KINH BỔN SỰ · Phần 10/14

KINH BỔN SỰ (phần 10)

Do hai loại trói buộc

Làm cho cả trời người

Một loại là yếu kém

Một loại là mạnh mẽ

Có huệ nhãn thanh văn

Hay quán sát như thật

Hay trừ mạn xa lìa

Lại hiểu biết như thật

Phật lại nói chánh pháp

Hay đoạn diệt thường kiến

Và hai ái vô dư

Có huệ nhãn long vương

Hay dùng mưa tưới khắp

Diệt các loại phiền não

Làm cho được thanh lương

Bổn Sự Kinh – Quyển ba

Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch.

Đức quốc tại Chùa Viên Giác Hannover, Tỳ Kheo Thích Như Điển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, đời Thủ Tướng Schröder, vào mùa hè năm 2002.

Quyển bốn

Phẩm pháp thứ hai

Phần hai

Ta nghe từ Đức Thế Tôn như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo giảm thiểu sự ngủ nghỉ hay nhớ nghĩ chơn chánh thì tâm thường an trụ nơi cảnh an tịnh. Từ nơi thiện pháp hay xem pháp lành mà tu tập chánh niệm. Như thế đó các Tỳ Kheo! giảm thiểu ngủ nghỉ, nhớ nghĩ chơn chánh, tâm thường an lạc nơi cảnh giới thanh tịnh. Từ nơi thiện pháp thấy nghe pháp lành mà tu tập chơn chánh. Ở nơi 2 quả tùy chứng một quả, nghĩa là hiện pháp hoặc chứng Hữu Dư Y Niết Bàn, hoặc quả chẳng hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Giác ngộ hay nghe pháp

Tu hành đắc thắng quả

Chìm đắm nơi ngủ nghỉ

Chẳng có không gì cả

Kẻ giảm thiểu ngủ nghỉ

Đủ chánh niệm chánh tri

Tâm nầy thường yên ổn

Thường ở yên thanh tịnh

Từ nơi pháp lành ấy

Biết thời hay tu tập

Có cứu cánh siêu việt

Sanh lão bệnh tử khổ

Cho nên phải siêng tu

Giảm thiểu việc ngủ nghỉ

Thường hay quán tịch tĩnh

Được hai quả chẳng nghi

Hoặc đoạn sau kết quả

Chứng được quả chẳng hoàn

Hoặc đoạn phần bên trên

Độ sanh lão bệnh tử

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo ở nơi thanh nhàn thường ở chỗ yên chuyên tu thiền định, chẳng rời tĩnh lự, thành tựu minh tịnh Tỳ Bát Xá Na (quán sát), giữ gìn tự tâm làm cho chẳng toán loạn, nương nơi thiện pháp tu tập chẳng nhiễm. Như thế các Tỳ Kheo! nơi hai quả ấy ta nói nhất định có thể chứng một quả. Nghĩa là pháp hiện tại, hoặc chứng quả Hữu Dư Y Niết Bàn hoặc quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Vui không, sống ở yên

Lạc an trụ tâm nầy

Lìa hư vọng phân biệt

Hay phòng hộ tự tâm

Xa rời màn vô minh

Và các dục phiền não

Chẳng ưu hận, về chơn

Tâm nầy hay yên tịnh

Đầy chánh niệm tĩnh lự

Chẳng chấp có, giải thoát

Hay tận các việc tham

Thường vui chẳng buông lung

Thấy buông lung hay sợ

Những thấy hay xa lìa

Sớm chứng được Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo chẳng xấu chẳng thẹn, người kia quyết định chẳng thể thông qua, chẳng thể hiểu biết, chẳng chứng quả vị, chẳng đến Niết Bàn, cũng chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có Tỳ Kheo có tàm có quý, kẻ ấy nhất định có thể thông qua, có thể hiểu biết, có thể chứng quả vị,có thể chứng Niết Bàn, cũng có thể chứng cứu cánh vô thượng an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Kẻ chẳng xấu chẳng thẹn

Lười biếng chẳng siêng năng

Nhiều hôn trầm ngủ nghỉ

Điểm cuối đến còn xa

Có xấu có hổ thẹn

Thường chẳng hay buông lung

Vui yên nơi thiền định

Đến Niết Bàn chẳng động

Kẻ kia dứt ràng buộc

Cùng sanh già bệnh chết

Sớm chứng quả giải thoát

Được vô lượng an lạc


KINH BỔN SỰ – PHẦN 4

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Phàm là kẻ xuất gia, lược nói hai loại, nên làm những việc nếu có thể làm đúng, sẽ được những gì chưa được, sẽ gặp những gì chưa gặp, sẽ chứng những gì chưa chứng, sẽ tiêu sầu thán, có thể diệt trừ lo buồn, có thể tiếp xúc với chân lý, có thể được cam lồ, có thể chứng Niết Bàn. Sao gọi là hai? Một là Tĩnh Lự, hai là hay nghe. Sao gọi là Tĩnh Lự? Nghĩa là các Tỳ Kheo xa rời các ham muốn xấu, chẳng phải là pháp lành, có sai có quấy, ly sanh hỷ lạc, sống ở đầy đủ. Đây là sự tĩnh lự căn bản. Sự sai quấy dừng lại, bên trong sẽ được vui; nếu chẳng dừng sự sai quấy thì không sanh được hỷ lạc, sống yên ở đủ.

Thứ 2 Tĩnh Lự là sự lìa sống vui, bỏ chánh niệm và chánh tri, thân thọ niềm vui, vì chúng mà nói, có xả có niệm, an trụ khoái lạc, đầy đủ sống yên.

Thứ 3 Tĩnh Lự là đoạn khổ đoạn vui, trước diệt lo, vui, chẳng khổ chẳng vui, bỏ niệm, thanh tịnh đầy đủ sống yên.

Thứ 4 Tĩnh Lự – sao gọi là hay nghe ? Nghĩa là các Tỳ Kheo nương nơi Phật nói, đầu, giữa, sau nghe hiểu và lý giải văn nghĩa rõ ràng, thuần đầy pháp phạm hạnh thanh tịnh. Cho nên hợp với khế kinh để tụng đọc như Già Đà, Tự Thuyết, Bổn Sự, Bổn Sanh cho đến Phương Quảng, vị tằng hữu… Nương nơi đó mà thọ trì đọc tụng nghe tập làm cho thông lợi, tuyên dương giải thích; nên có tên là hay nghe.

Như thế đó các người xuất gia lược nói hai loại là vậy! Nên làm những việc nếu có thể đúng đắn sẽ được những gì chưa được, gặp những gì chưa gặp, chứng những gì chưa chứng, có thể tiêu sầu thán, có thể diệt ưu khổ, có thể gặp chân lý như thật, có thể được cam lồ, có thể chứng Niết Bàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Xuất gia có hai loại

Muốn làm việc chơn chánh

Nên ở yên hay nghe

Xa sẽ chứng Niết Bàn

Yên lặng huệ là gốc

Huệ có từ yên lặng

Có ở yên có huệ

Trăm ngàn Tăng câm ngọng

Chẳng huệ không tĩnh lự

Nói kinh trăm ngàn năm

Chẳng chứng một Niết Bàn

Khuyên tu người trí huệ

Vui nghe pháp giải thoát

Nhớ nghĩ tất lợi lạc

Hay sớm chứng Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết. Sự tìm cầu có hai chẳng có thứ ba. Sao gọi là hai ? Nghĩa là tìm cầu thánh và chẳng tìm cầu thánh. Sao lại có tên gọi là chẳng tìm cầu thánh ? Nghĩa là có một loại pháp về già tìm cầu pháp già. Đã có bịnh rồi, tìm cầu pháp bịnh, đã có pháp chết rồi tìm cầu pháp chết, đã có pháp sầu rồi, tìm cầu pháp sầu, đã có pháp nhiễm rồi, đi tìm cầu pháp nhiễm.

Sao gọi là pháp già ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở, voi ngựa bò dê gà heo nhà cửa, vàng bạc tài sản v.v… đều có tên là pháp già. Đó là pháp lão vì lẽ những loại hữu tình nầy có căn bản sanh tử khổ não. Kẻ phàm phu sanh ra nương vào đó mà tồn tại, bị nhiễm ái đắm trước. Do lý do nầy mà chẳng thể giải thoát sanh tử nên có tên là pháp già.

Sao gọi là pháp bịnh ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở nói rộng cho đến nhiều loại do chẳng thể giải thoát sanh tử; nên có tên là bệnh pháp.

Sao gọi là tử pháp ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở rộng ra cho đến nhiều loại do chẳng thể giải thoát sanh tử nên có tên là pháp chết.

Sao gọi là pháp sầu ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở cho đến nói rộng ra các loại, do chẳng thể giải thoát sanh tử nên có tên gọi là pháp sầu.

Sao gọi là nhiễm pháp ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở, voi ngựa trâu dê, gà heo, nhà cửa, tiền bạc tài sản có tên là nhiễm pháp. Đó gọi là pháp nhiễm. Có nghĩa là chúng hữu tình có căn bản sanh tử khổ. Người ngu sanh ra nương vào nơi nầy bị nhiễm ái đắm trước, do vậy mà chẳng thể giải thoát sanh tử được; nên có tên là nhiễm pháp. Nếu nương nơi nầy mà tìm cầu ái lạc thì phải biết rằng chẳng tìm cầu thánh hạnh. Những tìm cầu như thế cuối cùng Đức Như Lai chẳng xưng dương tán thán. Chỉ thường hay khuyên nên biết mà xa rời.

Thế nào là nhân duyên chẳng tìm cầu thánh hạnh ? mà cuối cùng Như Lai chẳng xưng dương tán thán ? mà chỉ khuyên răn thôi để làm cho xa lìa ? Do việc tìm cầu nầy là không phải pháp của hiền thánh, chẳng thể ra khỏi, không thể vui Niết Bàn, chẳng trói buộc, chẳng xa lìa, chẳng mất, chẳng yên, chẳng có trí tuệ, chẳng thành đẳng giác, chẳng chứng Niết Bàn. Do vậy sự tìm cầu nầy có thể dẫn tất cả chúng sanh vào sanh già bệnh chết sầu than lo buồn khổ não. Như vậy cho nên đây gọi là phi thánh tìm cầu. Như Lai cuối cùng rồi chẳng xưng dương tán thán. Chỉ hay khuyên bảo cho biết và làm cho xa rời.

Thế nào gọi là tìm cầu thánh hạnh ? Nghĩa là có một loại về pháp già có thể tự biết là ta đã già, phải tự biết như thật là mình đã quá già, tìm cầu cứu cánh, không già thì không có vô thượng an lạc Niết Bàn. Cho đến pháp bịnh, có thể tự biết mình đã có bịnh, hay biết bịnh như thật, tìm cầu cứu cánh, không bịnh thì không chứng vô thượng Niết Bàn. Cho đến pháp chết cũng hay tự biết, mình sẽ phải chết, hay biết như thật về pháp chết, tìm cầu cứu cánh, chẳng chết thì chẳng có vô thượng an lạc Niết Bàn. Cho đến pháp sầu, cũng nên tự biết, ta có pháp sầu, có thể biết pháp sầu như thật, tìm cầu cứu cánh, không sầu thì không chứng vô thượng an lạc Niết Bàn. Cho đến pháp nhiễm cũng hay tự biết ta có nhiễm pháp, hay biết nhiễm pháp như thật, tìm cầu cứu cánh, không nhiễm chẳng có vô thượng an lạc Niết Bàn. Như thế ấy có tên là tìm cầu thánh hạnh. Như vậy tìm cầu, tất cả các Đức Như Lai xưng dương tán thán.

Thế nào là nhân duyên tìm cầu thánh hạnh ? mà tất cả Như Lai đều xưng dương tán thán? Do sự tìm cầu nầy mà gọi là pháp của hiền thánh. Có thể vĩnh viễn ra khỏi, có thể vui thú Niết Bàn, có thể chán có thể lìa, có thể diệt có thể tịnh, có thể được trí tuệ, có thể thành đẳng chánh giác, có thể chứng được Niết Bàn. Do sự tìm cầu nầy có thể siêu tất cả sanh lão bệnh tử sầu than, lo khổ về sanh và không phiền não cho nên như thế là tìm cầu thánh hạnh. Tất cả các Đức Như Lai hay xưng dương tán thán. Cho nên có tên là tìm cầu. Có 2 loại chẳng có 3, cho nên các ngươi phải biết như vậy. Ta nay xa rời như thế nào sự chẳng tìm cầu nơi thánh hạnh? phải như thế mà tìm cầu nơi thánh hạnh. Nầy các Tỳ Kheo! Phải nên hiểu như vậy. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tất cả loài hữu tình

Có hai loại tìm cầu

Chẳng có pháp thứ ba

Nghĩa là Thánh, chẳng Thánh

Chẳng biết già bịnh chết

Sầu nhiễm pháp qua rồi

Lại cầu mong ái nhiễm

Tên chẳng thánh tìm cầu

Nầy tăng nhanh sự khổ

Xa lìa chưa ra khỏi

Từ sanh lại phải sanh

Hoặc cao hoặc nơi thấp

Hay biết già bịnh chết

Sầu nhiễm pháp qua đi

Tìm cầu nơi vắng vẻ

Tên là tìm cầu Thánh

Nầy giảm dần sự khổ

Xa lại chứng Niết Bàn

Hằng an lạc thanh lương

Thường hết sạch sợ hãi

So phi thánh tìm cầu

Chư Phật thường dạy bảo

Đó sanh tử căn bản

Trí giả thường xa lìa

Đây thật tìm cầu Thánh

Chư Phật hằng xưng tán

Đây nổi vui Niết Bàn

Kẻ có trí siêng tu.

