây dẫn người.
Thung dung chàng đến một nơi
Có hang sâu thẳm tỏa ngời hào quang.
Bọt vần uốn mấy bực thang,
Dưới lòng vực hiện xóm làng cỏ hoa.
Nào là lầu các nguy nga,
Sóng xô thành nhạc rêu sa thành tàn.
Nào là sân bích vườn lam,
Bãi hoa nụ thắm đồi cam trái hồng.
Vân du Thí lại sanh lòng,
Đã đi đi hết dưới lòng biển khơi.
Tụt thang bọt nước tới nơi,
Thôn kia đã hiện tơi bời xương khô.
Nào là quỉ hú mơ hồ,
Nào là ma khóc lạc mồ tỉ tê.
Hôi tanh máu mủ gớm ghê,
Chung quanh lại sủi bốn bề nước đen.
Thương thay bao cuộc đua chen,
Nắm xương phơi trắng là phen cuối cùng.
Càng trông càng thấy não lòng,
Bùi ngùi nhỏ nước mắt trong, hai hàng.
Giọt vừa sa, bãi xương tàn,
Tan đi hóa đám bụi vàng đùn cao.
Dưới trên như lỗ huyệt đào,
Dù trên hóa gió ra vào được đâu.
Tưởng rằng lấp ngọc vùi châu,
Cát từ từ đổ trên đầu bao la.
Thí ngồi quán tưởng trần sa,
Hòa cùng cát bụi một tòa thịt xương.
Cũng là tâm thể chân thường,
Hợp tan như áng mây vương sớm chiều.
Tâm thần bay bổng phiêu diêu,
Lâng lâng như một cánh diều lưng mây.
Thoáng như cát chạm bên người,
Lại như mai hạnh rụng rơi đầy mình.
Lòng thương trải khắp mông mênh,
Nghe thân thể nổi bồng bềnh đâu xa.
Giờ lâu ngài xả thiền-na,
Dưới lòng hang đã vượt ra lúc nào.
Dặm xa thoáng gợn mây đào,
Vờn trên ngọn núi mù cao ngút trời.
Nào là hang động ùn hơi,
Đèn ma lửa quỉ nơi nơi chập chờn.
Tiếng người thét rợn từng cơn
Lẫn trong tiếng sóng oán hờn giá băng.
Thí liền chỉ đất nguyện rằng:
“Quyết vào địa ngục thắp trăng đại từ.
Mười phương tỏ cõi Chân như,
9.650.  Tan cơn vọng nghiệp qua bờ mê tân.
Lòng người chưa cạn tham sân,
Vạc dầu còn lửa nung thân đời đời,
Ý còn điên đảo dối lời,
Lưỡi còn cưa xẻ tơi bời xương da.
Ngục sầu chẳng khép, khó ra.
Tự mình mình lại tìm nhà gai chông.
Đầy thân bảy hố lửa hồng,
Đeo thêm cùm kẹp là vòng nghiệp duyên.
Niết-bàn tám cửa thanh vân,
Xa thì muôn dặm mà gần tấc gang.
Thương thay sáu ngả bụi vàng,
Luân lưu kiếp kiếp con đàng vô minh.
Hỏi ai ai cứu được mình,
Tâm kia là đảo quang minh cậy nhờ.
Ngộ, mê chẳng cách đôi bờ,
Bừng con mắt dậy tan mơ giả hình.
Nguyện đau tâm bệnh chúng sinh,
Thân là cam lộ một bình lợi tha.
Nguyện yên sóng gió Ta-bà,
Chúng sinh vô lượng trần sa trở về.
Thệ lòng quyết bước chân đi,
Vừa vào địa ngục Thiết vi trùng trùng.
Núi xưa tỏa động ngọc hồng,
Vạc dầu chuyển hóa thành bông sen ngời.
Tiếng kêu thương hóa hương trời,
Kết thành sương báu quanh người đại bi.
Đức ngài chuyển ngục Thiết vi
Thành trời Tịnh độ lưu ly ngọc hồng.
Đau thương thành giải thoát trầm,
Mê si thành ánh trăng rằm tỏa soi.
Quỉ ma đổi tánh người trời,
Gông xiềng cùm kẹp thành hơi chiên đàn.
Ngục sầu chẳng ngõ mà tan,
Dấu chân là cõi Niết-bàn tự tâm.
Độ đời đại nguyện vừa xong,
Hạc vàng lại cất cánh bồng suối mây.
Bốn vị long vương biển này
Hóa ra một chiếc võng đầy trăng sao
Đưa Đại Thì đến rừng nào,
Là muôn hoa nở ngạt ngào dâng hương.
Ngô khoai biêng biếc bốn phương
Cũng căng mạch nhựa cúng dường thánh nhân.
Ngài vừa ngự xuống bên thành,
Thế gian che áng mây lành rộng xa.
Vào rừng thăm hỏi mẹ cha,
Bỗng dưng đất hiện hai tòa kim cang.
Lại thêm hoa kết lọng vàng,
Nụ xanh chiếu ánh hào quang chói ngời.
Hương thơm dâng cúng hai người,
9.700.  Ơn sinh dưỡng dục mấy trời công lao.
Bàng hoàng như giấc chiêm bao,
Trông ra bốn cõi ngạt ngào hoa hương.
