KINH HIỀN – HỘI HOA ĐÀM · Chương 25/61

22. Phép mầu khai ngộ

Nhớ thời Phật tại thành Vương,
Cùng chư đệ tử ngự vườn trúc xanh.
Vua Bình-xa phát nguyện lành
Quy y Tam bảo tu hành đã lâu.
Khuyến dân tinh tấn đạo mầu,
Trị đời lấy giải oán sầu làm phương.
Dưới trên nhuần một lòng thương,
Dân giàu nước mạnh biên cương vững bền.
Người người chung một niềm tin
Noi theo Phật đạo hiếu sinh, hiền hòa.
Biên cương có bọn Phú-na
Lấy điều tà hoặc để mà mị dân,
Khiến lòng thiên chấp chia phân,
Lập bè kết đảng muôn phần đảo điên.
Dẫn người vào nẻo cuồng xiên,
Dễ bề bóc lột, dưới trên đủ điều.
Em nhà vua cũng tin theo,
Tham, si, tà kiến, mạn kiêu dấy lòng.
Vua Bình-xa vẫn hằng mong
Đưa em về nẻo trắng trong đạo Từ.
Kẻo trăm năm uổng thân rùa
Dưới lòng ao biết đâu bờ biển Đông.
Một hôm vua dạo bên sông,
Chỉ em, ngài hỏi: “mấy dòng nước xuôi?”
Gã thưa: chảy một dòng thôi.
Vua khuyên: “nào khác cõi người thế gian.
Trên hòa, dưới thuận, bình an,
Nước ta nhuần thấm đạo vàng bấy nay.
Sáng soi như thể mặt trời
Khiến muôn cây cỏ nảy chồi đơm hoa.
Cớ chi em lại lỉa xa
Con đường trung đạo hiếu hòa, hiếu sinh.
Chấp theo tà kiến vô minh,
Lập bè kết đảng cố tình phân chia.
Sao chưa lìa bỏ, theo về
Quy nương chính đạo đôi bề vẹn đôi.
Một là trí huệ sáng ngời,
Hai nêu gương chánh, muôn người hướng theo.”
Gã rằng: “nước có một chiều,
Mà trăm sông lớn về theo biển trùng.
Người ta muôn ý muôn lòng,
Dù trăm ngả cũng trong vòng thấp cao.
Như tôi tôn quý đạo nào
Là tùy sở thích, ra vào mặc ai.
Ai mà chẳng nghĩ mình hay,
Ai mà chẳng chấp cho thầy mình hơn.
Bây giờ muốn rõ nguồn cơn,
Mời hai giáo chủ song phương luận tài.
Thầy anh nếu quả tuyệt vời,
Thì tôi nguyện sẽ trọn đời xin nương.
Ví bằng thầy của tôi hơn,
Thì xin ngài cũng lựa đường theo tôi.”
Vua cười: “em chớ quên lời,
Ngày mai ta sẽ thân mời đôi bên.
Khiến người khởi vững lòng tin,
Lìa nơi u tối về tìm đạo quang.”
Sáng mai kiệu tía lọng vàng,
Nhà vua thân đến đạo tràng trình thưa
Rằng “xin ngài chuyển Phật thừa,
Mở khai nhật nguyệt, mây mờ dẹp tan.
Cho người tránh khỏi nguy nàn,
Cho đời thoát khỏi nát tan hận thù.
Cầu xin dưới ánh đạo từ,
Dám xin thỉnh đấng Pháp sư muôn loài
Ra tay cứu vớt trần ai,
Xiển dương chính đạo thức người lầm mê.
Dắt dìu bọn ngoại đạo kia,
Bừng con mắt tối theo về nẻo chân.
Giúp cho muôn nước muôn dân,
Chẳng còn thù hận, chia phân mọi bề.”
Sáng ngày hoa kết tàn che,
Dựng đài chuyển pháp lập loè vàng châu.
Lại truyền làng trúc thôn dâu,
Cho dân về học đạo mầu Như Lai.
Hôm sau vừa lức ban mai,
Mây hồng man mác bên ngoài thành hoa.
Người như thác lũ đổ ra,
Ngồi trên nội cỏ quanh tòa khói hương.
Chập chờn giữa áng mây vương,
2.550. Người đem chim thả cúng dường Phật, Tăng.
Giữa tòa trần thiết nghiêm trang,
Ghế bành ngọc trải nhung vàng gấm xanh.
Lục sư sớm tụ trên đàn,
Nghênh ngang bước đến chiếm hàng đôn cao.
Dưới đài dân chúng xôn xao,
Vua Bình-xa đón Phật vào tòa hương.
Mưa hoa trải xuống cúng dường,
Tiếng chim rộn rã bên đường tung bay.
Vừa trông thấy Phật, lạ thay!
Lục sư vội bước xuống đài cung nghinh.
Lại mời Phật ngự tòa trên,
Bỗng dưng hàng ghế cao liền ngang nhau.
Ngoại đạo thân đứng quanh hầu,
Thỉnh Phật thuyết pháp nhiệm mầu lắng nghe.
Em nhà vua thực não nề!
Biết thầy mình chẳng có gì hơn ai.
Nhưng vì lòng chấp sâu dày,
Quyết tâm gã vội đi ngay viện cầu.
Khi Phật vừa giảng đạo mầu,
Người nghe chợt thấy oán sầu tiêu tan.
Như mưa trải khắp thế gian,
Tùy căn cơ đắc vô vàn huệ tâm.
Khởi giác tính, bạt mê lầm,
Nguyện về theo Phật như đầm trổ sen.
Mây xanh phủ xuống quanh miền,
Hoa dâng hương ngát, gió lên dịu dàng.
Phật rời tòa, đắp y vàng,
Cùng thánh đệ tử xuống đàn trầm hương.
Vua đem văn võ đôi đường,
Tiễn chân Phật tới bên vườn đào hoa.
Lại kể, em vua Bình-xa,
Sẵn xe ngựa tốt dời nhà đi ngay.
Đang như bị lửa nung thây,
Lại nghe tín hữu lìa thầy bỏ đi
Về nương cội đạo từ bi,
Lẽ đâu ta lép một bề như ai.
Thế rồi đôn đáo Đông Tây,
Họp chung Lục đạo tìm tay biện tài.
Lại đem lý thuyết suy bày,
Quyết tâm luận chiến phen này xem sao.
Vội vàng thầy tớ theo nhau
Kéo về kinh đọ pháp mầu cùng ai.
Tin vừa trình đến bên tai,
Nhà vua thở ngắn than dài, gọi em.
Rằng “ngươi lời hứa dễ quên,
Cố tình nhắm mắt trước đèn được sao?
Thần dân đã rõ thấp cao,
Lẽ nào em chẳng nương vào quy y?
Đày thân mãi chốn mê si,
Gây thêm lắm chuyện cũng vì đảo điên.”
Gã rằng “thử lại một phen
Để cho vàng đá trắng đen tỏ tường.
Vả chăng đạo chẳng một đường,
Mỗi người riêng một sở trường kém đâu.
Nếu như đạo Thích nhiệm mầu,
Vàng ròng nào sợ lửa đâu, mà chùn?”
Vua rằng “đành cũng chìu lòng,
Mong em tỉnh giấc trần hồng đảo điên.
Khiến thêm kiên cố lòng tin,
Rừng mê em nhớ nên tìm lối qua.”
Nói rồi ngự cỗ long xa
Đến vườn đào lý nơi nhà tịnh thanh.
Vua thưa “tùy thuận chúng sanh,
Lại xin Phật mở pháp lành một phen.
Cho người tắt lửa đua chen,
Cho người thoát lưới đảo điên u sầu.
Thỉnh Thầy hiển lộ đạo mầu,
Nhiếp thu ngoại đạo quay đầu về nương.”
Ngài dừng bên suối mây vương,
Nhìn hoa đào trổ bên đường đua tươi.
Vỗ vai vua, Phật mỉm cười,
Vua liền lễ tạ thân dời cầu mai.
Tàn trương, trống thúc, cờ bay,
Về thành truyền dựng pháp đài nguy nga.
Tin đưa thấu khắp gần xa,
Phật cùng lục đạo Phú-na luận bàn.
Xôn xao ải Bắc thành Nam,
Phố trong xe ngựa, bên thành lều căng.
Vui như mở hội hoa đăng,
Dưới đèn tỏa bạc, trên trăng giải đào.
Đến ngày luận đạo thấp cao,
Bỗng dưng dân chúng nôn nao phố phường.
Kể rằng từ sáng tinh sương,
Phật cùng đệ tử lên đường vân du.
Khiến phường ngoại đạo lục sư
Nghe tin, thích chí say sưa tự hào.
Người em bước thấp bước cao,
Dương dương mày mặt tìm vào gặp vua.
Rằng “trúc lâm vắng như tờ,
Hỏi ra mới biết cuốn cờ kéo đi.