Sâu vào nghĩa trước Uẩn Đà Nam viết :

Vì thông đạt luật nghi

Biết lìa, chẳng nơi tịnh

Qua giác ngộ ở yên

Tâm nương vào tầm cầu.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Lược nói hai loại – có loại pháp tự thanh tịnh hay hộ trì thế gian. Thế nào gọi là hai ? Có nghĩa là tàm và quý. Nếu không nương theo hai điều nầy thì không thành pháp tự thanh tịnh. Trong thế gian loài hữu tình tất cả đều thành chỗ uế tạp, giống như bò dê gà heo chó v.v… chẳng biết cha mẹ anh chị em, chẳng biết mô phạm, Thầy Tổ cùng Hòa Thượng v.v… Do điều nầy có hai pháp tự thanh tịnh. Phải ra rời sự uế trược nơi thế gian hữu tình nầy, chẳng phải như gà dê bò heo chó v.v… mà phải biết cha mẹ anh chị em, phải biết mô phạm, Thầy Tổ, Hòa Thượng v.v… cho nên các ngươi nên phải biết. Ta đã thành tựu hai loại tối thắng ấy như thế nào ?

Thứ nhất là xấu hổ về pháp tự thanh tịnh. Nầy các Tỳ Kheo! Phải nên biết rằng như thế đó. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Hai pháp tự thanh tịnh

Hay giữ gìn thế gian

Làm chẳng mất trời người

Nghĩa tàm và hay quý

Nếu không có hai nầy

Đều chẳng rõ tôn ti

Dơ nhớp giống bò dê

Gà heo cùng chó thảy

Do có hai pháp nầy

Hay rõ biết trên dưới

Chẳng giống bò cùng dê

Làm các việc dơ uế

Này những người hiểu biết

Thành tựu hai pháp nầy

Thường hộ trì trời người

Chết chẳng đọa tam đồ

Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Ta vì Như Lai ứng chánh đẳng giác mà lúc chưa thành Phật, còn ở địa vị Bồ Tát đa phần ở yên chẳng tìm đến niềm an lạc tuyệt đối, như vậy ở yên, chẳng tìm đến niềm an lạc tuyệt đối; nên có tên là phần tầm tư thứ nhất. Do ở yên như thế để tu tập cùng với các loài hữu tình lại cũng chẳng làm tổn hại. Do vậy sự tầm tư nầy chứng đắc vô lượng viên mãn phạm hạnh. Hai là khi Như Lai còn ở địa vị Bồ Tát đa phần an trụ nơi xa lìa tầm tư sống an lạc hoan hỷ, như thế ở yên, luôn luôn xa rời tầm tư và sống an lạc hoan hỷ; nên có tên thứ hai là đa phần tầm tư. Do ở như vậy mà tu hành, nương nơi bất thiện pháp, hay xa lìa, do tầm tư nầy mà chứng được căn lành đầy đủ thắng đạo. Ta lúc ấy an trụ như vậy nơi hai loại tầm tư, siêng năng tinh tấn, cho đến tự mình tất cả máu thịt đều đông khô cứng lại, chỉ trừ thân mình và xương cốt, lại chẳng buông lung cho đến chưa biết chưa thấy chưa được, chưa hiểu, chưa chứng mà muốn thấy biết được giải chứng thì ở nơi khoảng giữa chẳng sanh lười biếng, siêng năng tinh tấn chẳng hề lui sụt. Do chẳng buông lung nầy, sự siêng năng tinh tấn nầy, chẳng giải đãi nầy vậy, sẽ chứng được vô lượng chánh đẳng bồ đề. Sớm chứng được vô thượng thanh lương Niết Bàn. Mau chứng được vô thượng nhất thiết tri kiến. Cho nên các ngươi nên biết, ta sẽ vì sao mà an trụ, chẳng hại thường hay an lạc và nhiều phần tầm tư, an trụ xa rời, vui vẻ đa phần trầm tư. Nầy các Tỳ Kheo phải nên học như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Phật lúc còn Bồ Tát

Thường ở yên hai pháp

Nghĩa chẳng hại, xa rời

Vui vẻ và ý yên

Chẳng hại những hữu tình

Tu từ bi hỷ xả

Chứng vô lượng phạm trụ

Đầy đủ chẳng làm khó

Xa rời pháp chẳng lành

Tất cả những phiền não

Chứng được những thiện căn

Đầy đủ đường tốt đẹp

Thường tinh tấn dõng mãnh

Chẳng buông lung mà ở

Chứng vô lượng Bồ Đề

Thanh lương Niết Bàn vậy.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Các Bà La Môn, Trưởng Giả, Cư Sĩ, Sát đế lợi v.v.. đã làm nhiều việc, nghĩa là thí cho các ngươi ví như áo quần, ăn uống, chỗ nằm, thuốc cho người bệnh, nhà ở đồ dùng. Các Tỳ Kheo nên biết! họ đã làm nhiều. Nghĩa là có thể vì họ mà tuyên thuyết chánh pháp; đầu, giữa, cuối phải hay, văn nghĩa rõ ràng, thuần chỉ đầy đủ pháp thanh tịnh tu hành. Điều nầy mà có thể giải thoát pháp sanh, già, bệnh, chết, sầu than, lo buồn, khổ não. Các ngươi nên vì họ mà dùng thuyền pháp, chuyển xe pháp, nương vào lời của Như Lai khuyên tu phạm hạnh, sớm đến nơi vô thượng Niết Bàn. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Xuất gia và cư sĩ

Nương vào nhau mà sống

Do giáo pháp hai nơi

Sớm đến vui Niết Bàn

Xuất gia nương người tục

Được như pháp đồ dùng

Người tục nương xuất gia

Nhờ chánh pháp vi diệu

Hai chúng nương vào nhau

Thọ niềm vui trời người

Độ sanh già bệnh chết

Đến thanh lương Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Hãy nương vào nơi giới có thể tu hai pháp. Thế nào gọi là hai ? Nghĩa là Xa Ma Tha, Tỳ Bát Xá Na. Nghĩa là kẻ tu hành nương vào giới để tu Xa Ma Tha (Chỉ). Tức tu nơi sự dừng lại, làm cho tâm đầy đủ, vì các sự việc mà tu tập tâm nầy. Kẻ tu tập nơi tâm là làm cho đoạn tham dục vậy. Những kẻ tu hành như thế đều nương vào giới, tinh tấn tu hành Tỳ Bát Xá Na (Quán), tức tu như vậy về quán rồi, làm cho trí huệ đầy đủ. Vì vậy phải tu tập quán để có trí huệ. Kẻ tu tập trí huệ như thế vì đoạn sự si mê vậy. Sự tham nhiễm làm tâm dơ, làm cho chẳng giải thoát, si nhiễm làm dơ trí huệ, làm cho chẳng sáng suốt. Nếu xa rời sự tham dục, tâm lành giải thoát. Nếu xa rời sự si mê thì trí lành giải thoát. Nếu y như thế nơi hai loại này thì giải thoát, có thể chánh tri kiến cho đến được, gặp và chứng. Ta nói đây là tâm lành giải thoát vậy, là huệ lành giải thoát, gặp một sự tu tập tối thượng trượng phu. Nầy các đệ tử của ta! Đây là những kẻ chứng đạo nhờ vào tâm giải thoát. Nếu mà xem nhẹ việc nầy thì chẳng phải do nhân duyên nầy mà phát sanh nhiều loại chẳng nhẫn, chẳng tin, làm cho tâm bị tổn hoại. Vì sao vậy ? Vì có thể thấy được sự sai trái nơi kẻ kia có tội hay làm cho họ không tổn hại. Nầy các Thánh đệ tử! Kẻ có tâm giải thoát chơn chánh như thế thì sẽ được tán thán bằng những lời đẹp, cung kính lễ bái cúng dường; chẳng phải do nhơn duyên nầy phát sanh những loại hoan hỷ, xưng tụng về tâm tốt đẹp. Vì sao thế ? Vì lẽ hay thấy rõ mà tán thán sự đẹp đẽ ấy. Nơi kẻ kia có phước, không phải vô ích. Nếu mà như vậy thì gọi là được tâm bình đẳng ở trong đời, chẳng lo chẳng sợ, an ổn tự tại. Cho nên các ngươi nên biết như vậy. Ta nay vì sao mà ở nơi giới để tu chỉ và tu quán ? Các Tỳ Kheo nên biết như thế mà học. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nương vào nơi giới luật

Tu vô tội chỉ quán

Tất giúp căn và ý

Chứng cam lồ Niết Bàn

Tu chỉ làm tâm điều

Tâm điều lìa tham dục

Lìa dục chứng giải thoát

Chứng giải thoát tâm bình

Tu quán làm huệ sáng

Huệ sáng diệt si ám

Diệt ám chứng giải thoát

Giải thoát, tâm bình đẳng

Nên các Thầy Tỳ Kheo

Tinh tấn chớ phóng dật

Thường nương tựa vào giới

Tu chẳng tội, chỉ quán.

Ta từ Đức Thế Tôn đã từng được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết Tu học thắng lợi, nương nơi Như Lai tu hành phạm hạnh, huệ là đầu mối, giải thoát kiên cố, niệm tối quan trọng, nếu có kẻ thành tựu tu học thắng lợi, nương nơi Như Lai tu hành phạm hạnh, huệ là đứng đầu, giải thoát kiên cố, niệm tối quan trọng thì kẻ kia cuối cùng chẳng nhiễm tâm nầy vào mùi vị, sắc đẹp lẫn tham ái. Lại cũng chẳng làm cho tâm nầy đắm nhiễm vào vị, thanh, hương, xúc pháp của sự tham ái. Khi tâm đã chẳng tham luyến bị ràng buộc rồi thì chẳng có sự đắm trước nơi sắc tướng của thức và cũng chẳng làm cho thức đắm trước vào thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Ở nơi hai quả tùy chứng một quả. Nghĩa là hiệu pháp chứng được Hữu Dư Y Bát Niết Bàn. Hoặc bất hoàn quả. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Kẻ tu học thắng lợi

Nương Phật tu phạm hạnh

Huệ chính là dẫn đầu

Và giải thoát ngục tù

Niệm cũng tối quan trọng

Hai quả tùy chứng một

Nghĩa hiện pháp Niết Bàn

Cùng hay, bất hoàn quả

Do huệ làm đầu đàn

Tham chẳng dính tâm nầy

Không bởi sắc cùng duyên

Tương tục nơi ý thức

Hiếu thắng lợi đầy đủ

Sanh thắng định trí huệ

Tận sanh già cùng chết

Chứng Hữu Dư Y Cảnh

Phải siêng tu giới định

Sanh vi diệu trì tuệ

Hết sanh già bệnh chết

Ở nơi pháp luật ta

Thường hay chỉ buông lung

Định mất, ma quân hiện

Làm cho tất cả khổ

Ta từ nơi Đức Thế Tôn đã được nghe như thế này. Các Tỳ Kheo nên biết! Tất cả thế gian xấu xa chẳng có pháp lành thì tất cả đều vô minh. Vì điều nầy dẫn đầu mà làm cho sanh trưởng, vì chẳng xấu hổ, điều nầy hỗ trợ phía sau; nên đã làm cho tổn giảm. Vì sao thế? Vì các thú có sanh lão bệnh tử, sầu thán, khổ, nhiệt não v.v… Vì tất cả đều dùng vô minh làm căn bản mà sanh trưởng vậy. Khi sanh trưởng rồi y vào nơi đó mà phát khởi tất cả những việc ác, làm việc chẳng lành. Khi ác pháp sanh vì do chẳng xấu hổ, cả việc chẳng thay đổi. Vì chẳng hối quá nên sanh tổn giảm. Ở trong tất cả thế gian pháp thanh tịnh đều do trí tuệ dẫn đầu mà sanh trưởng, có tàm có quý. Do sự hỗ trợ đó mà chẳng tổn hại. Vì sao thế ? Vì phía trước sáng, tàm quý đứng sau, hay xa lìa vĩnh viễn, các thú có sanh lão bệnh tử, hay siêu tất cả sầu than ưu khổ phiền não v.v… hay gặp chân lý, hay được cam lồ, hay chứng Niết Bàn; cho nên các ngươi nên học như vậy. Ta nay vì sự đoạn diệt vô minh, phát khởi trí huệ, xa rời tất cả các thú, có sanh lão bệnh tử, xa rời tất cả sầu thán ưu khổ phiền não v.v… gặp được hơn lý, được có cam lồ, chứng được Niết Bàn. Nầy các Tỳ Kheo nên biết! nên biết như vậy. Lúc ấy Đức Thế Tôn vào sâu nơi nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Đời nầy và đời sau

