KINH HIỀN – HỘI HOA ĐÀM · Chương 44/61

40. Vi Diệu Tỳ Khiêu Ni

Một thời Phật trụ nơi đây,
Như mưa xuân đượm cỏ cây đồng đều.
Người người theo đạo cao siêu,
Khác chi cây cỏ kết nhiều trái thơm.
Một lòng như pháp y nương,
Mỗi người là một đạo trường trí bi.
Trong thành Xá-vệ nước kia,
Có ngàn thiếu nữ quy y Phật từ.
Sang giàu cho đến bần ngu,
Sáu điều hòa hợp, cùng tu một chùa.
Ngày ngày trai tịnh công phu,
Cầu yên dân nước, đền bù đàn-na.
Khiến cho các hàng tại gia
Tín tâm Tam bảo, thuận hòa an vui.
Trong hàng ni chúng có người
Vốn dòng quý tộc tuyệt vời hoa dung.
Xưa quen nệm gấm màn nhung,
Vườn xuân yểu điệu đóa hồng chúa hoa.
Văn chương lễ giáo nếp nhà,
Kết thành ngọc giữa Ta-bà nghiêm trang.
Thi nhân phương ấy có chàng
Đã bao ngày tháng vì nàng ngẩn ngơ.
Khi giai nhân chọn đường tu,
Lòng si cay đắng nên thơ bao vần.
Than người hoài phí tuổi xuân,
Đời hoa rực rỡ có ngần mà thôi.
Được mang nhan sắc tuyệt vời,
Sao toan dìm phí trong nơi am thiền.
Mà nào chắc hết trần duyên,
Mốt mai biển ái gọi đền nguồn ân.
Bấy giờ thân mới thương thân,
Nâu sồng một thuở, vẻ xuân đâu còn!
Cô phòng ngày tháng héo hon,
Nhìn người hương lửa sớm hôm ấm nồng…
Thơ bay tới biết bao dòng,
Trước còn dạ vững, sau lòng phân vân.
Nghe ra lý lẽ đôi phần,
Lá xanh xuân nọ vàng dần hơi thu.
Ni về khép cổng chùa tu,
Sớm mai mở cổng quét thu hồng đào.
Hoa vương ngọn chổi thanh hao,
Thoảng nghe hơi thở hương nào bướm nghiêng.
Lòng đôi cửa tục, cửa thiền,
Ai xui con nhện giăng thêm tơ vò.
Nghĩ gì chim hỡi nhỏ to,
7.850.  Có buồn lá úa trên đò nước xuôi.
Mây ơi, trôi nổi bao đời,
Chừng như mây nhớ chân trời về mau.
Cỏ ơi, sao cỏ rầu rầu,
Vườn xanh đã rụng trên đầu mấy xuân.
Núi ơi, sao núi tần ngần,
Chân ơi, có nhớ đường vần vũ hoa.
Tâm tình, sư trưởng nhận ra,
Thấy ni dưới gốc mai già đăm chiêu.
Biết xuân xanh ấy diễm kiều,
Biết trong tuổi trẻ có nhiều đam mê.
Trách mình giới luật nghiêm trì,
Mà đường giáo lý trí bi lơ là
Khiến cho ni chúng trong chùa
Tâm chưa vững trước lọc lừa thế gian.
Hôm sau lên trước quả đường,
Thỉnh xin mở một đạo trường Như Lai.
Đem Kinh, Luật, Luận khai bày,
Thỉnh bà Vi Diệu làm thầy giảng sư.
Vị này tu học công phu,
Đạo cao đức trọng sớm trưa tu trì.
Vẻ hoa còn thắm dung nghi.
Hẳn nhan sắc thuở xuân thì ai hơn.
Bây giờ chấp chưởng thiền môn,
Xứng danh tài đức đôi đường vẹn hai.
Chọn ngày chính pháp khai bày,
Đạo trường ni chúng ngồi vây điệp trùng.
Toàn là mơn mởn thu dung,
Tuổi hoa đương thuở ngại ngùng chúa xuân.
Gian nan chưa lấm đường trần,
Cầu oan chưa hẳn một lần bước qua.
Tham mê còn ám lòng hoa,
Thanh cao gương sáng Phật-đà chưa soi.