Suối sông thành nhạc dị thường,
Như dây tơ báu giương đờn vô thanh.
Thấy con oai đức trọn lành,
Mắt soi mặt nguyệt mây thành vóc thân.
Từ ngày đường cuộc phù vân,
Trần gian in đậm dấu chân đại từ.
Núi sông mòn mỏi đợi chờ,
Một đi còn tưởng bao giờ gặp con.
Mẹ dù cạn lệ héo hon,
Cha dù ngóng nhạn đỉnh non tiêu điều.
Hướng nhìn thấp thoáng mây chiều,
Tưởng con trải bóng y điều vân du.
Năm năm mây nước cầu tu,
Trầm tư đại đạo dẫu dù xương tan.
Bây giờ ngộ nhập pháp vàng,
Thí về mở rộng con đàng trí bi.
Tin lan khắp cõi thành kia,
Người người kéo đến bốn bề y nương.
Non xanh thành chốn đạo trường,
Mây xanh kết chiếc tán hường mở che.
Gió trời thổi sạch tham mê,
Sương lam đọng hóa lưu ly tràn đầy.
Ngạt ngào cõi đất hương bay,
Mù lòa sáng mắt, mê say giật mình.
Ngài đem viên ngọc trí minh
Giơ lên: vạn dạng muôn hình biến ra.
Trái căng mật ngọt la đà,
Mầm tươi trổ đất muôn hoa nở bừng.
Ngọc vàng cát hóa hiện lên,
Suối sông mã não bốn bên tỏa ngời.
Người không tham của rụng rơi,
Mê sân như bóng sương trời tan mau.
Chẳng còn ngu muội, nghèo giàu,
Thoát vòng mê tối như nhau khác gì.
Ngài lại lấy ngọc đại bi
Giơ cao ánh sáng diệu kỳ tỏa soi.
Chư thiên mười mấy tầng trời
Thắp đèn tinh nguyệt khắp nơi kéo về
Cúng dường muôn dặm mây kia,
Kết thành lọng gấm bốn bề hoa giăng.
Chim ca mừng gió chiên đàn
Thổi bay phiền não muôn ngàn chấp mê.
Chẳng còn thù giận ngăn che,
Muôn loài tỉnh thấc quy về Phật tâm.
Bấy giờ thành thị sơn lâm,
Nhân thiên hòa hợp thú cầm yên vui.
Hai viền diệu ngọc sáng ngời
9.750.  Kết thành một phiến mặt trời bay cao.”
Phật tiếp: “đó giấc chiêm bao,
Ngàn muôn kiếp mộng lao xao sóng dồn.
Núi tan cát hợp nên cồn,
Thế gian ba cõi vô thường đổi thay.
Nghiệp duyên muôn lớp thành dầy,
Mảnh trăng tánh Phật lấp mây mịt mù.
Bây giờ phải gắng công tu,
Trau dồi thập thiện đền bù nghiệp căn.
Giữ gìn tâm trí đẹp lành,
Tốt tươi cũng ở lòng thành tỏ soi.”
Bấy giờ khắp quỉ trời người
Lĩnh nghe Pháp bảo diệu vời nhập thâm.
Ngài dạy nơi cõi hồng trần
Hết tan lại hợp xoay vần biển dâu.
Tâm kia như khối minh châu
Tỏa soi muôn cõi trước sau vẫn thường.
Dù cho muôn hướng muôn đường,
Ngàn sông về một đại dương khác gì.
Chân tâm đại trí đại bi
Hiện bày như thể muôn vì trăng sao.
Thế gian như áng mây đào,
Sương bay đầu sớm bọt trào biển sôi.
Biển xanh bỗng chốc nên đồi,
Bánh xe ảo hóa giữa trời ai xoay.
Bây giờ thành Phật cõi này,
Hóa thân trí tuệ cỏ cây cũng là.
Mẹ xưa hoàng hậu Ma-gia,
Cha hiền thuở trước nay là Phạn vương.
Bốn vua rồng trấn đại dương,
Giờ theo chính đạo một phương tu trì.
Kiếp xưa căng võng lưu ly,
Cúng dường chính đạo diệu kỳ mở khai.
Bây giờ bên đức Như Lai
Như sao Bắc đẩu bên đài sen hương.
A-nan xưa kiếp long vương,
Đã từng dâng ngọc chân thường trí minh
Khiến muôn cõi nước thái bình,
Xô tan vọng nghiệp chúng sinh đời đời.
Kiếp này phúc báo tột vời,
Suốt thông, một ý một lời chẳng sai.
Triều âm như thể biện tài,
Phục hàng ngoại đạo mở đài liên hoa.
Cho dù muôn kiếp vào ra,
Bước chân đại nguyện trong nhà trầm luân.
Nghe Phật vén mở phù vân,
Từ vô thủy đã bao lần gặp nhau.”
A-nan cung kính cúi đầu,
Bỗng dưng hoa tía trên đầu vờn bay.
Động Phật ngự chợt ùn mây,
9.800.  Hào quang chiếu tỏa ngàn cây trái hồng.
Núi quanh chim cũng phiêu bồng,
Rủ nhau đậu khắp cánh đồng khoai môn.
Từ hang trầm ngát Thế tôn
Hào quang năm sắc dị thường tỏa xa.

Mở trong trình đọc kinh