Sanh già cùng bệnh chết

Tham ái cùng phiền não

Do vô minh làm gốc

Vô minh chỗ tối tăm

Làm cho mãi sanh tử

Qua lại thú cao thấp

Đầu mối do vô minh

Cuối cùng chẳng tàm quý

Sanh trưởng các pháp ác

Tùy sanh vào ác thú

Cho nên phải siêng năng

Lìa tham ái ngu si

Phát khởi trí huệ sáng

Đoạn sanh tử khổ gốc

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác đều thương thế gian mà ra đời. Vì muốn xa lìa bỏ đi hai pháp, chuyển thành hiền thánh của vô thượng pháp luân và tất cả thế gian đều có pháp môn vi diệu, hoặc Bà La Môn, Thiên ma phạm v.v… chưa hề có thể như hai pháp luân. Thế nào là hai pháp ? Một là vô minh, hai là ái dục. Tất cả Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác thương xót thế gian mà ra đời, đều vì xa rời từ bỏ hai pháp mà chuyển pháp luân để trở nên hiền thánh. Nói rộng cho đến kẻ chưa thể cũng có thể nghe pháp và nếu có thể vĩnh viễn xa rời bỏ tất cả vô minh cho đến ái dục, làm cho điều nầy hết đi không còn nữa và có thể làm cho các phiền não vĩnh viễn được đoạn trừ các tạp nhiễm. Vì vậy có tên là ra khỏi sự đối kháng, vượt lên những tường ngăn, phá đi tất cả sự ràng buộc của ngoại đạo, nên có tên là hiền thánh. Có tên là cờ chánh pháp. Đó là Đại Sa Môn, đó là Bà La Môn, đó là trí tuệ chơn chính, đó là sự gội rửa chân chính, đó là kẻ trí chơn chánh, đó là sự điều thuận đến nơi điều thuận, có tên là phước điền ở đời. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Vô thượng chánh đẳng giác

Ông chủ ở trong đời

Đại hùng đại trượng phu

Làm xa rời tên độc

Thương xót các thế gian

Vì dứt bỏ hai pháp

Đó vô minh và ác

Chuyển vô thượng pháp luân

Đó là khổ, nhơn khổ

Những khổ nầy đoạn diệt

Làm tám đường chánh đạo

Vui cảnh diệt Niết Bàn

Người trí nghe pháp nầy

Lòng tin chắc kiên cố

Đạt các pháp ngay thẳng

Đoạn vô minh và ái

Vô minh và ái trừ

Các tạp nhiễm đều diệt

Đến điều thuận đất lành

Tên là ruộng phước tốt

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Có hai việc khổ khó có thể nhẫn được, thứ nhất là cạo tóc, thứ hai là thường cầu đói khát. Vì sao vậy ? Vì thế gian nhiều giận hờn và khó khăn, nên có lời nguyện rằng, nguyện được nghèo khó, cắt bỏ râu tóc, ăn mặc đơn giản, tay cầm bình bát, từ nhà nầy đến nhà khác, sống đời xin ăn ở nơi những người thí chủ nam nữ, muốn giữ được pháp nầy, phải là người xuất gia, chẳng làm kẻ giàu có mà tham lam, chứa nhóm sự lo sợ với mọi người. Chẳng sợ chẳng lo mà bỏ đi nhà cửa, cũng chỉ vì mục đích là thoát ly sanh lão bệnh tử, sầu than ưu khổ, nhiệt não v.v… Cũng chỉ vì diệt trừ những nỗi khổ của các uẩn. Các đệ tử của ta nên cầu những việc như thế, chánh tín xuất gia vì lợi ích cho kẻ khác nên gìn giữ pháp nầy. Hoặc đã xuất gia rồi mà chưa trải qua, sanh tâm ngã mạn, lười biếng, giãi đãi, sống trong thụt lùi, làm mất chánh niệm,chẳng có chánh kiến, tâm loạn chẳng định, nương theo các căn mà tham lam nhiều thứ, tâm bị tham hận, ngu si vô trí, chìm đắm nơi dục lạc, hư vọng tư duy, phá các giới cấm, sa môn hư thật mà tự xưng là Sa Môn, chẳng đúng phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh. Bên trong chiều theo như cỏ như trùng bị đồ che khuất, như tiếng chó sủa, chứa toàn chuyện ác. Vừa chứa việc lành vừa làm không biết bao nhiêu là chuyện ác. Cũng giống như có người từ nơi tối. Từ chỗ chống đối sâu và chống đối. Từ chỗ sợ hãi đến chỗ sợ hãi. Ta nói đây là những người xuất gia si mê. Lại cũng như vậy cũng giống như một cây cả hai đều cháy, ở giữa mục nát. Nếu ở giữa làng hay ở nơi vắng vẻ cũng đều vô dụng. Ta nói như thế là người xuất gia ngu si. Lại cũng như vậy làm cho mất sự tin tưởng nơi người tại gia, chẳng phải là kẻ Sa Môn xuất thế, chẳng lợi ích gì cả. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Kẻ xuất gia phá giới

Cả hai đều chẳng thành

Làm mất lòng tại gia

Và hủy hoại Sa Môn

Thà nuốt hòn sắt nóng

Và ngậm nước đồng sôi

Chẳng thọ của tín thí

Mà phạm điều giới cấm

Nếu ai phạm giới cấm

Chẳng hối chẳng xấu hổ

Mà thọ của cúng dường

Chắc chắn sanh địa ngục

Hỡi những người có trí

Nên giữ gìn tịnh giới

Nếu mà phạm giới cấm.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trên đời có hai loại Bổ Đặc Già La (Pudgala = chúng sanh) hay giữ gìn tăng trưởng hoặc ác thú địa ngục. Đó là pháp lành và pháp chẳng lành. Thế nào là hai loại Bổ Đặc Già La ? Loại chúng sanh thứ nhất hay phạm tịnh giới, chẳng phải là Sa Môn mà tự xưng là Sa Môn, chẳng phải phạm hạnh mà tự xưng là phạm hạnh, bên trong thì thuận theo sự dơ uế như côn trùng, đứng đi như chó sủa, bụng chứa những điều ác, có ai sửa sai thì chẳng theo ý mà cũng chẳng làm, chỉ tăng trưởng tội ác. Loại chúng sanh thứ hai là đầy đủ tịnh giới, chẳng hề trái phạm, tinh tấn tu hành, thanh bạch phạm hạnh, Tỳ Kheo có đức, không có căn nào là không phạm hạnh, chẳng hề phỉ báng làm mất uy đức. Đó là hai loại chúng sanh, thường hay tăng trưởng và hay vào địa ngục. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Có hai loại chúng sanh

Sanh trưởng nơi nghiệp ác

Là hay phạm tịnh giới

Cũng phỉ báng người hiền

Như thế hai loại người

Có tên là đồ giặc

Hiện tại người chẳng tin

Thọ khổ nơi vị lai

Phải nên chớ buông lung

Thọ giữ giới thanh tịnh

Chẳng hủy báng người khác

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong đời có hai loại chúng sanh, ân sâu khó báo. Thế nào là hai ? Đó là cha mẹ. Giả sử có người một vai cõng cha, một vai cõng mẹ cho đến nơi đâu cũng không ngừng nghỉ, lo lắng đồ ăn đồ mặc, cho đến khi bịnh lo cho thuốc men và những vật dụng khác cũng chưa thể báo ân sâu của cha mẹ được. Vì sao vậy ? Vì cha mẹ đối với con cái, ân thật sâu xa, bởi vì sanh sản lòng từ nuôi con, nuôi nấng ẵm bồng, cho đến khi lớn lo cho đủ thứ nhu cầu của thân tâm, dạy cho những điều cần học của cuộc đời, tâm thường muốn cho con xa khổ được vui, chưa bao giờ ngơi nghỉ như bóng theo hình. Cha mẹ đối với con cái tức như vậy đó, cho nên gọi là ân sâu, làm sao báo được ? Nếu cha mẹ chưa có lòng tin thanh tịnh nơi Phật Pháp Tăng thì người con phải phương tiện khuyên thỉnh tán dương, khiến cho sanh tín tâm. Nếu chẳng may cha mẹ chẳng giữ giới thanh tịnh thì người con phải phương tiện thị hiện khuyên răn, tán dương ca ngợi làm cho cha mẹ thọ trì thanh tịnh cấm giới. Nếu cha mẹ chẳng nghe hiểu biết thì người con phải phương tiện thị hiện khuyến thỉnh, tán dương làm cho cha mẹ thường nghe chánh pháp của chư Phật. Nếu cha mẹ vì tánh tham lam chẳng hay bố thí, thì người con phải phương tiện thị hiện khuyến thỉnh, tán thán làm cho bố thí. Nếu cha mẹ vì tánh u tối chẳng có trí tuệ, người con phương tiện thị hiện khuyến thỉnh, tán dương làm cho tu theo trí tuệ. Người con kia mới có tên là chơn thật báo ân cha mẹ. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ơn sâu dày khó báo

Đó là cha và mẹ

Hay sanh trưởng ở đời

Giả sử nơi hai vai

Mãi cõng cha cùng mẹ

Thường cúng dường cung kính

Đó chưa gọi báo ân

Cha mẹ ở thế gian

Hay dạy bảo cho mình

Lòng từ bi lợi tha

Như bóng cùng với hình

Nếu cha mẹ chẳng có

Tin giới và trí tuệ

Người con khiến cho tin

Đó báo ân chơn thật

Cung kính và tùy thuận

Trong hiện đời an lạc

Làm cho tu tịnh giới

Ta từ Đức Thế Tôn nghe được như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trên đời có hai loại chẳng dối lừa. Thế nào là hai ? Nghĩa là nghiệp và trí. Nếu có loài hữu tình huân tập các nghiệp, đến lúc thành thục, hoặc chưa hiện ra; nhưng cuối không mất đi. Nếu các hữu tình phát sanh trí tuệ, tất cả phiền não, nếu chưa đoạn trừ, cuối chẳng xả được. Như thế có tên là hai loại chẳng dối lừa ở trên đời. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Hai pháp không lừa dối

Chư Phật đều nói đến

Nghĩa huân tập nên sanh

Các nghiệp và trí tuệ

Dị thục quả chưa sanh

Các nghiệp vẫn chưa hết

Phiền não nếu chưa đoạn

Trí cuối chẳng xa rời

Nghiệp là nhơn sanh tử

Trí vì mất, căn cảm

Cho nên phải tu trí

Chắc chắn dứt hết khổ

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe rằng. Các Tỳ Kheo nên biết! Có hai loại Bổ Đặc Già La (chúng sanh) hay sâu vào việc lễ bái cúng dường, có tâm tôn kỉnh, thường hay ở gần. Sao lại có hai ? Đó là cha mẹ. Nếu có loài hữu tình từ nơi cha mẹ, thân tâm tôn trọng, lễ bái cúng dường, gọi tâm kỉnh ái, thân cận mà ở, sanh vô lượng phước. Nầy các người trí! Hoặc cùng xưng tán, tên tuổi đều nghe, ở chúng chẳng sợ, sau chẳng bị rầu, không hận. Khi thân hoại mệnh chung, chết rồi sanh vào cảnh lành, hoặc sanh nơi cõi trời. Những loài hữu tình, nên nơi cha mẹ có tâm tôn trọng, lễ bái cúng dường, có tâm kính ái, thường hay ở gần, cha mẹ với con có ân sâu xa, cho nên sinh sản, tâm từ cho bú, tắm rửa nuôi dưỡng, làm cho lớn khôn cung cấp đủ loại cho thân tâm đầy đủ, dạy dỗ cho nên người trong cuộc đời. Tâm thường muốn cho con chẳng khổ được vui, chẳng hề quên lãng như bóng theo hình. Đó là cha mẹ, nên kính trọng ân sâu nầy, ở yên gần gũi. Hoặc có loài hữu tình kính thương cha mẹ, thân cận gần gũi mà ở gần cha mẹ rồi sanh tâm từ bi lo cho cha mẹ, thọ nhận những điều lợi ích, ngăn những việc ác, khuyên làm những việc lành, vì sự trong sạch, sống đời ngay thẳng cung cấp những trân bảo, đồ ăn; trong đời trời người hoặc cùng xưng tán cung kính cúng dường, thân cận bảo bọc, làm cho chẳng sầu não. Cho nên loài hữu tình nầy đối với cha mẹ thường hay tôn trọng lễ bái cúng dường, do vì có tâm thương kính, nên thân cận gần gũi. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Những người có phước đức

Nên tôn trọng mẹ cha

Lễ bái cùng cúng dường

Cung kính sống gần gũi

Thế gian người ấy trí

Cung kính nơi cha mẹ

Thường hay tu cúng dường

Thường sanh tâm hoan hỷ

Cha mẹ ở nơi đời

Ơn sâu khó báo đáp

Ngăn việc ác chẳng làm

Thọ lợi khuyên tu thiện

Cùng vợ con tài sản

Lòng từ đem giúp đỡ

Đó là tu cúng dường

Vô lượng phước cùng sanh

Hiện đời được Thanh Văn

Hoặc cúng dường cung kính

Chết sanh vào cõi trời

Thọ diệu lạc vô cùng

Nếu muốn sanh trời người

Thọ ngũ dục vui sướng

Giống như Thiên Đế Thích

Nên cúng dường cha mẹ

Sâu vào nghĩa trước nầy Uẩn Đà Nam viết:

Lành tìm học giới đức

Vô minh dùng huệ trừ

Khổ cũng phải báo ân

Chẳng khinh chê cha mẹ.

Bổn Sự Kinh – Quyển thứ 4

Đức Quốc, thành phố Hannover, tại Chùa Viên Giác, Tỳ Kheo Thích Như Điển dịch từ Hán Văn sang Việt Văn vào mùa An Cư Kiết Hạ năm 2002, đời Thủ Tướng Schröder.