Chạy qua nước Tỳ-xá-ly,
Tưởng rằng trốn lánh dễ thì thoát sao.
Ví dù lẩn dấu non cao
Hoặc nơi địa ngục, trời nào thứ tha.
Bây giờ khắp sáu đạo gia,
Quyết tìm vạch mặt Phật-đà làm gương.
Xem ai lạc nẻo sai đường,
Xem ai đày chốn mù sương mãi nào?”
Lòng vua trăm mối nao nao,
2.650. Hẳn đây có ẩn ý nào sâu xa!
Thiết triều ủy việc quốc gia,
Rồi vua theo Phật đến nhà Luật-xương.
Lục sư cũng lại hùa sang,
Vênh vênh phách lối, huênh hoang đủ điều
Rằng “tôi hẹn thi phép mầu,
Ai ngờ họ Thích kéo nhau ẩn mình.
Nếu xin thua, cũng vị tình,
Cớ chi mà phải ôm bình qua đây.
Nhờ ông nhắn sau bảy ngày,
Bọn tôi xin đợi chốn này cung nghinh!”
Luật-xương nghe nén bất bình,
Lại thương cho bọn vô minh bất tài.
Thấp cao ở đức hạnh người,
Phải đâu tranh cãi tìm lời hơn thua.
Ngã, nhân rũ sạch bao giờ,
Còn chi cao thấp, trong bờ vọng mê.
Ôi thôi, cái bọn ngu si,
Ếch nằm đáy giếng biết gì trời đâu.
Nghĩ rồi ông cũng gật đầu,
Hứa đem thỉnh Phật sở cầu bọn kia.
Lục sư đắc ý quay về,
Nghênh ngang dưới mắt bốn bề không ai.
Luật-xương thân đến hầu Ngài,
Chắp tay lễ Phật, tỏ ngay sự tình.
Phật cười đỡ dậy tiếp nghinh,
Non Tây ráng đỏ vươn mình trôi mau.
Luật-xương vái tạ cúi đầu,
Lên yên đủng đỉnh qua cầu gió trăng.
Về nhà sửa lễ cúng dàng,
Lại sai người lập pháp đàn trang nghiêm.
Cáo cho dân chúng quanh miền
Biết ngày Phật chuyển pháp hiền độ sinh.
Bảy ngày sau mới bình minh,
Lục sư tìm đến lễ đình theo nhau.
Đợi hoài chẳng thấy Phật đâu,
Mới hay Ngài đã sang Châu Diệm thành.
Vua Ưu-điền tự thân hành
Ra ải đón bực cha lành nhân thiên.
Lục sư vừa mới hay tin,
Cùng Luật-xương với vua Bình-xa theo.
Vội qua Châu Diệm hoàng trào,
Thừa cơ hội, họ lẻn vào khoe khoang
Rằng “thần thách thức Cồ-đàm
Trổ thi thần phép, tranh bàn đạo sâu.
Hai lần hứa chẳng thấy đâu,
Ai dè họ Thích kéo nhau lẩn hoài!
Bây giờ thần ngụ nhờ đây,
Xin vua truyền bắt tớ thầy họ kia.
Thấp cao cho rõ mọi bề,
Cho người còn đắm giấc mê giật mình.”
Vua Ưu-điền nén bất bình,
Cũng vì nghĩ nể chút tình lý lân.
Bằng không đã thét ba quân
Bêu đầu cả bọn chẳng cần đúng sai.
Làm thinh vua bỏ ra ngoài,
Ghé qua chầu Phật trình bày việc kia.
Mỉm cười Phật chẳng nói gì,
Nhà vua từ tạ lui về long xa.
Sáng sau truyền dựng pháp tòa,
Lại cho dân biết để mà ân chiêm.
Đến ngày thi triển pháp thiêng,
Đã nghe Phật sớm rời miền bỏ đi
Hóa duyên tới nước Việt-kỳ,
Vua Đà-la đón nghinh về thành Tây.
Vua Ưu-điền được tin này
Kíp cùng nhập bọn theo Thầy phò nghinh.
Lục sư cũng dõi lộ trình,
Lẩn vào triều kiến mặc tình khoe khoang.
Lại xin vua lập pháp đàn,
Quyết hơn thiệt với Cồ-đàm một phen.
Đạo mầu cho rõ dưới trên,
Để ai đánh lận con đen mãi nào.
Khắp thành đồn đãi xôn xao,
Nghe vua thiết lập đài cao mấy tầng.
Sáng sau Phật lại lên đàng
Trở qua Thi-lợi thành vàng hóa trai.
Vua Nhân-đà sửa vườn mai,
Lập nên tịnh xá, hầu Ngài sớm hôm.
Tin ba vua nước láng giềng
Theo phò chính pháp cũng liền tới nơi.
Lục sư cùng đến kịp thời
Phao truyền, kênh kiệu khiến người xôn xao.
Sân rồng xin được qua chầu,
Một đàn thi triển pháp mầu vua coi.
Cầu xin thách đấu với người,
Nhờ vua ngự giữa, trọng tài cuộc thi.
Sáng ngày Phật lại tìm đi
Sang Ba-la-nại kinh kỳ viếng thăm.
Vua Phạm-đạt ngự ngoài thành,
Thỉnh Phật cùng với chúng Tăng cúng dường.
Lại nghe tin nhạn biên cương,
Quốc vương bốn nước lên đường kéo sang
Theo phò ánh sáng từ quang,
Lục sư lại đến khoe khoang đủ điều.
Sáng sau Phật lại xuôi theo,
Băng sông mây nổi, vượt đèo hoa vương.
Qua Tỳ-la-vệ cố hương,
Vua cùng họ Thích ra đường cung nghinh.
Thỉnh Phật thuyết pháp độ sinh,

2.750. Truyền lưu mối đạo tôn vinh đời đời.
Lại nghe vua Phạm sang chơi,
Cùng vua bốn nước rợp trời tàn xe.
Lục sư cũng lại theo kề,
Lắm bề cao ngạo lắm bề vọng ngôn.
Thách Phật tỷ thí thần thông,
Dựng nhà thiệt chiến, rước công chúng vào.
Sáng sau Phật lại qua cầu,
Bước đi mỗi bước nhiệm mầu hóa khai.
Tìm sang Xá-vệ rừng mai,
Vua Ba-tư-nặc mời Ngài dừng chân.
Đón về cung dưỡng muôn phần,
Sớm chiều vua tới đôi lần vấn an.
Tin về rằng có vua quan
Cùng dân sáu nước theo sang thỉnh mời.
Lục sư cũng kịp tới nơi
Xin vào chầu mới hé lời nọ kia.
Vua truyền rằng “chớ ho he,
Phật đâu phải lứa cá mè với ngươi.
Như Lai trí tuệ tột vời,
Nhớ đêm thành đạo sáng soi Bồ-đề.
Ma Ba-tuần hiện thân về,
Binh hùng tướng mạnh bốn bề quần bôn.
Thế mà vỡ mật tan hồn,
Nép đầu dưới bóng Thế tôn đại từ.
Còn ngươi – lục súc lục sư,
Cái phường tôm tép thật chưa biết mình.
Lẽ nào ta thét vệ binh
Bắt bây bỏ ngục hành hình lột da.
Biết điều mau lánh cho xa,
Nếu không ắt hóa làm ma cụt đầu.
Còn như sám hối bảo nhau
Theo về dưới ánh đạo mầu Thế tôn,
Thì ta cũng sẽ ra ơn
Cầu cho Phật ngự pháp đàn độ nhân.”
Thế là líu ríu lui chân,
Chẳng còn hồn vía bần thần theo nhau.
Một đoàn cúi mặt lủi đầu,
Bên thành bước thấp bước cao trở về.
Thôi thì dạ ủ mặt ê,
Thôi thì tài phép hết bề khoe khoang.
Còn vua kiệu ngọc tàn vàng,
Tìm qua thăm Phật, đôi hàng ngựa voi.
Lưng đồi mai rụng trăng soi,
Nhà vua gặp Phật đang ngồi giữa sân.
Bông hoa mờ ảo dưới chân,
Như Thu vàng cúc, như Xuân hồng đào.
Vẳng nghe sáo nhạc nao nao
Bên ngoài, các nước tìm vào vấn an.
Khơi trầm thơm ngắm trăng vàng,
2.800. Ngồi quanh khắp mặt vua quan hầu Thầy.
Nỗi lòng ấm lạnh bấy nay,
Nghiêng bình trà nguyệt vơi đầy chén sao.
Phật ngồi dưới cội băng đào,
Hoa lay như cánh hạc vào thái hư.
Vua bảy nước thỉnh Phật thừa,
Khai chuông diệu pháp, trải mưa hòa bình.
Hiển bi trí, bạt vô minh,
Rộng phương tiện dắt chúng sinh qua bờ.