Nghĩ nên đem hẳn cuộc đời
Làm đề thuyết pháp, thức người sơ cơ.
Tiếng chuông khai giảng đến giờ,
Ni sư từ tốn lên tòa khói hương:
“Dục tâm như lửa nung than,
Huyễn mê là gốc con đàng chúng sanh.
Tạo nên ảo giác, giả thân,
Cuốn trong tham hận muôn phần khổ đau.
Bần ngu cho đến sang giàu,
Có thân có khổ như nhau khác gì.
Sanh, già, bệnh, tử, biệt ly,
Thôi thì thù hận, thôi thì oán than.
Giả danh là cõi tù giam,
Khiến thân khẩu ý vô vàn giáo đâm.
Thoáng vui lòng chửa vội mừng
Đã rơi dòng lệ rưng rưng mắt đầy.
Ai từng lo héo mặt mày,
7.900.  Ai từng thức suốt đêm dài thở than.
Dặm trường ai có gian nan
Mới từng hiểu rõ trái oan là tình.
Rồi bà thuật lại chuyện mình,
Khi xưa tên gọi Đoan Trinh diễm kiều.
Gặp người anh tuấn mến yêu,
Nhưng cha mẹ chẳng thuận chiều lòng con.
Ép duyên về một vương tôn,
Khiến chàng trai nọ tủi buồn ra đi.
Ba năm, sau lễ vu quy,
Phòng hương vừa tiếng hài nhi chào đời
Thì dồn dập những nạn tai.
Đầu xuân ấy, giữa đêm dài giấc mê
Chợt nghe vó ngựa giặc về,
Giật mình, lửa đã mấy bề bốc cao.
Vội vàng theo lối cửa sau
Ôm con trốn lẩn rừng sâu lạnh lùng.
Sáng ngày trời mới hừng đông,
Lần về còn cảnh tro hồng bụi rơi.
Giặc đêm đã giết chồng rồi!
Gia nhân kẻ chết, kẻ thời trốn đâu.
Bên chồng khóc ngất giây lâu,
Rồi lo bới đất vùi sâu trọn tình.
Ôm con liền bước loanh quanh,
Mong tìm về mái gia đình mẹ cha.
Nửa đường, quán trọ làng xa,
Gặp đêm bọn cưới vây nhà, giết con!
Thấy nàng nhan sắc mê hồn,
Dễ dàng toan bắt theo luôn về rừng.
Trong khi tướng cướp vui mừng
Thì lòng nàng đã quyết từng phút giây.
Trả thù con, cùng chết đây,
Còn hơn sống nữa, dẫu đầy vàng son.
Lần tay giấu ngược dao con,
Lừa đâm một nhát máu tuôn thành dòng.
Bị thương, tướng cướp nổi hung,
Thế là chịu trận hãi hùng vũ phu.
Ngất đi, tưởng chết bấy giờ,
Nào hay hồi tỉnh lúc vừa bình minh.
Bàng hoàng giữa cảnh vắng tênh,
Xác con tím ngắt cạnh mình, hỡi ôi!
Nhận ra, lại xỉu từng hồi,
Những toan cắn lưỡi lìa đời cho xong.
Chợt nhìn tán lá sầu đông,
Cha già mẹ yếu hẳn trông tin mình.
Còn thân, thôi cũng thôi đành,
Cầm bằng phận mỏng thời xanh nhuốm chàm.
Tình duyên là những vòng tang,
Gắng về cố quận để làm đạo con.
Đường dài lê gót héo hon
7.950.  Đến nhà, trời hỡi: đâu còn nhà xưa!
Gọi tìm cha mẹ ngẩn ngơ,
Có người chỉ giúp: hai mồ cỏ xanh!
Thân già chết nạn đao binh
Năm qua, lúc giặc hoành hành nơi đây.
Dân lành lắm kẻ tan thây,
Trông thôn xóm đó: còn đầy tan hoang.
Nghe thôi đau đớn kinh hoàng,
Đoạn tràng, ai đã đoạn tràng thế đâu!
Bước chân đưa rặt lối sầu,
Bàn tay định mệnh đẩy nhau đường cùng.
Còn gì, trong kiếp long đong,
Cái thân bèo dạt trên dòng gió mưa.
Lần ra bến nước sương mù.