Quyển sáu

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Các loài hữu tình, hỗ tương gần gũi, chẳng khác nhau lắm. Có nhiều loại hữu tình mạnh yếu khác nhau, cùng với các loại ấy vẫn có những sự thân cận, tham nhiễm các việc cũng như những điều tốt đẹp cao cả của các loài hữu tình, cùng với những điều tốt đẹp cao cả của những loài hữu tình ráng lại gần gũi và tham nhiễm với nhau. Ở trong quá khứ có những loài hữu tình ở cõi khác cũng đã từng thân ái, chẳng có sai biệt, cũng đã cao thấp trong nhiều loại hữu tình khác nhau cũng như những loại hữu tình mạnh yếu khác nhau, cũng đã gần gũi nhau, cũng đã tham nhiễm với nhau cùng với những thắng giải của nhiều loại hữu tình khác nhau. Cùng với những loại hữu tình cao cả, rồi đã có những gần gũi, tham nhiễm khác nhau. Ở thời vị lai những loài hữu tình ấy cũng sẽ thân ái gần gũi, chẳng sai khác nhau. Cũng có những yếu kém trong nhiều loại hữu tình nầy sẽ thân cận, gần gũi, nhiễm ô cùng với các diệu thắng giải của các loài hữu tình khác nhau tương lai sẽ thân cận tham nhiễm nhiều sự việc. Tại thế giới hiện tại nầy có những loài hữu tình hiện tại đang thân cận ái nhiễm, chẳng có sai khác cùng với các yếu kém của loài hữu tình và những yếu kém khác nhau của loài hữu tình đó hiện tại thân cận, tham nhiễm cùng các diệu thắng giải chủng loại hữu tình. Cùng với những loài hữu tình cao cả nầy hiện tại thân cận gần gũi tham nhiễm với nhau cho nên Tôn Giả Kiều Trần Như cùng với đồng loại có 60 người cùng tập họp lại với A Nhã Kiều Trần Như tu khổ hạnh như Ma Ha Ca Diếp cùng với đồng loại có rất nhiều người tập họp lại cùng tu các diệu hạnh.

Xá Lợi Tử và cùng với đồng loại có rất nhiều người đã tập họp lại cùng tu phép đại trí tuệ.

Đại Mục Kiền Liên cùng với đồng loại có rất nhiều người cùng tập họp lại tu đại thần thông.

Câu Sắt Chỉ La cùng với đồng loại có rất nhiều người cùng tụ tập lại tu vô ngại giải.

Mãn Từ Tử cùng với đồng loại có rất nhiều người cùng tập họp lại để nói chánh pháp.

Già Đa Hành Na cùng với đồng loại rất nhiều người cùng tập trung lại tu phép giải thích kinh.

Tôn Giả Thiện Hiện cùng với đồng loại rất nhiều người tập trung lại cùng tu hạnh không tranh cãi khi ở chung.

Lôi Lệ Phạt Da cùng với đồng loại có rất nhiều người tập trung lại tu hạnh tĩnh lự.

Ưu Ba Ly cùng với đồng loại có rất nhiều người tập trung lại hạnh giữ gìn giới luật.

Vật Lực Sĩ Tử cùng với đồng loại, có rất nhiều người tập họp lại cùng tu hạnh vì chư tăng mà làm chỗ ngồi nằm.

Tôn Giả Bất Diệt cùng với đồng loại, có rất nhiều người, cùng tu hạnh tịnh thiên nhãn.

Tôn Giả A Nan cùng với đồng loại có nhiều người tập họp lại cùng tu hạnh đa văn.

La Hầu La cùng với đồng loại có rất nhiều người tập trung lại cùng tu hạnh vui trì giới.

Đồng Tử Ca Diếp cùng với đồng loại có rất nhiều người cùng tập trung lại đồng tu xảo biện thuyết.

Kiếp Tì Nô cùng với đồng loại có rất nhiều người tụ tập lại cùng tu hạnh giáo huấn giáo thọ cho các Tỳ Kheo.

Tôn Giả Nan Đà cùng với đồng loại có rất nhiều người cùng tập họp lại tu hạnh giáo huấn giáo thọ cho các Tỳ Kheo Ni.

Ưu Bà Tây Na cùng với đồng loại có rất nhiều người cùng tụ tập lại tu hạnh đầy đủ oai nghi.

Nữu Mỹ Nan Đà cùng với đồng loại có 60 người tập trung lại tu hạnh đoan nghiêm.

Ngu Nhơn Thiên Thọ cùng với đồng loại có 60 người tập trung lại cùng tu hạnh Bột Nghịch Ác.

Như vậy nên biết, trong các loài hữu tình hỗ tương thân cận, chẳng có sai khác, cùng với cao thấp các loài hữu tình, cùng với các loài hữu tình yếu kém lại gần gũi thân cận, tham nhiễm nhiều việc cùng các thắng giải của các loài hữu tình, cùng với các điều đẹp đẽ khác nhau của các loài hữu tình lại gần gũi thân cận, tham nhiễm mọi việc. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Như cây cỏ rừng già

Giống như gió lửa vậy

Vật các thứ cùng chung

Chúng hữu tình cũng vậy

Người ngu với người ngu

Kẻ trí thân cận trí

Kẻ bạn với người trí

Là những người có trí

Như đập bỏ bùn nhơ

Tức chìm vào biển lớn

Thân cận kẻ giải đãi

Nhất định mất sáng suốt

Nên muốn bỏ giải đãi

Vui cảnh chẳng lười biếng

Thân cận người có trí

Thường hay lìa các khổ

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Có 3 nhân và 3 duyên có thể cảm được về sau. Thế nào là ba ? Đó là vô minh chưa đoạn diệt, ái chưa bỏ, nghiệp chưa tiêu. Do nhân duyên nầy mà có thể thọ thân đời sau. Cho nên nghiệp là mảnh ruộng tốt, thức là hạt giống và ái là sự thẩm thấu, vô minh, vô trí, vô liễu, vô kiến là những loại chứa giữ và nương vào thức để ở muốn sắc có sắc, hoặc nơi vô sắc, muốn tội làm xấu, sắc ấy ở trong, vô sắc vi diệu. Nếu nghiệp ở dục giới, hoặc dị thục quả, chẳng có nơi hiện tại, chẳng thể cho biết. Nhưng mà dục nầy do tại nghiệp ở dục giới. Cảm dị thục quả ở nơi hiện tại cho nên mới hiện ra. Đây gọi là dục. Đương ngay lúc ấy, nghiệp là ruộng tốt, thức là giống lành, ái là thẩm thấu, vô minh, vô trí, vô liễu, vô kiến là nơi chứa chấp. Nương vào thức để ở, muốn sinh vào nơi thấp; hoặc nghiệp ở sắc giới cũng cảm dị thục quả, chẳng phải hiện tại, chẳng thể bày ra, cái nầy có sắc, do sắc giới nghiệp cảm dị thục quả mà nơi hiện tiền có thể hiện ra cho nên có sắc. Đương ngay lúc ấy nghiệp là ruộng tốt, thức là giống tốt, ái là thẩm thấu, vô minh, vô trí, vô liễu, vô kiến là nơi chứa giữ. Thức ở yên nơi ấy, sắc ở nơi ấy. Nếu chẳng có sắc nghiệp, cảm dị thục quả, chẳng phải trước mắt, chẳng thể thí thiết, vì không thành có, do nghiệp vô sắc nầy mà cảm nên dị thục quả ở nơi hiện tiền, cho nên thí thiết làm vô sắc có. Đương ngay lúc ấy nghiệp là ruộng tốt, thức là hạt giống, ái làm thẩm thấu, vô minh, vô trí, vô liễu, vô kiến là nơi chứa đựng, thức là nơi an trụ, nơi diệu vô sắc. Các Tỳ Kheo nên biết! do sự việc viễn ly mà xa rời nơi dục. Do vô sắc mà xa rời cõi sắc. Do sự đoạn diệt mà xa rời tất cả. Có là có khởi, suy nghĩ duyên sanh. Nầy các Tỳ Kheo! nên dùng trí tuệ như thật mà quan sát để xa rời sự ham muốn, nên dùng trí tuệ chơn thật mà quan sát để xa rời sắc có và sắc không. Vì sao thế các ngươi ? phải nên dùng trí tuệ chơn thật mà quan sát để xa rời sự ham muốn. Nghĩa là lìa những sự ham muốn ác và bất thiện, có tầm có ti, ly sanh hỉ lạc, an ổn đầy đủ, tối sơ yên lặng lại hay dùng trí tuệ chơn chánh như thật mà quan sát. Trong đó có sắc, thọ, tưởng, hành, thức như thế làm pháp tánh. Tất cả đều vô thường, tất cả đều khổ, như bịnh, như tật, như trong tên độc, có não, có hại, có sợ, có sai, có hờn, có ghét, nhanh chóng bại hoại, nhiều tật bệnh, nhiều tai ách, hư ngụy chẳng thật, lìa tan vô ngã, chẳng có tin tưởng, như thế các ngươi phải nên chánh niệm như thật tùy theo đó mà quan sát để xuất ly những sự ham muốn. Vì sao thế các ngươi ? phải nên dùng trí tuệ chơn chánh theo đó mà quán như thật, xa rời sắc hữu. Nghĩa là qua khỏi tất cả sắc tưởng. Mắt có đối với sự tưởng tượng; chẳng có suy nghĩ nhiều loại khác nhau với tư tưởng, đầy đủ ở yên, vô biên hư không, không vô biên xứ, có thể dùng trí tuệ chơn chánh như thật mà tùy theo đó để quan sát. Ở trong ấy có thọ, tưởng, hành, thức, như vậy làm pháp tánh. Tất cả đều vô thường, tất cả đều khổ, như bịnh như tật, như ở trong tên độc, như não như hại, có sợ có sai, có lo có nghĩ, nhanh chóng bại hoại, nhiều tật bệnh, nhiều tai ách, hư ngụy chẳng thật, ly tán vô ngã, chẳng thể tin tưởng, như thế các ngươi nên dùng trí tuệ để quán sát như thật, để xa rời sắc hữu. Vì sao thế các ngươi ? Phải nên dùng chánh huệ như thật để quan sát, để xa rời sắc hữu. Nghĩa là chánh liễu tri, đó là tịch tịnh, là vi diệu. Nghĩa là lìa khỏi kiêu mạn, tức những khát ái, diệt A Lại Da, đoạn các đường đi, không vô sở đắc, ái tận lìa dục, tịch tịnh Niết Bàn. Như thế các ngươi nên dùng trí huệ chân thật tùy theo đó mà quan sát. Lìa khỏi sắc hữu. Nếu mà như vậy mà dùng trí huệ để quan sát thì xa lìa 3 cõi hữu, tức là cõi dục, cõi sắc và vô sắc, hay xa lìa. Khi đã xa lìa rồi thì hay ly dục. Khi ly dục rồi thì có thể được giải thoát. Khi đã được giải thoát rồi thì có thể tự biết lấy việc ta đã hết sanh, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau nữa. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Dùng chánh huệ mà xem

Tướng xa rời ba cõi

Hay dừng tất cả hành

Chứng tối thượng Niết Bàn

Rồi giải thoát các lậu

Lành tu tập thiền định

Giữ gìn thân sau rốt

Hàng phục những loài ma

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết về 3 nhân và 3 duyên làm cho các loài hữu tình hay cầu lợi dưỡng mà sanh ra ngu si. Thế nào là ba ? Thứ nhất là tham dục làm nhân làm duyên, làm cho các loài hữu tình hy vọng tham cầu lợi dưỡng sanh ra nhiều ngu si. Hai là đắm trước làm nhơn làm duyên, làm cho các loài hữu tình hy vọng cầu có lợi dưỡng, sanh ra nhiều ngu muội. Ba là thọ dụng chẳng thấy quá ngu làm nhơn làm duyên, làm cho tất cả loài hữu tình hy vọng mong cầu để được lợi dưỡng, sanh ra nhiều sự ngu muội. Nầy các Tỳ Kheo! Không nên khởi lên 3 nhân, 3 duyên hy vọng cầu khẩn lợi dưỡng, sanh ra ngu muội. Có các Tỳ Kheo biết đủ việc nầy 3 nhân 3 duyên đến nhà thí chủ cầu phần lợi dưỡng về mình, hoặc ở nhà nầy chẳng sanh xấu hổ, thấy rồi thản nhiên, mặc kệ chẳng hỏi, chẳng chờ đón mời, chẳng chỉ chỗ ngồi, chẳng muốn nói chuyện, kia bị xem ra, liền khởi nghĩ rằng: Ở nhà thí chủ nầy được đối đãi trọng vọng, ai nói ngụy vọng, đều thản nhiên. Do nguyên nhân nầy làm cho người kia, chẳng nhẫn chẳng khỏi, khởi tâm si hại, hoặc phát ra nghiệp xấu cùng nghiệp bất thiện nơi thân ngữ ý. Nhân đây mà đọa vào các ác thú, thọ quả chẳng tốt đẹp. Các Tỳ Kheo nên biết! Ta xem thế gian các loài hữu tình hoặc do lợi dưỡng làm loạn tâm nầy, thân hoại mạng chung đọa vào các ác thú, sanh vào địa ngục, thọ những quả chẳng vui. Ta xem thế gian các loài hữu tình hoặc do tổn hại làm tâm não loạn, thân hoại mạng chung đọa vào ác thú, sanh vào địa ngục, thọ quả chẳng vui. Ta xem thế gian các loài hữu tình hoặc do lợi dưỡng và bị tổn hại làm não loạn tâm nầy, khi thân hoại mệnh chung bị đọa vào ác thú, sanh nơi địa ngục, thọ quả chẳng vui. Cho nên kẻ ngu si phàm phu bị điều lợi dưỡng trước phá màn che nầy và khi đã phá màn ấy rồi lại phá luôn lớp da. Khi đã phá lớp da rồi lại phá luôn thịt. Khi đã phá thịt rồi lại cắt đứt những mạch máu. Khi cắt đứt mạch máu rồi lại phá luôn đến xương. Khi đã phá xương rồi lại làm thương tổn đến não sau đó mới dừng, cho nên các ngươi nên biết rằng ta vì sao mà không bị lợi dưỡng làm não loạn tâm nầy ? Ta vì sao mà chẳng bị sự tổn hại làm rối loạn tâm nầy ? Ta vì sao mà chẳng bị sự lợi dưỡng và sự tổn hại làm não loạn tâm nầy ? Chẳng nhàn rỗi, khuyên tu thánh hạnh, mau chứng được vô thượng an lạc Niết Bàn. Nầy các Tỳ Kheo! nên biết như thế. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Do ba loại nhân duyên