Ba lần tha thiết trình thưa,
Phật cười: “Thầy đã đến giờ độ tha.”
Sáng sau nghi thiết trầm hoa,
Một lò hương tỏa trên tòa vàng châu.
Tin về cuối biển non sâu,
Người hay Phật chuyển pháp mầu tìm nghe.
Bốn bề cờ dựng tàn che,
Lưng trời ai kết một bè mây xanh.
Lục sư cũng đến bên thành,
Trổ tài pháp thuật tranh giành được thua.
Vừa trông thấy dáng Đại từ,
Lòng kiêu mạn bỗng tan như khói chiều.
Một đoàn kẻ trước người sau,
Cúi đầu lễ Phật xin cầu pháp tu.
Ngài cầm mấy nhánh liễu tơ,
Lên đài giữa một rừng cờ đua reo.
Dáng như tơ ửng mây chiều,
Mắt như hai mảnh đìu hiu nguyệt tà.
Bàn tay ngọc chuốt vàng pha,
Cầm nhành liễu bỗng phất nhòa phương Đông.
Hiện ra rừng rậm mênh mông,
Cây cao trăm trượng chập chùng xuyên mây.
Trông như ngọc dát vàng xây,
Hoa năm sắc sáng, lá cây muôn màu.
Hương rừng thoảng đến nơi đâu,
Là người cởi oán tan sầu như chơi.
Gió rừng dâng nhạc chơi vơi,
Là chuông thức tỉnh cõi người ngân vang.
Hoa rừng tỏa chiếu hào quang,
Kết thành tám nẻo đường vàng như tơ.
Khu rừng là nhạc là thơ,
Khiến người mến đạo vượt bờ tử sinh.
Tâm bình thế giới cũng bình,
Mười phương vũ trụ mông mênh hiện bày.
Phật vừa biến hóa cõi này,
Đưa người thoát kiếp tù đày chiến tranh.
Sáng sau Ngài lại vân hành,
Bước chân gieo hạt giống lành đất kia.
Vua Ưu-điền thỉnh Phật về
Mở khai chính đạo chuyển mê bạt sầu.
Phật hóa hai núi nhiệm mầu,
San hô óng ánh, minh châu chói lòa.
Đỉnh non cây trải mưa hoa,
Phủ trên mái tháp mấy tòa ngọc xây.
Lại thêm cửa động nuốt mây,
Tuôn ra dòng suối dâng đầy hoa thơm.
Hắt hiu tiếng địch tiếng đờn,
Một đàn hạc trắng bay vờn hòa theo.
Vách non cỏ biếc màu chiều,
Cành lê chín thẫm cheo leo mấy tàng.
Chân non thảm lúa tươi vàng,
Gió đưa sóng nổi mênh mang dạt dào.
Người theo lạch suối hoa đào,
Hết ăn trái chín lại vào động hương.
Nao nao khói nổi mây vương,
Ai đan mây khói vô thường thành thơ.
Não phiền vừa thoảng cơn mơ,
Lòng như hoa nở đón chờ xuân sang.
Lại nghe lời Phật ngân vang,
Bừng khai trí tuệ nghiêm trang diệu kỳ.
Ba ngày sau Phật lại đi,
Thể theo dân nước Việt-kỳ mời qua.
Sáng ngày vua Chuân-đà-la
Dâng lên Ngài một tách trà khảm châu.
Uống rồi Phật hóa pháp mầu,
Đổ cấu xuống đất thành cầu hào quang
Bắc trên hồ nở sen vàng,
Chung quanh soi bóng mấy hàng liễu dương.
Bờ hồ lát những kim cương,
Chiếu lên ánh sáng dị thường nơi nơi.
Đáy hồ xanh biếc da trời,
Toàn bằng vụn ngọc sáng ngời làm men.
Gió về đưa đẩy nhành sen,
Xanh pha hồng tía lam chen đỏ vàng.
Muôn màu hoa tỏa muôn quang
Thành mây ngũ sắc trên hàng sóng xô.
Một vùng ngọc chiếu hoa phô,
Khiến người soi, thoát mê đồ bỗng dưng.
Đạo tràng tứ chúng vui mừng,
Nghìn trăm vạn kiếp ai từng rõ hay.
Phật tùy căn độ sâu dày,
Phương tiện thuyết pháp khai bày tâm vương.
Hôm sau Ngài lại lên đường,
Vua Nhân-đà thỉnh cúng dường phạn trai.
Lạ thay mắt Phật ánh ngời
Hóa thành dòng suối tuyệt vời xuôi nhanh.
Nước xô nhau kết nên thanh,
Tiếng êm như nhủ: ngũ căn diệu hòa.
Tiếng mau như giục người qua,
Thất giác, ngũ lực Phật-đà thần thông.
Tiếng dồn như gợi mênh mông,
Tam minh, tứ đẳng lục thông pháp mầu.
Tiếng nao như thức ai sầu,
Lục hòa là pháp nương cầu qua mau.
Tiếng ầm như réo gọi nhau,
Tám đường giải thoát ưu sầu vượt băng.
Tiếng nao như nhủ dưới trăng,
Đại từ bi mới là đàng chính chân.
Pháp mầu hiện độ chúng nhân,
Hai dòng suối chảy phù trần dạt trôi.
Khiến cho ai đã nghe rồi,
Gần nơi giải thoát, xa nơi lụy phiền.
Sáng ngày Phật lại hóa duyên,
Cỏ hoa mừng bước đại hiền Như Lai.
Vua Phạm-đạt thỉnh cúng trai,
Bên thành dựng một lễ đài nguy nga.
Hơi thở Phật nở liên hoa,
Hương theo gió đến cõi xa ngàn trùng.
Khiến người mơn mởn hình dung,
Bao nhiêu tham ý mê lòng lắng tan.
Cánh hoa lại nở hào quang,
Kết thành một chiếc tàn vàng quyện hương.
Hôm sau Phật lại du phương,
Theo đại thí chủ Luật-xương đón về.
Khắp thôn hoa kết tàn che,
Phật ngồi thuyết pháp trên hè trầm bay.
Ngài đưa lên một ngón tay,
Hóa ngàn bướm trắng phiêu bay dập dìu.
Tụ thành hoa nổi, tán treo,
Kết vành xe pháp xoay theo gió trời.
Hào quang chiếu tỏa muôn nơi,
Khiến trong pháp hội người người hiểu nhau.
Dù là tâm ý vương đâu,
Khác gì biển thẳm non sâu hiện bày.
Phật tùy căn đức sâu dày,
Pháp mầu diễn nói tỉnh người mê si.
Sáng sau Phật lại ra đi,
Bốn phương trải tấm hoàng y diệu vời,
Có dòng họ Thích đón mời
Qua Tỳ-la-vệ ngự nơi rừng đào.
Phật ngồi trên đỉnh đồi cao,
Phóng ra muôn ánh bạch hào mông mênh.
Khiến ai ai cũng thấy mình
Ngự trên ngai ngọc quang minh giữa trời.
Ngàn hoàng tử trấn các nơi,
Non sông lầu các sáng ngời hồng quang.
Triều thần muôn vạn võ văn,
Cung phi lá ngọc cành vàng thướt tha.
Khiến ai cũng thấy chính ta
Làm vua chuyển pháp ngự tòa kim cương.
Tỉnh ra xiết đỗi lạ thường,
Tự tâm là cõi thiên đường cao sâu.
Mới hay bản tánh nhiệm mầu,
Phát nguyền vô thượng quay đầu tầm tu.
Sáng ngày Phật lại vân du
Bỗng mây muôn sắc phủ từ hư không.
Hiện ra nước nhược non bồng,
Kìa lầu bích ngọc nọ đồng bạch hoa.
Một bầy tiên nữ múa ca,
Vóc hồng rủ liễu vai ngà buông tơ.
Tiếng ca quyện với sương mờ
Thành muôn hạt đọng trên bờ lách lau.
Non cao suối đổ dòng mau,
Giữa ngàn hoa trắng có cầu mây cong.
Cành sương đẫm tía pha hồng,
Dăm con hạc nổi bềnh bồng đậu theo.
Trong lầu đá cẩm cheo leo,
Bâng khuâng đàn địch dập dìu phách sênh.
Kéo ra voi ngựa quần thần,
Kiệu minh châu võng cẩm vân tuyệt vời.
Hỏi xem mới rõ cung trời,
Lệnh vua Đế-thích thỉnh mời Phật, Tăng.
Về cung Quỳnh Ngọc cúng dàng,
Tuyên dương chính pháp nghiêm trang Bồ-đề.
Hai vua Đế, Phạm hầu kề,
Dưới trên cẩm ngọc bốn bề hoàng vân.
Phật ngồi thuyết pháp biến thần,
Trên tòa sư tử trắng ngần lưu ly.
Pháp thân như núi Tu-di,
Vai đeo nhật nguyệt đôi vì hào quang.