Sông ơi, phận bạc xin nhờ lòng xanh.
Gió nâng tà áo gieo mình,
Sóng dồn tay biếc đón linh hồn sầu.
Là thôi, là hết thương đau,
Hồng nhan hẳn vượt thoát cầu truân chuyên.
Nào hay cõi sống ưu phiền
Còn đôi má phấn trả đền, chưa tha!
Giữa dòng nước xiết bao la,
Lưới đâu kéo vớt lên bờ thuyền ai.
Trong khoang cấp cứu một hồi,
Nàng dần dần tỉnh, thấy người ngẩn ngơ.
Đây là cõi thực hay mơ?
Cả hai cùng tưởng, cùng ngờ phải chăng.
Tình đau, ghi thuở tuyết băng,
Người lên xe cưới, người thầm lặng đi!
Bao năm, ai ngóng ai chi,
Chợt nay mắt lệ đầm đìa nhận nhau.
Đôi hồi cạn tỏ nông sâu,
Chuyện nàng tự thuở lên cầu tai ương.
Và lênh đênh những bước chàng,
Từ ra đi với sầu tan nát lòng.
Đã toan trời đất vẫy vùng,
Phá tan những nỗi bất công trên đời.
Đem cho thiên hạ nguồn vui,
Cánh tay niên thiếu chuyển dời nước non.
Nhưng rồi gió cát ba bôn,
Mấy năm dựng nghiệp, một cơn tan tành!
Ném gươm, bỏ mộng tung hoành,
Một thuyền một lưới lênh đênh sông dài.
Lấy đời ngư phủ làm vui,
Khi thăm bến lạ, khi rời thôn quen.
Với đời: không kể tuổi tên,
Với lòng: không nỗi trắng, đen đo lường.
Khi say trăng nước mênh mang,
Tựa thuyền gõ nhịp ca vang đất trời.
Một mình vui nốt cuộc chơi,
8.000.  Ngờ đâu nay lại gặp người thuở xưa.
Nghĩ rằng: trời định duyên ta,
Nên xin nàng nối đường tơ ngày nào.
Đoan Trinh luống ngại ngùng sao,
Một thân chìm nổi ba đào mấy phen.
Với chàng, như đã phụ duyên,
Hay chi mà định tái nguyền lửa hương.
Nhưng chàng khăng khít lời thương:
“Đã ly biệt, lại giữa đường gặp nhau.
Trời dành êm ấm về sau,
Lẽ đâu cố chấp chịu sầu dở dang.
Để cho đôi kẻ đôi đàng,
Xót nhau sinh nỗi đoạn tràng vì nhau.”
Cảm lòng chân thiết trước sau,
Gượng tươi nàng khẽ cúi đầu tạ ơn.
Trăng thề giờ mới tròn gương,
Đời xuân giờ mới sắt son ân tình.
Trên dòng nước biếc mông mênh,
Sóng êm rọi tỏ đôi hình uyên ương.
Bên nhau nào kể thời gian,
Tới khi thấy dấu hiệu nàng có thai.
Biếng ăn gần một tháng trời,
Trong thuyền choáng váng nằm ngồi không yên.
Chàng tìm mái nhỏ thôn quen
Cho nàng thai dưỡng ấm êm đợi ngày.
Vừa xong chốn ở nơi đây,
Căng buồm, chàng lại vượt ngay sóng trùng.
Tính toan thời phải gắng công,
Lưới chài thêm để tiêu dùng mai sau.
Mỗi lần đi cũng không lâu,
Cách ngày, chàng đã tìm nhau thăm chừng.
Lòng vui chẳng ngại nắng sương,
Sau vài chuyến, lại tính đường khác đi.
Biết rằng tại cửa sông kia,
Dân đi biển mới giàu vì ngọc trai.
Chàng bèn: “ta thử tới nơi,
Nghe buôn một chuyến, ăn lời cả năm.
Đi lâu cũng chỉ hai tuần,
Ở nhà nàng cứ an tâm, dưỡng mình.”
Nhìn chồng rời bến bình minh,
Nhớ nhung thêm đậm nghĩa tình phu thê.
Thêm yêu vườn nhỏ, bờ tre,
Chùm hoa tỉ muội bên bờ dễ thương.