Hy vọng cầu lợi dưỡng

Hoại nhiều loại công đức

Lại mất quả trời người

Các người nghe kẻ sáng

Gặp lợi dưỡng tổn hại

Tâm nầy vẫn ở yên

Chẳng động như núi lớn

Thường yên ổn an nhiên

Chánh quán các nghĩa pháp

Tu sâu rõ tri kiến

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nơi cõi dục giới lược nói có 3 loại. Ở nơi ấy tuy có phước lớn; nhưng phải vì dục mà sau khi chết bị luân hồi, chẳng thể ra khỏi. Cho nên khi bị sanh vào xứ kia, do lòng ham muốn làm căn bản ở cảnh giới ấy vậy. Sao lại có 3 loại ? Một là lòng dục ở cõi thiên, hai là lòng dục ở cõi hóa lạc thiên, ba là lòng dục ở cõi Tha Hóa thiên. Đây là 3 loại dục nơi cõi dục giới. Ở nơi ấy tuy có tích tụ phước đức để thọ các dục lạc; nhưng vẫn còn sanh tử luân hồi, chẳng thể ra khỏi, cho nên bị sanh vào xứ đó. Đây là do lòng dục mà sanh vào cảnh giới ấy vậy. Các Thánh đệ tử của ta ở nơi 3 cõi dục giới nầy như thật mà xem thì có rất nhiều người khờ cho nên mới bị nhiễm mà sanh ra chán ghét. Khi chán ghét rồi muốn lìa ham muốn, khi lìa ham muốn rồi thì có thể giải thoát. Khi giải thoát rồi thì có thể biết được ta việc sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ sanh nữa. Lúc ấy Đức Thế Tôn muốn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Dục giới có ba loại

Nơi ấy thọ dục lạc

Vì dục ở vui yên

Tha hóa tự tại thiên

Sanh như vậy ba cõi

Tuy có nhiều phước báu

Mà sanh tử luân hồi

Chẳng thể sanh lên trên

Cứ ở mãi cõi dục

Nếu biết được quá khờ

Bỏ người trời các thú

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong đời cũng có một loại ác Tỳ Kheo thành tựu được 3 pháp giống như con lừa. Sao gọi là ba ? Nghĩa là có một loại các ác Tỳ Kheo chẳng kính chẳng trọng, chẳng tàm chẳng quý, lười biếng, quên mất. Như thế là một loại ác Tỳ Kheo, đầy đủ thành tựu như thế ba pháp, giống như con lừa. Nghĩa là chẳng có đức mà theo chúng tăng liền nói lời rằng: Hãy nên biết ta cũng là chơn Sa Môn Thích Tử. Rồi thì loại ác Tỳ Kheo nầy chẳng làm tăng trưởng được giới định huệ, như thế mà cùng với chơn thanh tịnh Tỳ Kheo tăng và theo cùng tăng chúng, lại nói lên rằng: Các ngươi nên biết! Ta cũng là chơn Sa Môn Thích Tử, như ở đời có con lừa theo sau bò. Sau đó cao tiếng nói rằng: Ta cũng là bò hiện ra tướng ấy và với thân lừa, đầu tai móng, lông tiếng v.v… tất cả cùng với bò chẳng khác và theo bò. Cao tiếng nói rằng: Ta là bò hiện thân, như thế một loại ác Tỳ Kheo thật chẳng có đức mà theo tăng chúng. Lại xướng lên rằng: Các ngươi nên biết! Ta cũng là chơn Sa Môn Thích Tử. Đây là một loại ác Tỳ Kheo nương vào thôn xóm, tụ lạc mà ở, khi mặt trời lên, sửa sang y phục, tay bưng bình bát vào làng khất thực, chẳng thể giữ gìn thân khẩu ý, chẳng ở nơi chánh niệm, chẳng giữ các căn, làm cho các tịnh tín và các nhà thí chủ vì sự lợi dưỡng mà thân ngồi dưới đất, còn người bạch y ngồi bên trên mà nói pháp. Ta nói rằng những loại Tỳ Kheo như thế là ác Tỳ Kheo giống như con lừa. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Cạo tóc mặc y áo

Tay bưng một bình bát

Thật chẳng giới định huệ

Mà tự nói Sa Môn

Như thế gian có lừa

Cùng bò khác hình tướng

Mà cứ thế theo sau

Tự cho là bò thật

Như thế ác Tỳ Kheo

Thành chẳng ai cung kính

Tuy thường theo kẻ tịnh

Nhưng chẳng chứng Bồ Đề


KINH BỔN SỰ – PHẦN 5

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Sự học có 3 loại, nếu hay ở trong ấy lìa sự buông lung, ngày đêm siêng năng, chẳng bị bận rộn, cũng chẳng ở không, chẳng siêng tu học, chưa sanh các lậu làm cho vĩnh viễn chẳng sanh. Nếu các lậu đã sanh làm cho vĩnh viễn đoạn diệt. Sao gọi là ba ? Một là học tăng thượng giới, hai là học tăng thượng tâm, ba là học tăng thượng huệ. Vì sao có tên là tăng thượng giới ? Nghĩa là các Tỳ Kheo đầy đủ giới pháp, ở yên giữ gìn biệt giải thoát giới, bằng hay hành trì, chẳng cho sơ suất. Ở đó dầu thấy tội nhỏ cũng sinh sợ hãi và thường hay thọ trì tu tập học hỏi, thành tựu thanh tịnh thân ngữ 2 nghiệp, thành tựu tịnh mệnh, thành tựu tịnh kiến, như vậy có tên là học tăng thượng giới. Thế nào gọi là học tăng thượng tâm ? Nghĩa là các Tỳ Kheo hay chánh ly dục và các pháp ác, có xấu có hổ, lìa sanh hỷ lạc, đầy đủ an trụ, tối sơ tĩnh lự, nói rộng cho đến đầy đủ ở yên; Đệ tử tĩnh lự, như vậy có tên là học tăng thượng tâm. Thế nào gọi tên là học tăng thượng huệ ? Nghĩa là các Tỳ Kheo, biết được như thật các chơn lý khổ, các chơn lý tập, các chơn lý diệt và có thể biết được các chơn lý của diệt đế. Như vậy có tên là học tăng thượng huệ. Như thế 3 sự học, nếu ở nơi ấy lìa các buông lung, ngày đêm siêng năng, bặt các duyên ngoài, gặp cảnh không nhàn, chẳng phí tu học, chưa sanh các lậu, làm cho vĩnh viễn đường sanh, nếu lậu đã sanh rồi làm cho tận diệt. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Giới, tâm, huệ, học ba

Người trí hay tu học

Siêng tinh tấn thường yên

Tuyệt chẳng có ngoại duyên

Siêng tu giới tâm huệ

Như cứu lửa trên đầu

Tên gọi thánh học xứ

Đến cái học cuối cùng

Giải thoát chẳng còn gì

Thành thanh tịnh diệu trí

Được bất động giải thoát

Lại xa lìa các lậu

Hết sanh tử khổ ải

Đời sau chẳng còn nữa.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Học có 3 loại. Nếu siêng tu hành chẳng phải không có kết quả mà tất yếu sẽ đến cứu cánh, có thể được cam lồ, có thể chứng được Niết Bàn. Thế nào gọi là ba ? Một là học về tăng thượng giới, hai là học về tăng thượng tâm và ba là học về tăng thượng huệ.

Thế nào gọi là học về Tăng Thượng Giới ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật làm cho tăng thượng. Nếu chẳng giữ gìn thì gọi là không tăng thượng, chẳng có trí tuệ thì chẳng tăng thượng. Ở nơi học giới ít ấy, nếu có phạm lỗi nhỏ tức phải rời bỏ. Cho nên ta nói kẻ đó tuyệt nhiên chẳng phạm vào học giới, chẳng sâu vào sự tàm quý, có thể theo được phạm hạnh thanh tịnh, có thể thành tựu được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi các học xứ ấy có thể giữ gìn giới luật, có thể học hỏi. Người ấy nhất định có thể vĩnh viễn đoạn trừ tam kết. Chứng quả dự lưu, chứng pháp căn bản, hướng tới bồ đề cho đến 7 lần qua lại trời người, diệt hết các khổ như vậy có tên là Tăng Thượng Giới.

Còn thế nào là học về Tăng Thượng Tâm. Nghĩa là các Tỳ Kheo nên biết! lấy Tăng Thượng Giới làm tăng thượng, tôn trọng sự giữ gìn làm tăng thượng; chẳng tụng bát nhã thì chẳng tăng thượng. Ở nơi các học giới dầu nhỏ ấy, nhưng nếu phạm những lỗi nhỏ tức phải xa rời. Vì sao vậy ? Ta nói kẻ ấy cuối cùng chẳng phạm về học xứ, chẳng nhiễm tàm quý, nhất định sẽ hay thuận theo phạm hạnh thanh tịnh. Nhất định có thể thành được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi các học xứ thường hay giữ gìn có thể học, nơi đó nhất định có thể dứt đi 5 phần kết, chứng bất hoàn quả, được pháp bất hoàn, sẽ vào cõi hóa sanh. Đối với thế gian nầy sẽ vào Bát Niết Bàn. Như thế có tên là học Tăng Thượng Tâm.

Thế nào gọi là học Tăng Thượng Huệ ? Nghĩa là các Tỳ Kheo, tôn trọng giới luật, lấy giới làm tăng thượng; tôn trọng sự giữ gìn, lấy đó làm tăng thượng, tôn trọng bát nhã trí, lấy đó làm tăng thượng. Ở nơi ấy là những học xứ nhỏ; nhưng nếu có phạm mà có thể xa lìa được, cho nên ta nói kẻ kia cuối cùng chẳng phạm và các học xứ, chẳng sâu vào tàm quý, nhất định sẽ theo phạm hạnh thanh tịnh, có thể thành được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi học xứ đó có thể ở nơi trí tuệ, có thể trụ vào sự học. Người ấy nhất định có thể đoạn diệt các lậu, được chơn vô lậu, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát. Ở trong pháp ấy đầy đủ an trụ, tự chứng thông huệ, có thể tự hiểu biết về cái sanh của ta đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau, như thế có tên là học Tăng Thượng Huệ. Nếu ở nơi 3 điều nầy mà siêng năng tu học thì ta nói rằng nhất định sẽ chứng quả và sẽ vào cứu cánh, có thể chứng được cam lồ, có thể chứng Niết Bàn. Như thế có tên là học có 3 loại. Nếu có siêng năng tu học, tức có chứng quả, nhất định cứu cánh, có thể được cam lồ, có thể được Niết Bàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Siêng tu Tăng Thượng Giới

Ở giới siêng năng học

Hay chẳng bị ba kết

Sẽ chứng quả dự lưu

Siêng tu Tăng Thượng Tâm

Ở định trụ mà học

Có thể dứt năm kết

Sẽ chứng quả bất hoàn

Siêng tu Tăng Thượng Huệ

Ở huệ ở sở học

Hay dứt tất cả kết

Sẽ chứng quả vô sanh

Ba học chẳng tổn hại

Tất chứng nghĩa đệ nhất

Nên tôn trọng ba học

Được pháp tánh chẳng nghi

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Học có 3 loại, Nếu chỉ tu ít thì sẽ chứng quả ít. Nếu tu đầy đủ thì sẽ chứng quả đầy đủ. Thế nào là ba ? Một là học về Tăng Thượng Giới. Hai là học về Tăng Thượng Tâm và ba là học về Tăng Thượng Huệ.

Thế nào gọi là học về Tăng Thượng Giới ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật lấy giới luật làm Tăng Thượng, chẳng hề giữ gìn gọi là chẳng tăng thượng. Chẳng tụng bát nhã huệ chẳng phải tăng thượng. Ở nơi những học giới nhỏ ấy nếu có phạm nhỏ tức phải xa rời, cho nên ta nói kẻ ấy cuối cùng chẳng phạm về học xứ, chẳng sâu vào tàm quý, nhất định sẽ tùy thuận theo phạm hạnh thanh tịnh, nhất định có thể thành tựu được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi học xứ đó có thể giữ gìn giới luật, có thể học hỏi, người đó nhất định sẽ dứt tam kết, chứng quả dự lưu, được pháp chẳng đọa, quyết định bồ đề cho đến 7 lần trở lại chốn nhân thiên, dứt hết các khổ. Hoặc có thể làm cho trở lại cõi dục giới vì tham si còn mỏng, chứng được quả nhất lai. Ở thời gian nhất lai nầy dứt hết các khổ. Như thế có tên là học Tăng Thượng Giới.