Mỗi lời lại trổ sen vàng,
Tiếng nghe âm động muôn ngàn cõi tiên.
Chúng sinh vô lượng quanh miền,
Viên âm khiến nở nhân hiền nơi nơi.
Phật vừa im lặng mỉm cười,
Bỗng nhiên sấm động vang trời gần xa.
Dưới tòa năm vị nhảy ra,
Nào Đại thần quỉ như là sắt hun.
Nào thần Mật tích Kim cương,
Tay cầm chày ngọc, lửa vương mái đầu.
Đuổi lục sư xuống dòng sâu
Mang mang sóng nước âu sầu khói sương.
Thần lại kéo lên vệ đường,
Sáu người hổi tỉnh khác thường tính căn.
Lắng tan vọng tướng phù trần,
Như cành cây nọ thêm lần đơm hoa.
Chắp tay cầu thỉnh thiết tha,
Mang theo cả vạn cuồng đồ về nương.
Trở thành thanh tịnh sa-môn
Tiến tu thiện nghiệp trăm đường tốt tươi.
Thiện duyên khiến cả trời người
Tỉnh cơn huyễn mộng, xa rời tà nghiêng.
Hôm sau vua trời Phạm thiên
Cúng dường đức Phật bên triền non mai.
Tiệc đào hóa tự cõi trời,
Toàn bằng bảy báu sáng ngời diệu quang.
Vi vu mây tía mây vàng,
Khắp hư không kết thành tàn bảo châu.
Phật ngồi hiện hóa pháp mầu,
Hào quang biển thẳm non sâu chói lòa.
Lưng trời man mác ngàn hoa
Kết thành nhạc báu la đà gió hương.
Khiến thiên chúng khắp đạo trường
Thấm vi diệu nhạc tỏ tường nhân duyên.
Sáng sau vua trời Tứ thiên,
Cúng dường thết tiệc trên triền Nam san.
Giữa hư không dựng pháp đàn,
Sương xanh hòa với mây vàng ùn xây.
Phật đem diệu pháp khai bày,
Ứng thân hiện khắp cõi này mênh mang.
Đâu không chan chứa từ quang,
Hoa lay là ý, suối vang là từ.
Khiến người thanh thản trầm tư,
Như hương bay giữa Chân như đạo trường.
Tan mê ngộ đạo chân thường,
Diệu dụng vô ngại mười phương Phật hào.
Chim thần tung cánh bay cao,
Nguyện đem ánh sáng đạo vào trần ai.
Hôm sau Phật lại hóa trai,
Có nhà Phạm Nguyện mời Ngài lên non.
Trang hoa muôn dặm tía hồng,
Trên lưng núi phượng lượn vòng cánh xuân.
Có dòng suối lặn phù vân,
Qua đồi đá trắng vang rần chim ca.
Ngàn lau thấp thoáng đôi nhà,
Ngoài hiên cỏ thiết một tòa tịnh thanh.
Trên ghế trúc Phật biến hình,
Chỉ còn một ánh quang minh khắp trời.
Hóa thành cam lộ vàng rơi,
Khiến cho đại chúng tỉnh người mê sân.
Gió thơm thoảng sạch phù trần,
Người trong pháp hội thêm phần oai nghi.
Vượt qua huyễn vọng tham si,
Thoát vòng ảo hóa theo về tánh không.
Một qua ải mộng trần hồng,
Đạp phù vân, nối muôn dòng chim bay.
Phật nguyền chuyển đạo Như Lai,
Cứu nhất thiết khổ, dựng đài tâm hoa.
Hôm sau ông Hồ Đại La
Sửa sang thỉnh Phật về nhà cúng trai.
Trước mong quả phúc hậu lai,

3.050. Sau cầu pháp độ trần ai mê lầm.
Đỉnh ngọc đốt giải thoát trầm,
Giữa nền thủy tạ trên đầm mênh mông.
Phật nhập định phóng thần thông,
Mười phương vũ trụ hiện trong lòng từ.
Mây vàng tỏa khắp thái hư,
Dệt nên bài kệ chân như nhiệm mầu.
Khiến chúng sinh khắp năm châu
Trông mây lòng sạch tham cầu ai bi.
Pháp hiền trong suốt lưu ly,
Đưa về tánh Phật tư nghì được sao.
Ý thần vỗ cánh chim cao,
Gọi nhau tỉnh giấc mê đào trần sa.
Sáng sau vua Chuân-đà-la,
Trong vườn thượng uyển dựng tòa đàn hương.
Sửa tiệc thanh tịnh cúng dường,
Thỉnh Phật dừng nghỉ bước đường vân du.
Lại truyền ân xá giảm tù,
Phóng sinh, bố thí… đền bù đức cao.
Phật ngồi chiếu ánh bạch hào
Khiến người tỉnh giấc chiêm bao, thấp hèn.
Khói trầm kết thành hoa sen,
Đài phô hương nhụy, cánh chen sắc màu.
Hóa thân Phật tựa vàng châu,
Ngự đài hoa diễn pháp mầu thần oai.
Theo mây đi khắp trần ai,
Khắp trong thế giới muôn loài ngẩn ngơ.
Sạch lòng bọt nổi huyền mơ,
Cánh hồng tung gió qua bờ thiên tiên.
Gió vi diệu bạt ưu phiền,
Hoa vi diệu thoảng hương thiền từ bi.
Hôm sau võng lọng tinh kỳ,
Vua Ưu-điền thỉnh Phật về thiết trai.
Bên sông tùng liễu vươn dài,
Kết bè gỗ quý dựng đài tôn nghiêm.
Đèn treo hoa trải hai bên,
Xuôi dòng man mác buông thuyền nhã ca.
Đón Phật xuống ngự bè hoa,
Như viền băng nguyệt trên tòa bảo vân.
Vua cùng hoàng hậu phi tần
Ngồi quanh thính pháp muôn phần kính tôn.
Phật dùng ảo diệu thần thông
Biến hoa kia hóa xe rồng lên mây.
Toàn dùng bảy báu trưng bày,
Trên xe chở một kiệu đầy thi kinh.
Mỗi pho là một đẩu tinh,
Hào quang chư Phật hiện hình bến mê.
Theo đường mây nổi bay về
Đại phương thế giới mười bề sao sa.
Cúng dường muôn cõi Phật-đà,
3.100. Cầu thần oai chuyển ta-bà nghiệp chung.
Lại đem diệu pháp thần thông,
Khiến người tỉnh giấc trần hồng mê say.
Như chim vượt lưới trùng vây,
Như đêm viên nguyệt, như ngày thái dương.
Trí Phật như đấng dược vương,
Tùy căn bệnh khổ vô thường chúng sinh.
Thuốc thần chữa gốc vô minh,
Tỉnh ra ngã, pháp một hình bọt sôi.
Vọng tâm biến diệt nào thôi,
Mười hai xiềng khổ luân hồi mãi xoay.
Nền trời lấm tấm hoa bay,
Trên sông man mác vơi đầy dòng ca.
Sáng ngày sau, vua Bình-xa
Cùng hàng văn võ kéo ra thỉnh mời.
Khi đoàn rước Phật đến nơi,
Hoàng cung như thể cõi trời gấm nhung.
Lại thêm tòa giảng Đại hùng,
Nhân dân khắp chốn quanh vùng về nghe.
Bỗng dưng những áng mây che
Kết thành bàn ghế trên hè tỏa quang.
Mâm son, bát ngọc, đũa vàng,
Tiệc trai chuyển tự thiên đàng xuống mau.
Sương năm sắc hiện dải cầu
Từ thinh không bắc xuống lầu niệm hoa.
Lại nghe réo rắt đàn ca,
Với bao tàn lọng gần xa trập trùng.
Cõi phàm chợt hóa thiên cung,
Đèn treo, hoa kết quanh vùng hội xuân.
Chư tiên đãi tiệc hồng trần,
Thiện duyên khiến thấy một lần thiên thai.
Dự xong, đương lúc người vui,
Cảnh kia lại hóa mây trời bay đi.
Trên tòa hồng ngọc lưu ly,
Trầm thơm quyện tấm hoàng y ngạt ngào.
Phật chỉ tay, dưới đài cao
Hiện ra cõi ngục lúc nào chẳng hay.
Tội nhân muôn kiếp đọa đày,
Hết nung cột lửa, lại bày vạc sôi.
Hết cưa chân, lại nén người,
Hết nằm thú rỉa, lại ngồi bàn chông.
Trói vào một khối tiền đồng,
Nghìn trăm cân nặng lưng còng bê đi.
Khổ vì keo kiệt cuồng si,
Nên giờ tiền bạc buộc ghì đôi tay.
Lại thêm già trẻ gái trai,
Trói vào neo sắt co người khiêng theo.
Phật rằng tội phước cheo leo,
Gieo nhân hái quả là điều buộc thân.