Mười hôm, sau buổi tiễn chàng
Có người lạ mặt tìm nàng báo tin:
Chàng vừa gặp phải cơn đen,
Bán buôn phạm luật, quan trên giữ rồi.
Nhắn nàng phải gấp tới nơi
Để lo liệu, chậm rồi khó khăn!
Thất kinh, nàng vội theo chân
8.050.  Mụ ra tỉnh đó, dám ngần ngại chi.
Nơi đây xe ngựa bốn bề,
Đưa nàng vào một nhà kia lạ lùng.
Mụ thầm thì chuyện buồng trong,
Rồi ra bảo “hãy nén lòng ở đây.
Tôi đi lo giúp việc ngay,
Người quyền quý tại chốn này thiếu chi.”
Dứt lời mụ vội bỏ đi,
Nàng ngơ ngác đứng buồn tê giữa nhà.
Thấy liền mụ khác bước ra
Rằng “con vào nghỉ, rồi ta liệu bàn.
Nhà này thân thiết các quan,
Việc con dễ được nể nang, cậy nhờ.”
Nói rồi tay dắt nàng vô,
Lên lầu hoa gấm, cạnh hồ nước xinh:
“Con nên tắm rửa khoẻ mình,
Chiều nay quan lớn trong thành đến chơi,
Điều cần con phải làm tươi,
Nói năng lựa ý chiều người mới xong.”
Đã hơi nghi ngại trong lòng,
Nhìn quanh lầu vắng nhà không, đành chờ.
Chân mây thu hết nắng tà,
Tiếng cười nói chợt khắp nhà rộn vui.
Mụ đưa lên gác một người,
Nói thầm: “quan huyện đương thời đó con.
Bạc tiền như núi như non,
Việc ngài nhận giúp chẳng còn sợ đâu.”
Mụ ra khép trái cửa lầu,
Huyện quan ghé mặt, vuốt đầu lả lơi.
Giằng tay, nàng chạy ra ngoài,
Nhưng mụ nấp đó tức thời chặn ngay:
“Này, này, bảo thực cho hay,
Bán mi, mụ đó lấy ngay bạc nghìn.
Biết điều thì hãy chịu yên,
Vào hầu quan lớn khỏi phiền ruột ta.”
Mạnh tay mụ đẩy nàng vô,
Huyện quan như hổ đói vồ mồi ngon.
Kéo xô nàng ngã lên giường,
Nước này, đến nước liều còn đợi chi.
Vớ ngay bình sứ pha lê
Đập đầu hổ đói, đầm đìa máu chan.
Hắn vừa cất tiếng thét vang,
Mụ ào cửa tới, mấy nàng theo sau.
Thế là giữ cẳng nắm đầu,
Trận mưa đấm đạp nàng đau ngất hồi.
Ngừng tay, tưởng đã chết rồi,
Tối đêm chở xác vứt ngoài rừng xa.
Biết đâu còn tội đời hoa,
Bữa kia tỉnh lại: nằm nhà ai đây?
Bên giường, bà lão mừng thay,
8.100.  Một tay bưng thuốc, một tay nâng đầu:
“Con đừng ngồi dậy, mà đau,
Để lão giúp đỡ cho mau lại người.”
Lão ông cũng về tới nơi,
Thấy nàng tỉnh hẳn mừng vui vô cùng.
Hôm kia đi củi trong rừng,
Gặp người nằm ngất bên vùng cỏ tươi,
Xem còn thoi thóp chút hơi,
Lại coi như bị trụy thai nguy nàn.
Cùng nhau khiêng vội về làng,
Đã qua mấy bữa thuốc thang tận tình.
Chừng nghe thấy chuyện Đoan Trinh,
Ông bà càng xét, dỗ dành bảo khuyên:
“Thôi, con cố nén lo phiền
Để mau bình phục mà tìm chốn xưa.”
Sụt sùi, nàng chắp tay thưa:
“Đời con có phúc mới là gặp đây,
Ơn như trời đất cao dày,
Con xin ghi tạc dạ này muôn thu…”
Cưu mang mấy chục ngày qua,
Thấy mình cứng cáp, nàng thưa xin về.
Để người trọn nghĩa phu thê,
Ông bà đưa tiễn, dẫu nghe buồn lòng.