Thế nào gọi là học Tăng Thượng Tâm ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật, lấy giới luật làm tăng thượng, tôn trọng giữ gìn làm tăng thượng; chẳng tôn trọng bát nhã thì chẳng gọi là tăng thượng. Ở nơi những giới nhỏ ấy, nếu có phạm những giới nhỏ tức phải xa rời, cho nên ta nói đối với người đó kết cuộc chẳng phạm vào học xứ, chẳng sâu vào tàm quý, nhất định có thể tùy thuận phạm hạnh thanh tịnh, có thể thành được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi học xứ ấy có thể giữ gìn và định kia sẽ làm cho dứt trừ 5 phần kết, chứng quả bất hoàn, được pháp bất hoàn, sẽ được hóa sanh. Đối với thế gian nầy sẽ có Bát Niết Bàn. Như thế có tên là học Tăng Thượng tâm.

Thế nào gọi là Tăng Thượng huệ ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật lấy giới luật làm Tăng Thượng, tôn trọng giữ gìn nhất định sẽ Tăng Thượng, tôn trọng trí bát nhã làm tăng thượng. Ở nơi những học giới nhỏ ấy nếu phạm những lỗi nhỏ nên phải xa lìa, cho nên ta nói kẻ kia cuối cùng chẳng phạm vào học xứ, chẳng sâu vào tàm quý, nhất định có thể tùy thuận phạm hạnh thanh tịnh, nhất định có thể sẽ thành phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi học xứ ấy có thể sanh Bát Nhã, có thể sanh sở học. Kẻ kia nhất định sẽ vĩnh viễn diệt tận các lậu, được chơn vô lậu, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát. Ở nơi pháp ấy, ở yên đầy đủ, tự chứng thông huệ, có thể hiểu rõ được, ta đã hết sanh, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân nữa; như thế có tên là học Tăng Thượng Huệ. Như thế có tên là học có 3 loại. Nếu tu ít thì quả vị nhỏ. Nếu tu nhiều thì quả vị lớn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ở yên tôn trọng giới

Tên là tu phần ít

Thường siêng năng tu học

Sẽ chứng quả nhỏ trước

Sâu vào nơi thiền định

Cũng có tên tu ít

Cũng sanh quả nhỏ thôi

Sâu vào nơi trí huệ

Gọi là tu viên mãn

Thường siêng năng tu hành

Sẽ chứng quả đầy đủ

Tu ít hay tu nhiều

Tên gọi quả khác nhau

Biết như thế tốt xấu

Nên bỏ nhỏ tu lớn.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! học có 3 loại. Nếu chánh tu tập thì làm cho các loài hữu tình thành hạ trung thượng hiền thánh khác nhau. Thế nào là ba ? Thứ nhất là học Tăng Thượng giới. Thứ hai là học Tăng Thượng tâm và thứ ba là học Tăng Thượng huệ. Vì sao có tên là học Tăng Thượng giới ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật và lấy giới luật làm tăng thượng, chẳng tôn trọng giữ gìn thì chẳng gọi là tăng thượng, chẳng tôn trọng bát nhã thì chẳng gọi là tăng thượng. Nơi đó có các học giới nhỏ, nếu có phạm những lỗi nhỏ mà cầu xa lìa thì ta nói người đó cuối cùng chẳng phạm vào các biên chế của học xứ, chẳng sâu vào tàm quý. Có thể tùy thuận phạm hạnh thanh tịnh, có thể thành tựu được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi các học xứ có thể giữ gìn giới luật, có thể tu học và với người ấy nhất định có thể vĩnh viễn đoạn trừ 3 kết chứng được quả Dự Lưu, chứng được pháp chẳng đọa, hướng đến Bồ Đề chỉ 7 lần qua lại chốn nhân thiên, hoặc thành gia gia, hoặc quả nhất lai, hoặc thành nhất gian. Như thế đó có tên là tăng thượng giới.

Thế nào gọi là học Tăng Thượng tâm ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật, lấy giới luật làm tăng thượng, tôn trọng gìn giữ nên gọi là tăng thượng, chẳng tụng bát nhã chẳng gọi là tăng thượng. Đối với những học xứ nhỏ nếu có phạm những lỗi vi tế, tức có thể ra khỏi. Cho nên ta nói những người ấy cuối cùng chẳng phạm những học xứ đã chế, chẳng sâu vào tàm quý; nhất định có thể tùy tiện phạm hạnh thanh tịnh, có khả năng thành tựu được phạm hạnh thanh tịnh. Hay giữ gìn, có thể học hỏi và với định ấy có thể tận trừ 5 phần kết, chứng quả bất hoàn, chứng pháp bất hoàn, sẽ được hóa sanh. Ở nơi thế gian sẽ được Bát Niết Bàn, hoặc thành Trung Bàn, hoặc thành Sanh Bàng, hoặc có Hành Bàng, hoặc vô hành bàng, hoặc thành thượng lưu, vui sắc cứu cánh. Hoặc vui nơi phi tưởng phi phi tưởng xứ mà vào Bát Niết Bàn. Như thế đó có tên là học tăng thượng tâm.

Thế nào gọi là học Tăng Thượng huệ ? Nghĩa là các Tỳ Kheo tôn trọng giới luật, lấy giới luật làm tăng thượng, tôn trọng giữ gìn làm tăng thượng, tôn trọng bát nhã huệ làm tăng thượng. Ở nơi đó nơi các học giới nhỏ, nếu có phạm những lỗi nhỏ thì có thể ra khỏi, cho nên ta nói với những người kia cuối cùng chẳng phạm vào các học xứ đã chế, chẳng sâu vào tàm quý, nhất định tùy thiện theo phạm hạnh thanh tịnh, nhất định thành được phạm hạnh thanh tịnh. Ở nơi học xứ có thể ở vào Bát Nhã, có thể nương vào đó để học thì người kia nhất định sẽ vĩnh viễn xa rời các lậu, chứng được chơn vô lậu, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát. Ở nơi pháp ấy đầy đủ an ổn, tự chứng thông huệ, có thể tự hiểu biết rằng ta đã hết sanh, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau, như thế có tên là tăng thượng huệ. Như vậy có tên là 3 loại. Nếu chánh tu tập sẽ làm cho các loài hữu tình thành hạ trung thượng hiền thánh khác nhau. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tùy học nhơn mạnh mẽ

Thường siêng năng tỉnh thức

Tu phẩm thượng trung hạ

Tùy được quả sai khác

Ở tu tinh tấn nhỏ

Hoàn thành quả hạ phẩm

Trung tu được trung quả

Thượng tu cũng như vậy

Tức biết tu ba loại

Được chứng quả khác nhau

Nên biết bỏ trung hạ

Xưng dương tu thượng phẩm.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo đầy đủ thiện giới, đầy đủ thiện pháp. Kia ở nơi ta pháp Tỳ Nại Da đã tu hành qua rồi, tên là tối thượng sĩ. Thế nào các Tỳ Kheo là đầy đủ thiện giới. Nghĩa là các Tỳ Kheo đầy đủ thanh tịnh giới luật, an trụ giữ gìn giới biệt giải thoát, mô phạm hành trình chẳng có sai trái. Ở nơi tôi nhỏ ấy phải sợ hãi nhiều, phải nên học hỏi, tùy theo học xứ thành tựu thanh tịnh thân ngữ hai nghiệp, thành tựu tịnh mệnh, thành tựu tịnh kiến, cho nên tên gọi là Tỳ Kheo đầy đủ điều phục thiện giới. Như thế điều phục thiện giới rồi. Vì sao các Tỳ Kheo gọi là đầy đủ điều phục pháp? Nghĩa là các Tỳ Kheo siêng tu bảy pháp Bồ Đề phần, đầy đủ ở yên, cho nên gọi tên là Tỳ Kheo đầy đủ điều phục thiện pháp. Tức là đầy đủ giới luật và thiện pháp rồi vậy.

Sao gọi là Tỳ Kheo điều phục đầy đủ thiện huệ ? Nghĩa là Tỳ Kheo vĩnh viễn đoạn trừ các lậu, được chơn vô lậu, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát. Ở nơi pháp ấy đầy đủ ở yên, tự chứng thông huệ, có thể tự biết rõ ta đã hết sanh, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân nữa. Cho nên có tên là Tỳ Kheo đầy đủ điều phục thiện huệ. Có tên như thế nếu có Tỳ Kheo đầy đủ điều phục thiện giới, đầy đủ điều phục thiện pháp, đầy đủ điều phục thiện huệ. Kia ở nơi pháp Tỳ Nại Da (Vinaya – luật học) tu hành đầy đủ rồi có tên là tối thượng sĩ. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nếu nghĩ thân ngữ ý

Lìa các ác chẳng thiện

Tên điều phục thiện giới

Có tàm quý Tỳ Kheo

Nếu hay tu hành tốt

Pháp thất Bồ Đề phần

Tên đầy đủ thiện pháp

Có thiền định Tỳ Kheo

Nếu hay biết giải bày

Tự xa rời các lậu

Tên điều phục thiện huệ

Chơn vô lậu Tỳ Kheo

Nếu đầy đủ điều lành

Uy đức trên đời khó

Nếu đầy đủ tu hành

Kẻ tối cao sáng suốt

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong các Tỳ Kheo thành tựu 3 phần nên biết người đó là kẻ giữ gìn giới luật đã được viên mãn, ở nơi cứu cánh vị đã được viên mãn, ở nơi tu hành phạm hạnh đã được viên mãn, cho đến cuối cùng của phạm hạnh. Thế nào là ba ? Nghĩa là các Tỳ Kheo thành tựu ba học giới định huệ, cho nên có tên là Tỳ Kheo thành tựu 3 phần nên biết người ấy giữ giới luật đầy đủ viên mãn, ở nơi cứu cánh vị đã được viên mãn. Ở nơi tu phạm hạnh đã được viên mãn cho đến cuối cùng của phạm hạnh. Nếu các Tỳ Kheo ở nơi giới luật đã được viên mãn, ở nơi cứu cánh vị đã được viên mãn. Ở nơi phạm hạnh vị nên biết người đó tức chẳng vui khi ở nơi thôn xóm làng ấp, nhà ở, chỗ nằm; lại cũng chẳng vui với các chúng Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Điêu Ba Tố Già, Điêu Ba Kỳ Già, khuyên răn người nam v.v… Ở chung nơi vườn mà sống phải biết người ấy thành tựu đệ nhất tịch tịnh pháp, một mình ở yên, nương vào 4 pháp để ở, lìa các dơ uế, bên trong giữ gìn sự chơn thật, xả bỏ sự mong cầu, chẳng nhiễm điều khác, chẳng phải vì thế pháp mà bị ô nhiễm, giống như nơi thế gian có hoa Uất Bát La, hoa Câu Ni Đà, hoa Bát Đặc Ma, hoa Mạn Đà Lợi, nương vào nước để sống, nương vào nước mà trưởng thành. Tuy từ nước xuất sanh mà không bị nhiễm bởi nước ấy. Người nầy cũng vậy, tuy nương vào thế gian để sống, nương vào thế gian để trưởng thành. Tuy hiện hữu trong thế gian nhưng mà chẳng bị nhiễm ô bởi thế pháp. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Vô học có ba phần

Giới, cứu cánh chỗ đứng

Tu phạm hạnh đầy đủ

Đến phạm hạnh sau cùng

Như vậy chúng Tỳ Kheo

Chứng tối thiện thiền định

Xa rời các khổ ải

Chứng vô thượng an lạc

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có 3 loại hy vọng tìm cầu vui thú thì nên y nơi tịnh giới, chẳng hư chẳng tà, chẳng dơ chẳng tạp. Y vào giới luật nên khởi phẩm cao, muốn chuyên tinh tấn, cuối cùng chẳng giải đãi. Thế nào gọi là ba ? Một là hy vọng cầu tìm nơi danh dự vui chơi. Nên y vào tịnh giới chẳng hư, chẳng tà, chẳng dơ chẳng tạp, hãy nương vào giới nên khởi thượng phẩm muốn cầu siêng năng cuối cùng chẳng giải đãi. Hai là muốn cầu vui lợi dưỡng; nên y vào tịnh giới chẳng hư chẳng tà, chẳng dơ chẳng tạp, y vào tịnh giới nên khởi thượng phẩm, muốn siêng năng tinh tấn cuối cùng chẳng giải đãi. Ba là hy vọng cầu tìm sanh lên cõi thiên là niềm vui; nên y vào tịnh giới chẳng hư chẳng tà, chẳng dơ chẳng tạp; nên y vào tịnh giới nên khởi thượng phẩm mà cầu siêng năng tinh tấn, cuối cùng chẳng giải đãi cho nên có tên là cầu 3 loại vui. Nên y vào tịnh giới mà chẳng hư chẳng tà, chẳng dơ chẳng tạp y vào nơi tịnh giới nên khởi thượng phẩm muốn cầu tinh tấn chung lại chẳng giải đãi. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Vì cầu ba niềm vui