Hoặc là tàn ác sát nhân,
3.150. Hoặc là bán nước buôn dân tội dày.
Hoặc là hại kẻ thơ ngây,
Hoặc là dâm đãng xúi bầy nát tan.
Hoặc là trộm cắp điêu gian,
Hoặc là lừa gạt muôn vàn đảo điên.
Khiến người nhục nhã oan khiên,
Khiến người thêm oán thêm phiền chấp nê.
Gây bao nhân khổ duyên mê,
Là bao tội trạng nặng nề chất lên.
Nghiệp thân, khẩu, ý vô biên,
Đắp thành ba ngục ưu phiền mông mênh.
Xem nghe ai chẳng rùng mình,
Suốt muôn ngàn cách cực hình khảo tra.
Ngẫm ngay giữa cõi người ta,
Lưỡi gian có khác chi là hầm chông.
Thân kia chẳng khác ngục đồng,
Ý kia chẳng khác lửa hồng bốc reo.
Vui buồn nào khác khiêng neo,
Biết mình giữa chốn hiểm nghèo, mấy ai!
Lạ thay, miệng đức Như Lai
Mở lời, địa ngục hóa đài hào quang.
Rằng “ba biển nghiệp mênh mang
Mà chiêu cảm đến hai đàng khác nhau.
Ác tâm đọa lạc ngục sâu,
Thiện tâm lên cõi nhiệm mầu nhân tiên.
Trùng trùng thập nhị nhân duyên,
Do ái, thủ, hữu hiện tiền bày ra.
Sáu đường trôi nổi phù sa,
Vô minh khởi hiện bạo hà tham sân.
Các người mau thoát mê tân,
Như trăng sáng giữa ảo vân ngợp trời.
Dù cho sóng động trùng khơi,
Con thuyền Lục độ đưa người tang thương.”
Nghe xong khắp cả đạo trường
Phát tâm bố thí tìm đường nhân thiên.
Lời hiền âm thoảng suối thiêng,
Chợt nghe ngạ quỉ cũng liền hóa sinh.
Vua Bình-xa đứng nghiêng mình
Chắp tay lễ Phật chân tình ngỏ thưa:
“Bao người mong ước từ xưa,
Xem các tướng tốt mà chưa toại lòng.
Vì bánh xe pháp đôi vòng,
Dưới bàn chân nọ chưa từng được hay.
Dám xin Ngài, tiện hôm nay,
Rộng thương đại chúng phô bày tướng kia.”
Theo lời thỉnh của nhà vua,
Phật đưa chân nọ qua bờ đài hương.
Khiến ai ai cũng hay tường,
Sắc tươi ngọc tỏ, màu hường ráng pha.
Hiện lên rờ rỡ luân xa,
3.200. Rõ ràng vòng bánh nan hoa diệu vời.
Khiến cho hoan hỉ lòng người,
Vua Bình-xa mới tiếp lời trình thưa:
“Nhân gì theo thuở xa xưa,
Nên chi phúc báo, thân giờ đẹp thay?”
Phật rằng “tiền kiếp ta đây
Giữ mười điều thiện khiến người tu theo.
Nên nay tốt đẹp trăm chiều,
Một đời phước tuệ cao siêu ai bì.”
Vua thưa “diệu pháp tu trì,
Cách đem hóa độ tham si thế nào?
Khiến đời muôn vạn trần lao,
Sáng tươi dưới ánh Phật hào mênh mông.
Xin Ngài độ kẻ qua sông,
Xin Ngài cho kẻ có lòng được hay.”
Phật rằng “vạn kiếp cách đây,
Có nhà vua hóa cõi này trang nghiêm.
Oai danh đồn đãi muôn miền,
Chăn dân, trị nước, chúa hiền gắng công.
Buồn riêng, chưa kẻ nối dòng,
Dẫu nơi cung cấm đào hồng thiếu chi.
Một hôm săn thú rừng kia,
Hai bên voi ngựa, bốn bề cung thương.
Gặp đàn thỏ dưới cội sương,
Mẹ dắt con nhỏ tìm đường ẩn thân.
Trông như cụm tuyết trắng ngần,
Một bầy ngơ ngác muôn phần sợ thay.
Thỏ con tha thẩn dưới cây,
Biết đâu nguy khốn kề ngay bên mình.
Thỏ mẹ nấp đứng quẩn quanh
Ngó con, đau xót chẳng đành bỏ đi.
Vua truyền bãi cuộc, lui về,
Thỏ còn tình nặng huống chi loài người.
Mà ta lấy máu làm vui,
Càng suy nghĩ lại càng bùi ngùi thương.
Long xa về đến triều đường,
Lòng vua còn mối vấn vương bời bời.
Nửa đêm chợt hiện một người,
Xưng là thần núi mắt ngời lưu ly.
Dáng cao lẫm liệt phương phi,
Nói rằng “tôi đã cảm vì lòng vua.
Rộng ban hành đức móc mưa,
Khiến muôn vật cũng được nhờ sinh sôi.
Chí ngài cảm đến lòng trời,
Sẽ sinh ấu chúa xứng ngôi rỡ ràng.”
Báo rồi vụt tỏa hào quang,
Nhà vua mới biết mộng vàng vừa đây.
Cứ như điềm báo trước này,
Hẳn có trai quý một ngày không xa.
Sáng mai chiếu chỉ ban ra
Cấm ngăn cờ bạc cùng là sát sinh.
Lại truyền bỏ hết cực hình,
Chẳng còn tổn hại sinh linh mọi bề.
Nguyện đem công đức hướng về,
Đổi thay cộng nghiệp tham mê hồng trần.
Chẳng bao lâu khắp thần dân,
Nghe hoàng hậu có tin xuân đầu mùa.
Phòng hương cầu nguyện thêu thùa,
Nụ hoa thoắt đã đến giờ mãn khai.
Tin truyền khắp cõi trong ngoài,
Thái tử là một cậu trai khác đời.
Thân như ngọc sáng mầm tươi,
Khôi ngô tuấn tú ra người trượng phu.
Chư hầu bao vị chúa vua
Chúc mừng vương quốc dựng mùa hội hoa.
Niềm vui tràn khắp muôn nhà,
Đón chào minh chúa vừa ra trị đời.
Vua cho sứ đến một người
Hiền nhân ẩn sĩ để mời vào cung.
Người khen: “tướng đẹp vô cùng,
Sẽ ghi tiếng đại anh hùng sử xanh.”
Vua rằng “đã có điềm lành,
Mang thai, hoàng hậu thông minh khác thường.
Tự nhiên kinh sách tỏ tường,
Lại hay làm phúc ban ơn mọi bề.”
Tâu thêm: “vóc thể phương phi,
Chân lông tỏa sáng ánh kỳ diệu thay!
Và theo điềm lúc mang thai,
Xin đặt thái tử tên này: Bửu Quang.”
Nói rồi từ tạ thánh hoàng,
Khoan thai trở gót về làng ẩn cư.
Lần lần sương sớm mây trưa,
Tàn xuân hoa nọ đã vừa trái xanh.
Trẻ hiền sớm phát tinh anh,
Trăm pho huyền nghĩa học hành thông mau.
Tiếng như nước suối qua cầu,
Môi như hồng nụ phô màu chớm xuân.
Mắt chàng như giếng thu ngần,
Tay như bút ngọc muôn phần đẹp tươi.
Hòa nhan ái ngữ nết người,
Lại bi trí dũng tính trời vốn mang.
Xuân vừa tới tuổi Bửu Quang,
Thì đau đớn nỗi phụ hoàng quy tiên!
Triều thần theo luật đương nhiên
Tấn phong thái tử ngự lên ngai vàng.
Tân vương sau lễ đăng quang,
Ban hành chiếu chỉ sửa sang mọi ngành.
Bỏ tà, giữ chánh phân minh,
Lại theo thập thiện điều hành quốc dân.
Dẫu là mệt trí, nhọc thân,

3.300. Đức vua cùng với quần thần quản chi.
Có hôm trong buổi triều nghi,
Ngài khuyên văn võ hướng về đạo chân.
Trị người cốt dẹp mê sân,
Tuyên dương chánh pháp, tự thân hành trì.
Diệt an mầm cội tham si,
Nước dù muôn cõi khác chi một nhà.
Ngoài hiên có vị chúa ma,
Nổi lòng đố kỵ nghĩ ra mẹo lừa.
Giả ban các chiếu chỉ vua,
Thu hồi luật thiện, bênh hùa ác tham.
Khiến dân sinh dạ oán than,
Ma xui thành cuộc tương tàn đó đây.
Đức vua nghe báo tin này,
Tiến binh muôn dặm, xem ngay sự tình.
Chẳng bao lâu, tỏ ngọn ngành,
Nơi nơi lại cảnh thái bình an dân.