Dò đường tìm lại bến sông,
Dân nơi xóm cũ vừa trông thấy nàng
Xúm quanh lộ vẻ xót thương,
Kể cho nghe chuyện lúc chàng về đây.
Nàng vừa rời bến mươi ngày,
Lo âu chàng vội đi ngay kiếm tìm.
Kẻ nào mưu tính đảo điên,
Lừa này để dẫn tới miền tỉnh xa!
Dẫu trời sắp vẻ phong ba,
Rong thuyền chàng vẫn vượt ra ngàn trùng.
Thế là đêm nổi bão giông,
Lật thuyền chìm vỡ giữa dòng trường giang.
Ngày sau xác nổi gần làng,
Vớt lên, dân xã chu toàn ma chay.
Lại nghe hồn lạc phách bay,
Bước đi thất thểu tới ngay mộ người.
Tàn đêm, cạnh nấm đất tươi,
Bỗng dưng nàng lại phá cười như ma.
Nhìn mây cuộn nỗi bao la,
Tưởng đang vẫy gọi nàng ra chân trời.
Chung quanh náo động tiếng người,
Giáo gươm va chạm, gió dời ngựa vang.
Lòng đau dựng cảnh chiến tràng,
Ngẩn ngơ đi khắp tỉnh, làng hát ca.
Con điên! ai cũng lánh xa,
Nàng trông thiên hạ hóa ra thú trùng.
Người thì bụng lửa mồm chông,
8.150.  Mắt người là một dòng sông cuốn người.
Nghe trong tiếng nói tiếng cười,
Toàn là lửa độc ngạt trời hò reo.
Lê la nào biết sớm chiều,
Một hôm chợt thấy sói beo quanh mình.
Lại như thây chết yêu tinh,
Hoặc toàn xiềng xích ngục hình đeo mang.
Chợt đâu một ánh hào quang
Như bông sen tỏa vô vàn tía xanh.
Bao nhiêu quỉ sứ yêu tinh
Thoắt thay đổi, hóa nên hình người ta.
Trong khi thấp thoáng nẻo xa,
Hoành y rực rỡ sắc tà dương soi.
Rồi trang nghiêm, hiện một người
Đưa tay như nụ hoa tươi nhiệm mầu.
Lòng ai sạch oán tan sầu,
Tưởng vừa trong giấc ngủ lâu giật mình.
Áo người rực rỡ quang minh,
Dáng đi trầm mặc ôm bình ngọc vân.
Đoan Trinh vội bước theo chân
Người về tịnh xá Kỳ-hoàn nghiêm trang.
Chung quanh đệ tử hàng ngàn,
Thân như hồng ngọc, y vàng tịnh thanh.
Mây bay, chim rộn trên cành,
Xa xa suối liễu đôi nhành lơ thơ.
Tự nhiên có một sư cô
Hiền từ dắt đến bên hồ nước xinh
Bảo nàng tắm rửa thân mình,
Quy y Tam bảo, phúc lành xuất gia.
Thế rồi khép động thiền-na,
Đến hôm nghe Phật lại qua đạo trường.
Vội ra quì dưới đài hương,
Một vùng giải thoát, gió thơm diệu vời.
Nghe thân như hết bụi đời,
Nghe tâm như sạch mây trời mù che.
Trông xa bát ngát bồn bề:
Núi non hổ phách pha lê chói lòa.
Từng hơi thở nhẹ vào ra
Như dòng suối lặng dưới hoa trầm từ.
Xuôi về nghìn kiếp xa xưa,
Bao nhiêu vọng tướng bây giờ sạch trơn.
Chắp tay: “bạch đức Thế tôn,
Nhân duyên ngày trước lưu tồn đến nay.
Thân như móc sớm, chớp ngày,
Thỉnh xin đức Phật khai bày cho con.”
Trên đài giữa nét cười son,
Hào quang phóng tỏa muôn hòn núi cao.
Mở ra dường cõi chiêm bao,
Nàng xưa là vợ phú hào một thôn.
Hiếm hoi không được mụn con
8.200.  Nên chồng mới chuốc hầu non một người.
Vào ra quấn quít vui cười,
Khiến ghen như thể lửa trời nấu nung.