Người trí giữ gìn giới

Vì đời thường giữ gìn

Lợi dưỡng vui cõi trời

Xem niềm vui như thế

Kẻ trí giữ gìn giới

Dương xa ác gần trí

Như lâm vào đường ác

Nhưng không làm việc ác

Mà gần gũi người ác

Giống như cỏ Kiết Tường

Hôi tanh như thịt cá

Gần gũi chẳng nên xem

Đùa bỡn chẳng nên đùa

Như mang đồ quý giá

Bỏ phẫn uế ra xa

Thế gian vui người hiền

Thường sợ dơ nhớp nhiễm

Kẻ trí tuệ cũng thế

Sợ nhiễm ác, thân trí

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết ! Có 3 loại hương chỉ thuận theo chiều gió, chẳng thể nghịch gió. Thế nào là ba ? Một là căn hương, hai là kinh hương, ba là hoa hương. Như thế là 3 loại, chỉ thuận theo chiều gió, không thể nghịch gió. Các Tỳ Kheo nên biết, nên nghĩ như thế nầy, không có loại hương nào mà không thuận theo chiều gió, hoặc nghịch chiều gió, hoặc cả thuận nghịch mà tất cả có thể được. Cho nên trong Phật Pháp của ta có một loại diệu hương có thể thuận theo chiều gió mà cũng có thể nghịch chiều gió, mà cũng có thể thuận nghịch. Ở trong trời người, tất cả đều nghe đến phần hương, thế gian hiền thánh chẳng ai là không trân quý ở trong Phật Pháp của ta, có một loại hương thơm mà có thể thuận gió, cũng có thể nghịch gió, cũng có thể thuận nghịch, ở trong trời người đều có thể nghe được hương thơm. Thế gian hiền thánh chẳng ai là chẳng trân quý. Đó là hương giới. Do giới hương nầy mà có thể thuận gió, có thể nghịch gió, có thể thuận nghịch, ở trong trời người tất cả đều nghe biết đến hương đó. Thế gian hiền thánh chẳng ai mà chẳng trân quý. Như vậy có tên trong Phật Pháp của ta. Có một loại hương thơm, thuận theo chiều gió, nghịch với chiều gió, có thể thuận nghịch theo chiều gió. Người trời đều nghe đến hương đó. Thế gian hiền thánh chẳng ai là không quý. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Thế gian các sở hữu

Gốc, thân, hoa cùng hương

Chẳng thể nghịch gió được

Dẫu cho có thế lực

Chỉ ở Phật Pháp ta

Có một loài hương quý

Gió nghịch hay gió xuôi

Dẫu sao vẫn có hương

Ở trời hoặc cõi người

Các thế gian hiền thánh

Tất cả đều trân quý

Đó là hương giới đức

Nếu mà từ giới nầy

Sanh ra được định huệ

Vĩnh viễn dứt khổ ải

Đồng giới cảm về sau

Cầu lợi và muốn sanh

Ác nói giống con lừa

Bốn học và bốn giới.

Kinh Bổn Sự quyển thứ sáu

Đức Quốc, thành phố Hannover, tại Chùa Viên Giác, Tỳ Kheo Thích Như Điển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt vào mùa An Cư Kiết Hạ năm 2546 (2002), đời Thủ Tướng Schröder

Quyển bảy

Phẩm Pháp thứ ba

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Ở nơi thế gian nầy tử (con) có 3 loại. Thế nào là ba ? Một là đẳng tử, hai là thắng tử và ba là liệt tử.

Thế nào gọi là đẳng tử ? Nghĩa là có một loại cha mẹ do giới đức mà tạo thành điều thiện hay lìa sát sanh, lìa trộm cướp, lìa dục tà hạnh, lìa vọng ngữ, lìa uống các loại rượu sanh ra giải đãi. Người con cũng đầy đủ giới đức, thành thục điều phục các thiện pháp, hay lìa sát sanh, lìa trộm cướp, lìa dục tà hạnh, lìa vọng ngữ là lìa uống các thứ rượu sanh ra giải đãi. Cho nên đây gọi là đẳng tử.

Còn thế nào gọi là thắng tử ? Nghĩa là có một loại cha mẹ phạm giới làm các điều ác, vui việc giết hại, làm việc trộm cướp, làm việc tà hạnh, làm việc nói dối và uống những thứ rượu say sinh ra buông lung. Người con có thể trì giới điều phục thuần phục các pháp lành, hay lìa sự giết hại, lìa sự trộm cướp, lìa sự tà hạnh, lìa sự nói dối, lìa việc uống các thứ rượu say sinh ra giải đãi. Cho nên có tên là thắng tử.

Thế nào gọi là liệt tử ? Nghĩa là có một loại cha mẹ đầy đủ giới đức, điều phục thiện pháp hay lìa sát sanh, hay lìa trộm cướp, hay lìa tà hạnh, hay lìa nói dối và hay lìa uống các thứ rượu sinh ra giải đãi. Còn người con thì phạm giới, làm các việc ác, vui việc sát sanh, làm việc trộm cướp, làm việc tà hạnh, làm việc nói dối và làm việc uống rượu sinh ra những giải đãi. Nên có tên là liệt tử.

Như thế đó trong thế gian nầy có tên gọi cho người con có 3 loại như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Thế gian người có trí

Có loại đẳng, thắng tử

Chẳng vui là liệt tử

Làm tổn hại gia môn

Nên biết trong ba ấy

Một liệt hai làm thắng

Đức Phật đã nói rằng

Các hiền thánh cũng vậy

Hai kia tin giới luật

Trí huệ chẳng ngăn ngại

Như trời trong trăng sáng

Nơi đâu cũng sáng sủa

Nên gần gũi cúng dường

Chư Phật đều xưng dương

Xa lìa các trần cấu

Việc làm chẳng sợ hãi

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Có một loại Tỳ Kheo tôn trọng chánh pháp vui theo chánh pháp, thực hiện theo chánh pháp, siêng năng hành trì, thường thích hành pháp. Như thế Tỳ Kheo, tùy niệm chánh pháp, thường vui và xa rời tham, không có căn lành, chẳng tham thiện căn, tu hành đầy đủ, thường hay vui vẻ đoạn trừ sân bất thiện căn, vô sân thiện căn, tu cho viên mãn. Thường vui để đoạn trừ si bất thiện căn, tu 4 niệm trụ, lại làm cho đầy đủ, tu 4 niệm trụ, chứng được viên mãn rồi, tu 4 chánh đoạn, lại làm cho viên mãn, tu 4 chánh đoạn, được viên mãn rồi, tu 4 thần túc, lại làm cho viên mãn rồi, tu 4 thần túc. Được đầy đủ rồi tu tập ngũ căn, làm cho viên mãn rồi, tu tập ngũ căn, làm cho viên mãn rồi tu tập ngũ lực. Làm cho viên mãn rồi, tu tập ngũ lực, được viên mãn rồi tu thất giác chi, làm cho viên mãn rồi, tu thất giác chi, được viên mãn rồi tu bát thánh đạo, làm cho viên mãn rồi tu bát thánh đạo, được viên mãn rồi thì được sáng và giải thoát. Tất cả đều được viên mãn. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tôn trọng pháp thường vui

Làm cho pháp lưu hành

Nơi pháp thường hay nhớ

Hay chẳng lùi chánh pháp

Chánh niệm tu thiện niệm

Chẳng nhớ làm việc ác

Hành pháp định hay siêu

Đời nầy đời khác vui

Pháp giúp người hành pháp

Như lúc mưa có dù

Hành pháp giúp lợi lạc

Chẳng thể đọa tam đồ

Ta đã từng nghe Đức Thế Tôn nói lời như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian nầy lược nói có 3 loại tầm tư. Các Tỳ Kheo hữu học! khi chưa chứng được thì mong cầu chứng được vô thượng an lạc, hay làm cho thoái thất. Thế nào là ba ? Thứ nhất là thân cận tương ưng với tầm tư, hai là sự lợi dưỡng tưng ứng với tầm tư, ba là đố thắng tương ứng với tầm tư. Như thế lược nói có 3 loại tầm tư. Các Tỳ Kheo hữu học, kẻ chưa được tâm muốn cầu được vô thượng an lạc thì phải làm cho mất đi. Cho nên các ngươi phải biết học như thế nầy. Ta nay vì chẳng khởi sự gần gũi tương ưng với tầm tư, chẳng khởi lợi dưỡng tương ưng với tầm tư, chẳng khởi đố thắng tương ưng với tầm tư. Nầy các Tỳ Kheo! nên biết như thế. Lúc ấy Đức Thế tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nương tối tăm tầm tư

Lược nói có ba thứ

Học cầu vô thượng lạc

Làm chướng tất vô ngại

Nương gần gũi tương ưng

Lợi dưỡng và đố thắng

Đến vui lớn tịnh lớn

Cuối cùng không có nghịch

Bỏ thân thuộc lợi dưỡng

Và đố thắng tầm tư

Nhiếp chỉ quán khuyên tu

Sớm dứt được sự khổ

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Lược nói có 3 pháp. Có học Tỳ Kheo kẻ chưa được tâm muốn cầu vô thượng an lạc thì phải nên làm cho mất đi. Thế nào là ba ? Một là Tỳ Kheo vui mừng theo công việc như nghiệp tham ái, đắm trước vào nghiệp. Hai là các Tỳ Kheo vui mừng theo nói chuyện, tham ái việc đàm thoại, đắm trước nơi câu chuyện. Ba là các Tỳ Kheo vui theo sự ngủ nghỉ, tham ái và ngủ nghỉ, đắm trước vào ngủ nghỉ. Như thế có 3 pháp. Các hữu học Tỳ Kheo kẻ chưa được tâm muốn cầu được pháp vô thượng an lạc thì phải làm cho mất đi. Cho nên các ngươi phải nên biết, ta sẽ vì những nghiệp không vui, chẳng nghiệp vì ái, chẳng nghiệp vì đắm trước. Ta sẽ vì chẳng vui nói chuyện, chẳng ưa đàm thoại, chẳng đắm trước nói chuyện, ta sẽ vì chẳng vui ngủ nghỉ, chẳng thích ngủ nghỉ, chẳng đắm trước ngủ nghỉ. Các Tỳ Kheo các ngươi nên học như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Lúc cầu quả vô thượng

Có ba pháp nên lùi

Nghiệp vui, ái, đắm trước

Nói chuyện và ngủ nghỉ

Hữu học các Tỳ Kheo

Nếu đủ ba pháp nầy

Cuối chẳng thể chứng đắc

Được quả tam bồ đề

Nếu muốn cầu chứng mau

Được chứng tam bồ đề

Phải ít nói và ngủ

Siêng năng tu chỉ quán

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Có 3 loại pháp hòa hợp hiện tiền làm cho tịnh tín các thiện nam tử sanh vô lượng phước. Thế nào là ba ? Một là lòng tin thanh tịnh hòa hợp với nhau hay làm cho những người con trai sanh ra nhiều phước. Hai là làm cho hòa hợp với nhau làm cho lòng tin thanh tịnh của các Thiện Nam tử sanh ra vô lượng phước. Thứ ba là phước điền hòa hợp với nhau có thể làm cho lòng tin thanh tịnh của các thiện nam tử sanh ra vô lượng phước. Cho nên có tên là 3 pháp hòa hợp hiện tiền làm cho phát khởi lòng tin thanh tịnh của các thiện nam tử sanh ra vô lượng phước. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ba pháp hợp hiện tiền

Hay sanh vô lượng phước

Nghĩa tịnh tín cho đồ

Và chơn tịnh phước điền

Đủ huệ cùng giới đức

Hay điều phục ba độc

Tu sa môn phạm hạnh

Tên chơn tịnh phước điền

Đầy huệ đầy lòng tin

Giữ gìn như của quý

Phụng thí phước điền tốt

Tất sẽ được quả lớn

Thân có bốn oai nghi

Nương Tam Bảo Tứ Đế

Chánh thiện chẳng dơ nhớp

Tên là tâm lành vậy

Với trí sáng bố thí

Pháp thí là hơn cả

Tâm tịnh nói chánh pháp

Chư Phật đều xưng tán.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! những người có trí nên biết 3 loại pháp chẳng bền chắc, dễ dàng như thế. Thế nào gọi là ba ? Một là tiền tài chẳng bền chắc, hai là của cải chẳng bền chắc và ba là thân thể chẳng bền chắc. Tài sản của cải thân thể là ba điều chẳng bền chắc của mạng người. Của cải làm cho thân mệnh không bền chắc giống như tài sản. Nghĩa là kẻ tịnh tín thiện nam tử hoặc thiện nữ nhơn như pháp siêng năng lao dịch bằng chân tay, ra sức đổ mồ hôi mới có được những tài sản quý giá, nên tự chính thân mình cung phụng cho cha mẹ, cho vợ con, nô tỳ, bạn bè quyến thuộc, ngày đêm gặp gỡ, vui vẻ sinh sống mà khi gặp Sa Môn hoặc Bà La Môn giữ gìn giới đức hay điều phục thiện pháp, siêng tu phạm hạnh, trừ khử giải đãi, kiên nhẫn nhu hòa, thẳng ngay đường tốt, bỏ các đường tà, chí thú Niết Bàn, giữ tâm thanh tịnh, hoan hỷ cung kính như biết như nên giữ gìn bố thí, xa cầu vô thượng an lạc Niết Bàn. Hoặc hy vọng tương lai được quả vui trời người. Đó có tên là của cải chẳng bền, tài sản chẳng bền.