Đường về qua bến phù vân,
Sóng gầm đáy nước, mây vần núi cao.
Vẳng nghe sầu oán âm hao,
Tiếng rên thảm thiết khác nào khảo tra.
Lệnh truyền quân mới tìm ra
Một người lửa phỏng khóc la rợn mình.
Đớn đau quằn quại thân hình,
Truyền đem cứu chữa, cạn tình hỏi ngay.
Vua rằng “vì cớ chi đây,
Ai thiêu ném dưới hàng cây bên đường?”
Ma rằng “quả báo tai ương,
Vì con tu thiện lại thường khuyến dân,
Khiến đời dẹp bỏ tham sân,
Tội người trút xuống một thân đền bồi.
Người thì phúc lạc cõi trời,
Còn tôi ngục lửa đời đời mang thân.
Đớn đau khổ cực muôn phần,
Bây giờ hối lại bao lần khóc than.”
Vua rằng “xin chớ bi quan,
Giúp người dứt sạch mê tham được rồi.
Tiếc chi thân xác bèo trôi,
Nổi nênh bể khổ luân hồi chơi vơi.
Một tay này cứu muôn người,
Ngục kia nào khác cõi trời Hóa thiên.
Ta đây sớm phát lời nguyền
Cứu muôn loài thoát ưu phiền khổ đau.
Giả thân này có thế nào,
Muôn đời ngục lửa xin vào một ta.”
Lời hiền tỉnh thức lòng ma,
Biến thân đi giữa giang hà sóng êm.
Ma vương cũng phát tâm nguyền,
Tạo muôn nghịch cảnh trợ duyên giúp đời.
Đường lên cho được tuyệt vời,
3.350. Lấy ác ngăn ác cho người tiến tu.
Thế rồi dân cõi Diêm-phù,
Đẹp thân, khẩu, ý đền bù thiện duyên.
Chính pháp lan đến muôn miền,
Nghiệp chung hóa hiện kim luân rõ ràng.
Xe pháp tỏa chiếu hào quang,
Đưa vua đi khắp trần hoàn trợ duyên.
Thi-di kiếp đó danh hiền,
Bây giờ là Tịnh-phạn vương tại trào.
Hoàng hậu thuở trước lạ đâu
Giờ là thân mẫu sớm mau về trời.
Bửu Quang chuyển pháp nơi nơi,
Khiến đời an lạc giúp người thiện tu.
Trải bao cõi mộng Diêm-phù,
Hóa khai chính đạo cho dù thiệt thân.
Tướng lành nổi ở bàn chân,
Hai vành xe chuyển pháp luân sáng ngời.
Là nhờ tích thiện muôn đời,
Thanh cao như ngọc, tuyệt vời như hoa.”
Bấy giờ hoàng đế Bình-xa
Thêm lòng thâm tín đứng ra tỏ bày:
“Nhân duyên giăng mắc cõi này,
Kiếp xưa ngoại đạo chẳng hay nghiệp gì?
Đắm chìm sân hận mê si,
Vu miệt chính pháp từ bi, lẽ nào?
Xin Ngài soi ánh bạch hào,
Cho người đắm giấc mơ đào rõ hay.”
Phật rằng “vô lượng kiếp đây,
Vua Lê Lợi trị cõi này trang nghiêm.
Vương phi bao vị như tiên,
Đều chưa thai nghén lo phiền như nhau.
Vua thường tạo phúc nghiệp sâu,
Mở kho bố thí, tìm cầu đạo chân.
Ngài luôn lấy đức trị dân,
Nước nhà cường thịnh muôn phần an vui.
Ngày kia có một vua trời,
Cùng vì cảm mến đức ngời nhân vương.
Hóa thân ra một người thường,
Lưng đeo bồ thuốc tìm đường vô kinh.
Quì trước điện ngọc tâu trình,
Xin chữa hoàng hậu hạ sinh con hiền.
Lão rằng “thuốc tự núi tiên,
Phải pha bằng máu một nghìn trẻ trai.
Nếu được chấp nhận, thưa ngài,
Truyền quân lùng bắt sáng mai mang về.”
Nghe qua nét mặt ủ ê,
Hại người để lợi một bề riêng sao!
Vua truyền “trẫm chẳng thể nào
Vì mình mà khiến máu đào nhuốm tay.
Thôi thì cảm tạ ơn thầy,
3.400. Chẳng tiếc công xuống chốn này giúp nhau.
Ta đành tuyệt tự mai sau,
Hơn để kẻ khác thảm sầu mất con.”
Ý vua đã vững như non,
Sóng thần chẳng chuyển, ai còn uổng công.
Bấy giờ một đám mây hồng
Bay vào tụ giữa thềm rồng lạ thay.
Kết thành một cỗ kiệu mây,
Sương đan rèm ngọc, khói xây mái đình.
Vị lang y hiện nguyên hình
Là vua Đế-thích hoan nghinh bực hiền.
Thưa rằng “tôi trị cõi tiên,
Đức ngài cảm đến muôn miền trời xa.
Mến tình mới hóa thân ra,
Xuống đây thử lửa xem là vàng thau.
Quả nhiên chói lọi bảo châu,
Hẳn ngài sẽ được con sau nối dòng.”
Trao bồ thuốc trước thềm rồng,
Trắng phau hoa tuyết, phớt hồng cỏ tiên.
Dặn rằng “lấy nước sắc liền,
Uống vào tất có người hiền nối ngôi.”
Chia tay giọng những bồi hồi,
Động hoa vàng tất có hồi tìm nhau.
Thiên vương vào kiệu trân châu,
Hóa ra một nội hoa mầu bay lên.
Vua truyền sắc cỏ hoa trên
Đưa các phi hậu uống liền xem sao.
Chính cung nghĩ chẳng tin nào
Nên không chịu uống, sầu bào lòng thôi.
Khi nghe đều đã thụ thai,
Vội truyền tìm bã thuốc hoài bỏ đi.
Uống vào như các thứ phi,
Lạ thay cũng kịp một thì khai hoa.
Nhưng khi hoàng hậu sinh ra,
Nhìn con, lòng tủi lệ sa giọt ngời.
Trẻ đâu có dáng lạ đời,
Xấu như quỉ sứ nhà trời gớm ghê.
Trong khi con các vương phi
Thu nghiêng mắt biếc, xuân kề môi tươi.
Tóc như mây hạ buông lơi,
Tiếng như suối ấm vừa rời nguồn sa.
Thái tử tên gọi Lê Ba,
Vua truyền giao trẻ riêng nhà dưỡng nuôi.
Tránh nhìn nửa quỉ nửa người,
Tránh cho thiên hạ bia cười dèm chê.
Dần dà năm đến năm đi,
Anh em thái tử đến kỳ lớn khôn.
Cầm quân trấn giữ biên cương,
Một triều thịnh trị bốn phương thái hòa.
Bỗng đâu có việc can qua,
3.450. Giao tranh cùng nước Tân-la láng giềng.
Khói bay lửa ngút ải biên,
Bao nhiên dũng tướng, con hiền chạy thua.
Giặc như nước lũ tràn bờ,
Đạp tan thành quách dựng cờ xâm lăng.
Tin như sét đánh vương thành,
Lê Ba thái tử một mình xin đi.
Tục truyền Thiên tự xưa kia,
Còn cây cung lớn lượng vừa muôn cân.
Từ thời vua Chuyển thánh luân,
Dùng bảo vật nọ trấn quân bạo tàn.
Trải bao mây nổi hợp tan,
Cây cung quốc bảo còn truyền tới nay.
Sức người nào thể chuyển lay,
Vào chùa, thái tử một tay xách kề.
Dương lên sấm động bốn bề,
Gió to sóng lớn dâng về trợ oai.
Giặc nghe phách lạc hồn bay,
Trăm thành thu lại không đầy tấc gang.
Vua Tân-la đến xin hàng,
Giữ tình giao hảo, lân bang vui vầy.
Thế là truyền khắp Đông Tây,
Tin thiên tướng xuống cõi này yên dân.
Vua cha bàn với triều thần,
Tính bề gia thất muôn phần khó khăn.
Người còn chẳng dám lại thăm,
Nói gì đến chuyện gối chăn sum vầy.
Đình thần có vị tâu bày,
Nghe có công chúa thơ ngây liễu đào.
Hoa còn vườn kín lầu cao,
Dưới trên hiếu thuận, ra vào đoan trang.
Nàng vừa tới tuổi tròn trăng,
Con vua Thế tổ láng giềng nước kia.
Cử nghinh hôn lễ đón về,
Rồi ra tráo rể đôi bề vẹn đôi.
Một mai ván đóng thuyền rồi,
Quen hơi bén tiếng cũng thôi ngại gì.
Vả danh tiếng ấy ai bì,
Yêu tài là nết nữ nhi nặng tình.
Cứ mang lễ đến tâu trình,
Mượn em đón chị, sẽ thành đẹp đôi.