Lại khi sinh trẻ đầu lòng,
Vợ chồng khắn khít, ẵm bồng luôn tay.
Quên ai khó nhọc bao ngày,
Cơ đồ sự nghiệp một tay gây dừng.
Giờ nhìn nước lã người dưng
An nhiên ngồi hưởng, sao đừng tiếc công!
Chẳng là không trả về không,
Uất ghen, tính chuyện kim đồng giấu đi.
Một chiều gặp bé trai kia
Nhởn nhơ dưới gốc hoa hoè rong chơi.
Kim dài giấu sẵn trên tay,
Trước sau chẳng một ai hay biết nào.
Thấy nàng lẳng lặng đi vào,
Bé kia bước thấp bước cao lại mừng.
Cầm kim luống những ngập ngừng,
Lệ đâu lại đọng rưng rưng mắt đầy.
Bao lần định lại ngừng tay,
Trẻ kia mắt ngó thơ ngây đâu ngờ.
Lòng ghen cùng với vò tơ,
Phân vân trăm nỗi, chần chờ mấy phương.
Tiếng ai gọi vọng sau tường,
Nghìn cơ còn lại một đường này thôi.
Nhớ xưa chồng vợ kề đôi,
Bây giờ lủi thủi ra người bàng quan.
Rồi khi đầu bạc thân tàn,
Họ vui con cháu vênh vang kể nào.
Hẳn dùng mắt, miệng như dao,
Bõ ngày phận nhỏ thăm chào, nể nang.
Công xưa khó nhọc, ai màng,
Gia tài này cũng chuyển sang, còn gì!
Nghĩ càng như hoảng, như mê,
Hại người, hơn chịu ngày kia hại mình.
Thế là nắm chặt chiếc đinh,
Giơ cao đóng xuống thân hình trẻ kia.
Đỉnh đầu máu đỏ đầm đìa,
Giơ tay bịt miệng nghe gì tiếng la.
Chiếc đinh đóng ngập vào da,
Máu tuông mà ngó nhạt nhòa thấy đâu.
Mắt trông quáng đủ sắc màu,
Lòng ghen chỉ có oán sầu ngụt sôi.
Mưu cơ đã sắp sẵn rồi,
Vứt thây xuống giếng, vội rời vườn hoang.
Áo quần tẩy sạch phi tang,
Cáo quan thì mất nghìn vàng là xuôi.
Buổi chiều tìm trẻ khắp nơi,
Vườn sau ruộng trước, tăm hơi nào còn.
Sau cùng vớt được xác con,
8.250.  Nàng ôm khóc ngất từng cơn khác nào.
Gia nhân làng xóm xôn xao,
Quan trên là chỗ thân nào nghi ai.
Mưu gian che được mắt người,
Nhưng sao lọt khỏi mắt trời chí công.
Trải bao nhiêu kiếp bụi hồng,
Trả vay vay trả trong vòng trầm luân…”
Thuật xong câu chuyện quả, nhân,
Sư bà Vi Diệu ân cần thêm câu:
“May ta gặp được đạo mầu,
Dứt vòng nhân quả, oán sầu diệt tan.
Tội dù Bắc hải Nam san,
Kết nhau như áo tơ vàng mặc đây.
Đổi thay còn cũng tùy tay,
Hướng tâm quy Phật dứt ngay đó là.
Có thì muôn vật sinh ra,
Không thì muôn vật lại đà hoàn không.
Có không thì cũng tại lòng,
Đương nhiên lại bước trong vòng chiêm bao.
Cõi đời hoa đốm lao xao,
Tiến tu lòng chẳng nệ vào có không.
Nguyện Bồ-tát độ trần hồng,
Cho dù sương lạnh như bông tuyết đào.
Các người mê đắm chiêm bao,
Muôn muôn kiếp mộng kết vào cảnh thân.
Tham mê mãi mãi xoay vần,
Trăm đường cũng tại dấu chân kiếm tìm.
Sao như đá núi tịch nhiên,
Như chìm tịnh độ giữa miền cỏ hoa…”
Giọng sư ấm khắp pháp tòa,
Mở lòng ni chúng chan hòa từ quang.
Vườn xuân rực rỡ sắc hương,
Chùm hoa tỉ muội trên giàn nở tươi.

Mở trong trình đọc kinh