Thuận cho, nào quảng xa xôi,
Chuyện mai mối để thần tôi liệu bài.
Vua truyền sửa lễ lựa ngày,
Hai xe gấm ngọc, cậy tay đại thần.
Bồi hồi ngó đợi tin xuân,
Chẳng bao lâu đã nghe quân báo về.
Thế là cờ dựng tàn che,
Lầu cung hoa kết ngựa xe nạm vàng.
Dẫu rằng phượng chửa biết loan,
Đã đinh ninh kết đá vàng duyên xa.
Kiệu rồng rước đến thềm hoa,
Cung phi ngọc nữ kéo ra lạy mừng.
Đêm vui đèn lửa tưng bừng,
Dập dìu nhạc cử vang lừng pháo vui.
Tiệc tan, trò chuyện đôi hồi,
Tân nương càng mến nết người tân lang.
Từ đây, chỉ những đêm trường
Cạnh nhau, sáng lại vắng chàng, thấy đâu!
Nàng than “đêm chóng ngày lâu,
Mặc ai mặt héo tâm sầu mặc ai.”
Chàng rằng “yên ngựa miệt mài,
Biên cương muôn dặm, một tay binh quyền.
Lòng thì canh cánh bên em,
Mà vì trăm họ, giữ yên nước trời.
Mộng xuân còn lắm tuyệt vời,
Rồi ra loan phượng trọn đời sánh đôi.
Thiếu chi trăng gió bồi hồi,
Khi thuyền soi nước khi đồi dạo mây.
Bấy giờ yên đó vẹn đây,
Nước non thịnh trị vui vầy muộn chi.”
Một đêm thiêm thiếp xuân thì,
Rèm tơ vẳng tiếng đàn tỳ nhẹ lay.
Nhớ quê biền biệt bấy ngày,
Giờ nghe sương động, vơi đầy giọt hoa.
Tưởng ngày dưới gối mẹ cha,
Tưởng khi đuổi bướm la đà vườn riêng.
Tưởng trang sách dưới tay mềm,
Tưởng hồ ẩn nguyệt dong thuyền gió thu.
Bây giờ còn áng mây đưa,
Còn trăng lữ thứ nhẹ đưa tiếng nào.
Nàng ngồi dậy, hé rèm đào,
Nghiêng song thu, nguyệt chiếu vào phòng hương.
Tựa nhìn man mác vườn sương,
Quê xưa kìa mảnh sao thường dõi theo.
Lòng đương trăm mối nghìn chiều,
Nhìn chàng nằm đó thiu thiu giấc hoè.
Nhạt mờ sau lá màn the,
Ánh trăng hờ hững soi kề gối bên.
Quay vào nhẹ vén màn lên,
Dung nhan sớm nọ đã in những ngày.
Dưới trăng giờ tỏ mặt này,
Bộng tan hồn quế rời tay liễu đào.
Người đâu vóc dáng lạ sao!
Gục bên song cửa nao nao điếng người.
Trước kia anh tuấn tuyệt vời,
Mà nay như quỉ nhà trời xuống đây!
Trước sao mày phượng tóc mây,
Giờ sao dị tướng thế này hỡi ơi!
Hẳn ai mưu kế thay người,

3.550. Hay chàng biến hóa, như lời đồn xưa.
Có tài hô gió gọi mưa,
Đánh xong trăm trận như vừa trở tay.
Gục đầu nàng thiếp hồn say,
Gà đua tiếng gáy chân trời mờ sương.
Sáng nghe sẻ hót đầu tường,
Tỉnh ra lệch đệm xô giường vắng ai.
Buồng gương tóc cuộn trâm cài,
Xin đi dâng lễ miếu ngoài đồi thông.
Thác rằng: chàng đã bằng lòng,
Nên chi tung cánh sổ lồng như chơi.
Xe bon vượt đỉnh xanh ngời,
Bâng khuâng mấy nụ hoa rời cánh hương.
Nhớ nhà ngựa thẳng dây cương,
Được tin thái tử dõi đường băng theo.
Chàng dừng ải cuối cheo leo,
Ngùi trông đôi áng mây chiều buông tơ.
Bông lau ven suối vật vờ,
Bên kia biên giới sương mờ hắt hiu.
Người sầu ngựa cũng buồn thiu,
Vó rơi chốn cũ hồn neo cuối trời.
Bao đêm nến cạn dầu vơi,
Tháng sau mới giả làm người bán cung.
Vì hoa ngựa vượt muôn trùng,
Sang sông nhớ khói, qua rừng nhớ sương.
Một chiều chàng đến thành vương,
Ghé vào quán trọ bên đường tà huy.
Chợt hay: vua nước biên thùy,
Kéo quân sang với sính nghi đón nàng.
Chàng nghe: sáu nước lân bang,
Cành hương đã nức giá vàng bấy nay.
Từ nghe ngọc quý ngoài tay,
Hết đêm tơ tưởng lại ngày thầm trông.
Giờ nghe nàng lánh nhà chồng,
Thế là sửa lễ, thiếp hồng bắn qua.
Tranh nhau chúc ngọc cầu hoa,
Thị uy lại kéo quân ra cõi ngoài.
Triều đình trăm nỗi bời bời,
Đây toan rẽ ngọc, đó lời thiệt hơn:
Làm sao giữ vững biên cương,
Một đường cho vẹn một đường mới hay.
Lão thần có vị tâu bày:
“Kế này hẳn giữ cõi này được yên.
Chi bằng yết bảng cầu hiền,
Cậy ai giữ vững thành liền, quốc gia.
Bấy giờ đáng mặt tài ba,
Bấy giờ sánh ngọc cầu hoa mới bằng.
Nước nào yếu hẳn lui binh,
Nước nào mạnh hẳn kết tình dài lâu.
Thế là châu vẫn hoàn châu,
3.600. Lại không kết oán gieo sầu với ai.”
Sáng sau bảng yết khắp nơi,
Đức vua tìm bực anh tài cứu nguy.
Nổi xung giặc đoạt thành trì,
Kinh đô ngơ ngác, biên thùy khói bay.
Địch nhắn tin: “nhận duyên này,
Rút quân và trả thành ngay, ham gì.”
Trước lời cường địch thị uy,
Có người giựt bảng nguyện đi chiến trường.
Một mình thẳng tới biên cương,
Sóng dâng lớp lớp, mây vương mịt mù.
Giặc trông chưa đánh đã thua,
Người e quỉ sứ, kẻ ngờ thần tiên.
Ra tay đoạt mấy thành liền,
Khiến vua sáu nước lòng phiền khiếp oai.
Cờ hàng ngơ ngác đua bay,
Quốc vương tự đến thành ngoài tiếp tân.
Người đâu mặt quỉ tài thần,
Nửa phần khiếp vía nửa phần kiêng uy.
Hỏi ra nào có lạ chi,
Lê Ba thái tử từng khi nhắc truyền.
Tên người vang khắp sơn xuyên,
Một tay bạt nước láng giềng Tân-la.
Lại là phò mã nước ta,
Trụ trời chống vững sơn hà từ nay.
Thế là ngọc lại hoàn tay,
Vợ chồng như thể mới ngày mật trăng.
Hoàng thành mở hội hoa đăng,
Nhạc ca vi vút, đèn chăng nhạt nhòa.
Sáng ngày vua bảy nước qua
Tôn phong hoàng đế Lê Ba rạng ngời.
Rằng “đây thiên tướng nhà trời,
Sức thần bạt quỉ, thương đời rộng tâm.
Cõi này dù vạn ngàn năm,
Nào ai sánh được sức thần như ai.
Quả trang hiền đức anh tài,
Chúng tôi kính ngưỡng danh ngài bấy nay.
Bây giờ góp sức chung tay,
Xin ngài thống nhứt cõi này cho yên.
Trước sau nguyện dưới điện tiền,
Lấy điều hòa thuận kết liên mọi nhà.
Bỏ vũ khí, dẹp can qua,
Hiếu sinh làm cội, hiếu hòa làm duyên.
Để cho thuận dưới hòa trên,
Để cho khắp chốn nể kiêng cõi bờ.”
Trình rồi bảy nước tung hô,
Liên bang bền vững cơ đồ từ đây.
Cờ tung lá gọi ngàn mây,
Trống khua đất chuyển tàn vây thành ngời.
Cùng nhau vạch đất nguyện trời,
Rượu thề cắt máu chung lời sắt son:
Nguyện dù biển cạn đá mòn,
Chung nhau giữ vững nước non phú cường.
Tháng sau đưa vợ hồi hương,
Tiễn đưa hoàng đế, bảy vương theo kề.
Một đoàn trống thúc tàn che,
Hàng hàng voi ngựa, xe xe ngọc vàng.
Cờ theo nhã nhạc tấu vang,
Voi anh dẫn trước, kiệu nàng áp sau.
Dập dìu sáng ngọc tươi châu,
Sông xưa giờ cũng tươi màu dương hoa.
Tin vui báo đến vua cha,
Khắp đường hoa kết mọi nhà đèn thêu.
Lại vua trong buổi thiết triều,
Truyền ngôi thái tử đôi điều vẹn đôi.
“Rằng ta tuổi hạc đã rồi,
Về non tu học trau dồi tuệ thân.
Quốc gia nhờ bực trung thần
Phù trì thái tử muôn phần mở mang.
Rộng tình hòa hảo lân bang,
Dân giàu nước mạnh đạo vàng triển khai.
Cùng nhau liên đức liên tài,
Bên trong thuận hợp giặc ngoài lo chi.”

Thái tử về đến kinh kỳ,
Vẻ vang rõ đức oai nghi rõ hiền.
Khi đi một ngựa một yên,
Khi về bảy nước theo liền rạng oai.
Một tay khuất phục trong ngoài,
Tôn phong hoàng đế lên đài vinh quang.
Vua cha thân mở thành vàng
Đón con, mắt nhỏ đôi hàng lệ châu.
Nước mừng thuở vững kim âu,
Thả tù, miễn thuế, tìm cầu đạo tiên.
Dập dìu ngọc nữ phi tần,
Khúc nghê thường áo xiêm vần vũ bay.
Lúc thì khói nổi hoa lay,
Dáng nghiêng là tuyết tóc bay là huyền.
Tiếng ca như yến như uyên,
Mừng đêm rồng phượng đoàn viên một nhà.
Lầu vàng sánh ngọc kề hoa,
Dìu nhau trong cánh tay ngà ngất ngây.
Rượu hồng ai chuốc chén mây,
Lênh đênh dòng ngọc, vơi đầy âm thanh.
Sớm nghe ríu rít trên cành,
Mây hồng thấp thoáng sau mành liễu tơ.
Nhìn nàng thiếp ngủ như thơ,
Mà ta thế đó, hững hờ bước chân.
Ra vườn soi đáy hồ xuân,
Nghĩ thân mà tủi cái thân dị thường.
Còn đang tha thẩn bên đường,
Bỗng đâu một áng mây vương trước lầu.
Kết thành cỗ kiệu trân châu,
Ngọc vàng lấp lánh muôn màu đưa tươi.
Hiện ra rờ rỡ một người,
Kiệu mây bước xuống mỉm cười trang nghiêm:
“Tôi là Đế-thích vua tiên,
Cùng người vương vấn chút duyên bấy ngày.
Cũng vì nhau hiện về đây,
Có viên bảo ngọc trao tay niệm tình.
Khi nào đem giắt bên mình,
Thì người đổi tướng biến hình như chơi.
Oai nghi tuấn tú khác đời,
Cõi trần chẳng thể có người nào hơn.
E gì liễu ngại hoa hờn,
Lòng kia dẹp hết nguồn cơn từ rày.”
Vừa cầm thần ngọc trên tay,
Đáy hồ chợt hiện một người khác sao.
Nhìn lên kiệu ngọc tàn đào,
Hóa ra mây tía biến vào thinh không.
Vội vàng chàng ghé lầu Đông,
Đưa tay mang thử cây cung nhiếp thần.
Hoàng nương vừa tỉnh giấc xuân,
Bỗng đâu thấy một văn nhân tuyệt vời.
Xăm xăm mở cửa tới nơi,
Vội vàng sửa áo trâm cài đoan trang.
Miệng hoa lanh lảnh tiếng vàng
Rằng “người kia ở đâu sang tự mình?
Lại cầm bảo vật oai linh,
Nói ngay, không chẳng vị tình dung tha!
Cung thần là của chồng ta,
Biết điều trả lại, mau mà lánh ngay!”
Người kia bỏ ngọc trên tay,
Lại là thái tử xưa nay hiện dần.
Nàng còn ngờ vực phân vân,
Lòng chàng giờ mới muôn phần đẹp vui.
Sự tình bày tỏ đôi lời:
“Anh vừa được thưởng ngọc trời quang minh.
Nên chi biến tướng đổi hình,
Từ nay ngọc giắt bên mình khôn xa.”
Vợ chồng sánh ngọc tươi hoa,
Vẹn duyên loan phượng mặn mà hơn xưa.

Đổi tên là Lê Đại Thừa,
Lên ngôi hoàng đế cõi bờ đảm đương.
Lại truyền tu chỉnh triều đường,
Bấy giờ có bốn Long vương hiện về.
Cúi xin lo liệu mọi bề,
3.750. Hóa ra bốn suối pha lê diệu vời.
Nước tràn muôn dặm ùn hơi,
Dựng lên thành quách sáng ngời bảo châu.
Nào là muôn dãy kim lâu,
Nào đường mã não, nào cầu san hô.
Nào rừng chim tụ líu lô,
Nào sông hoa trải, nào hồ sóng lơi.
Trang nghiêm chẳng khác cõi trời,
Nước non cường thịnh, nơi nơi thái hòa.
Phật rằng “duyên nghiệp đâu xa,
Lê Ba kiếp nọ là ta kiếp này.
Sáu vua nước cũ ngồi đây,
Lục sư ngoại đạo ngày rày quy nương.
Quẩn quanh ảo giác mê trường,
Cõi đời tan tụ vô thường vào ra.
Từ đây rũ áo trần sa,
Chim tiên vượt thoát ta-bà nghiệp duyên.”
Vua Bình-xa đứng bên thềm
Rằng “Lê Ba trước tu hiền cách sao?
Đức hiền, sức đọ trời cao,
Mà nghe dị tướng ai nào dám trông.
Chẳng hay duyên nghiệp đèo bòng,
Là chi trong cõi trần hồng trả vay?”
Phật rằng “chính ở cõi này,
Kể vô lượng kiếp cách nay đã nhiều.
Núi kia có vị Tỳ-khiêu
Phá tâm huyễn vọng, sớm chiều công phu.
Nên bệnh phong, mặt sưng mù,
Lê chân hóa độ cho dù đớn đau.
Có bà nọ cúng dường dầu,
Về non chữa bệnh, trước sau nhiều lần.
Chồng bà là kẻ vô ân,
Mỗi lần thấy đến tham sân dấy lòng.
Mắng rằng “ông lão bệnh phong,
Trông như quỉ sứ, chớ hòng tu chi.
Cầm chút cặn, bước mau đi,
Thân đầy ghẻ lở người gì mà ghê.”
Trước lời miệng thế khen chê,
Rộng tâm hỉ xả chẳng nề nọ kia.
Chợt đâu vợ gã quay về,
Lấy dầu tốt cúng một bề kính tôn.
Lại vào nhà nhẹ khuyên chồng:
“Anh xây mãi ngục lửa hồng mà chi!
Biết điều mau tỉnh sân si,
Thành tâm sám hối tội khi mạn ngài.”
Nghe vợ gã hối xin ngay:
“Tham, sân, ác khẩu từ nay chừa dần.
Xin thầy có nguyện chi cần,
Ghé qua, chẳng dám ngại ngần hiến dâng.”
Ngày ngày lão vẫn lâng lâng,
3.800. Qua nhà hóa độ như vầng trăng soi.
Một hôm chứng ngộ đạo rồi,
Sắp lìa giả tướng vào nơi Niết-bàn.
Nghĩ ơn tín chủ cúng dàng,
Hiện về hóa phép chuyển hàng chướng ma.
Thần thông biến hiện một tòa,
Kim thân ngự đỉnh liên hoa sáng ngời.
Hào quang chiếu khắp nơi nơi,
Hóa mưa cam lộ tuyệt vời nhân gian.
Bốn phương rợp tấm y vàng,
Hiện thành tám ngả huy hoàng trên không.
Người xem lắng ý sạch lòng,
Khởi tâm dũng mãnh thoát vòng trần mê.
Vợ chồng gã bán dầu kia,
Phát nguyền thanh tịnh xin về muôn sau,
Nguyện xây nước mạnh dân giàu,
Nguyện khai hóa đạo nhiệm mầu khắp nơi.
Truyền lưu trí tuệ đời đời,
Kết tình chồng vợ chẳng dời nghiệp duyên.
Nhờ trồng cội đức thiêng liêng,
Nên chi quả phúc nhiệm huyền lưu phương.
Trị vì làm Chuyển luân vương,
Nhân duyên báo ứng khôn lường vào ra.”
Nghe xong hoàng đế Bình-xa
Truyền đem bia khắc để mà tu thân.
Triều thần cho đến toàn dân
Lấy mười nghiệp thiện tinh cần tiến tu.
Trời chiều lãng đãng sương mù,
Sông xa khúc hát đò đưa vọng về.
Người lên võng, kẻ lên xe,
Mắt còn hướng lại phía hè trầm hương.

Mở trong trình đọc kinh