Thế nào là thân mệnh chẳng bền ? Nghĩa là có kẻ tịnh tín thiện nam tử hoặc thiện nữ nhơn thành tựu chánh kiến hay lìa sát sanh, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm hạnh thanh tịnh, lìa sự trộm cắp, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm thanh tịnh, lìa sự tà dâm, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm thanh tịnh. Lìa sự nói dối, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm thanh tịnh; lìa sự uống rượu sanh buông lung, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm thanh tịnh, như thế các loại có tên là thân thể chẳng bền chắc.

Thế nào là đời sống chẳng bền chắc ? Nghĩa là ở trong pháp của ta, các Thánh đệ tử hiểu biết như thật về khổ đế, hiểu biết như thật về tập đế, hiểu biết như thật về khổ diệt đế; hiểu biết như thật và có thể hướng đến khổ diệt đạo đế. Cho nên ở đây có tên là 3 loại không bền chắc, 3 loại dễ thay đổi. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Như đời có người trí

Bị mất mà chẳng quý

Kẻ chánh kiến cũng thế

Tất cả đều thay đổi

Biết được tiền, thân, mệnh

Chẳng tịnh chẳng bền chắc

Cầu thanh tịnh bền chắc

Ra khỏi thế gian vui

Trên đời tiền, thân, mệnh

Ở đời rất bền chắc

Đó là pháp chắc thật

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Căn có 3 loại, tánh nầy sâu xa, hiển hiện sâu xa, tánh nầy khó thấy, hiển hiện khó thấy. Sao gọi là ba ? Một là chưa biết sẽ được biết gốc. Hai là biết gốc, ba là biết đầy đủ gốc. Vì sao có tên chưa biết sẽ được biết gốc ? Nghĩa là trong pháp của ta các Thánh đệ tử y nơi chưa thấy biết các khổ thánh đế mà thấy mà biết, phát sanh muốn vui, làm cho siêng năng, nhiếp tâm giữ tâm thì việc chưa thấy biết khổ tập thánh đế, làm cho thấy cho biết phát sanh được niềm vui, siêng năng tinh tấn nhiếp tâm thọ trì, nơi chưa thấy biết về khổ diệt thánh đế, làm cho thấy, biết phát sanh niềm vui siêng năng tinh tấn nhiếp tâm thọ trì. Nơi chưa thấy biết có thể đến khổ diệt chơn đạo thánh đế. Vì sự thấy biết phát sanh niềm vui, siêng năng tinh tấn nhiếp tâm thọ trì. Cho nên có tên là chưa biết sẽ được biết cái gốc.

Sao lại có tên là biết cái gốc ? Nghĩa là trong pháp của ta các Thánh đệ tử, hiểu rõ như thật, đây là khổ thánh đế, đây là tập thánh đế, đây là khổ diệt đế, đây là thú khổ diệt chơn đạo thánh đế. Đây là biết gốc gác.

Thế nào là biết đầy đủ gốc gác ? Nghĩa là trong pháp của ta, các Thánh đệ tử, các lậu đã tận đắc chơn vô lậu, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát, hay biết chơn chánh, ta sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân nữa, cho nên có tên là biết gốc gác đầy đủ. Như vậy có tên là gốc có 3 loại. Tánh nầy rất sâu xa, hiển hiện sâu xa; tánh nầy khó thấy, hiển hiện khó thấy. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Ở nơi chánh pháp ta

Thánh đệ tử hữu học

Thuận tu con đường chánh

Đây là căn thứ nhất

Biết rõ khổ tập đế

Và khổ tập khổ diệt

Hay vui khổ diệt đạo

Đây là gốc thứ hai

Gốc thứ ba nên biết

Các lậu đều hết sạch

Chứng được chơn vô lậu

Tâm sáng thiện giải thoát

Biết ta đã hết sanh

Các phạm hạnh đã lập

Việc làm cũng đã xong

Chẳng thọ thân sau nữa

Thân tâm thường tịch tĩnh

Lành giữ gìn các căn

Giữ gìn thân sau cùng

Hàng phục các ma chướng

Ta từ Đức Thế tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! lược nói có 3 loại Bổ Đặc Già La (chúng sanh) vì nghĩa lợi mà nên thân cận. Thế nào là 3 loại ? Một là có loại chúng sanh thành tựu giới kém định kém và huệ kém. Hai là có một loại chúng sanh thành tựu tất cả giới định huệ. Ba là có một loại chúng sanh thành tựu thắng giới, thắng định và thắng huệ. Trong đó có loại chúng sanh thành tựu giới định huệ đều kém, làm sao được lợi ích mà nên thân cận ? Nghĩa là loại chúng sanh nầy chẳng có hy vọng cầu cứu, chỉ có lòng từ, khuyên nên tinh tấn. Vì đây là lợi lạc cho nên gần gũi. Trong đó có một loại chúng sanh thành tựu tất cả giới định huệ, vì sự lợi ích mà nên thân cận. Nghĩa là loại chúng sanh nầy suy nghĩ rằng họ đang vì ta mà nói giới tương tự, ta đương vì họ mà nói giới tương tự, hỗ tương nhau nghe làm cho được tương tục, làm được nhiều việc cho nên suy nghĩ rằng họ đương vì ta mà nói về định tương tự và ta đương vì họ mà cũng nói định tương tự, hỗ tương nhau nghe, làm cho tương tục, đã làm nhiều việc và suy nghĩ rằng họ đương vì ta mà nói huệ giống nhau và ta đương vì họ mà cũng nói huệ giống nhau. Hỗ tương nhau nghe làm cho được liên tục, đã làm nhiều việc. Vì nghĩa nầy mà lợi lạc nên phải gần gũi.

Trong ấy lại có một loại chúng sanh thành tựu thắng giới thắng định thắng huệ. Vì sao lợi ích mà nên thân cận ? Nghĩa là loại chúng sanh nầy suy nghĩ rằng ta đương vì kia mà nương vào nơi giới uẩn, nếu chưa viên mãn thì làm cho viên mãn. Nếu ta đã đầy đủ thì nhập vào chánh niệm, kiên cố giữ gìn, liền suy nghĩ rằng ta đương vì kia mà nương vào định uẩn. Nếu chưa đầy đủ làm cho đầy đủ. Nếu đã đầy đủ thì nhiếp vào chánh niệm kiên cố giữ gìn, liền suy nghĩ rằng ta sẽ nương vào kia nơi huệ uẩn. Nếu chưa đầy đủ thì làm cho đầy đủ. Nếu đã đầy đủ thì làm cho chánh niệm và kiên cố giữ gìn. Vì nghĩa nầy nên thân cận, cho nên có tên là lược nói 3 loại chúng sanh nên thân cận gần gũi. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Gần kẻ thấp, từ bi

Gần kẻ cao, lợi ích

Gần kẻ tốt, vì đức

Đầy đủ hay giữ gìn

Gần kẻ thấp, ít đức

Gần kẻ giữa, đức vừa

Gần kẻ trên, đức trọng

Vậy nên gần thượng sĩ

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! nên dùng thân nầy ở vào bất tịnh quán; nên để thân nầy theo hơi thở và theo suy nghĩ và nên nương vào đi đứng để quán vô thường, khổ, vô ngã. Nếu có thể nơi thân nầy dùng bất tịnh quán thì với cảnh tịnh, sẽ dễ đoạn lìa tham dục. Nếu hơi thở và sự nhớ nghĩ mà hay đoạn trừ tầm tư, chướng ngại thì nên quán về vô thường bởi sự đi đứng, quán về khổ, vô ngã, để làm cho có thể xa lìa ái dục mà ở thế gian nầy thường hay chấp chặt vào. Khi không chấp vào thì không sợ hãi, đã không sợ hãi thì làm cho chứng đặng cứu cánh Niết Bàn. Khi đã chứng Niết Bàn rồi thì làm cho tự hiểu rằng ta việc sanh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau nữa. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Nơi thân quán bất tịnh

Hơi thở chỗ suy nghĩ

Quán các hành vô thường

Cho đến khổ, vô ngã

Được các hành tánh không

Được tối thắng tịch tịnh

Ái không còn chấp giữ

Chứng cứu cánh Niết Bàn.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Các thân của loài hữu tình thì vì 3 loại dũng kiện, oán tặc và tùy toại (theo sự ưa thích) mà làm hại. Vì sao gọi có ba ? Một là buồn cho sức khỏe của sự già mà oán hờn. Hai là buồn cho bệnh tật mà oán hờn. Ba là buồn cho vô thường mà lo buồn. Đây là 3 loại buồn lo về sức khỏe. Chúng thường hay làm cho chúng hữu tình khổ sở nơi thân và nơi thân ấy lược nói ba pháp. Thứ nhất là thọ mệnh, thứ hai là hơi ấm và thứ ba là tâm thức. Như thế gọi là ba pháp.

Khi xa lìa thân thể thì có tên là chết đi, hôi thối khó chịu, bỏ nơi nhà xác, chẳng thể dùng lại được. Cho nên thân nầy là hư ngụy, do các pháp hợp thành. Ở nơi đó có sự thọ mạng, hơi ấm và thức mà tạo nên pháp nầy. Y vào nhân duyên để sanh, vô thường chi phối, chẳng mạnh chẳng lực, cuối cùng hoại diệt, giặc già bệnh chết, thường theo chẳng buông, thế mà kẻ ngu phàm vì vô minh chứa nhóm, nên tham đắm nơi ái ân, chẳng chịu xa rời. Các thánh đệ tử của ta cũng do các sự giả hợp nầy mà tạo thành thân, phải biết rõ như thế, có nhiều nỗi lo, liền làm cho tất cả trong ngoài thân có thể sâu vào tham đắm. Nên lìa tham dục. Khi lìa tham dục rồi liền được giải thoát. Khi đã giải thoát rồi liền tự hiểu rằng ta việc sanh đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong. chẳng còn thọ thân sau nữa. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tất cả thân hữu tình

Ba oán tặc theo hại

Đó là già bệnh chết

Khi chưa bỏ được chúng

Các pháp hợp thành thân

Hư ngụy chẳng phải thật

Nếu bỏ mạng thọ thức

Rồi ra chỉ nhà xác

Người ngu chẳng biết rằng

Thường lấy ái đắm say

Hiền thánh có trí tuệ

Xa lìa như phẩn hôi

Tu vô lậu thánh đạo

Đoạn ba tặc nhân duyên

Đặng thường lạc Niết Bàn

Chắc ra khỏi ba cõi

Thường lo lắng thân mình

Cầu thường lạc Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Về các việc của phước nghiệp. Lược nói ở đây có 3 loại, nên tu nên tập. Thế nào gọi là ba ? Một là thí phước nghiệp. Hai là giới phước nghiệp và ba là tu phước nghiệp.

Thế nào gọi là thí phước nghiệp ? Nghĩa là có tịnh tín thiện nam hoặc thiện nữ hay bố thí về đồ ăn uống, hương hoa, dầu thơm, áo quần, xe cộ, chỗ ngủ, phòng ốc, đèn dầu, vườn tược cùng các tài sản khác, như thế có tên là bố thí phước nghiệp.

Thế nào có tên là giới phước nghiệp ? Nghĩa là có tịnh tín thiện nam tín nữ hay lìa sát sanh cứu cánh viên mãn, chẳng phạm, thanh tịnh, lìa trộm cướp, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm thanh tịnh, lìa tà hạnh, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm, thanh tịnh. Lìa nói dối, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm, thanh tịnh. Lìa uống các thứ rượu sanh ra buông lung, cứu cánh viên mãn, chẳng phạm thanh tịnh, như thế có tên là giới phước nghiệp.

Thế nào có tên là tu phước nghiệp ? Nghĩa là có tịnh tín thiện nam hoặc tín nữ tu tâm từ khắp đến các nơi, ở yên đầy đủ như thế thứ 2, thứ 3, thứ 4, trên dưới nhiều thể tất cả thế gian cũng đều biến khắp, yên ổn đầy đủ làm cho từ tâm rộng lớn vô lượng; chẳng oán, chẳng hại, rộng khắp mà ở tu tâm từ bi biến mãn một phương, đầy đủ ở yên. Như thế thứ 2, thứ 3, thứ 4, cho đến trên dưới các phương, tất cả thế giới tất đều cùng khắp, đầy đủ ở yên làm cho tâm từ rộng khắp vô lượng, chẳng sợ chẳng hại, biến khắp mà ở, tu hỷ từ tâm, biến đến một phương đầy đủ ở yên như thế thứ 2, thứ 3, thứ 4, trên dưới tất cả thế giới đều biến khắp đầy đủ. Ở yên làm cho tâm từ quảng đại vô lượng, chẳng oán chẳng hại biến khắp ở yên, tu xả nơi tâm, biến mãn một phương, đầy đủ ở yên như thế thứ 2, thứ 3, thứ 4, trên dưới tất cả thế giới đều biến khắp đầy đủ an trụ, làm cho xả bỏ, tâm ấy vô lượng, chẳng hờn chẳng hại, biến khắp mà ở. Như thế gọi là tu phước nghiệp. Nơi nầy nói là 3 phước nghiệp nên tu nên tập, nên tu tập nhiều. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Có ba pháp nên tu

Nên tập càng nên tập

Hay được ba niềm vui

Đó là thí, giới, tu

Tu thí cảm nhiều tiền

Tu giới được sống lâu

Sẽ sanh cõi trời tịnh

Muốn cầu vui thù thắng

Nên tu ba phước nầy

Định sẽ được chẳng nghi

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian tối thắng, lược nói có 3 loại. Thế nào gọi là ba ? Một là tất cả thí thiết hữu tình, không chân, 2 chân, 4 chân hoặc nhiều chân, có hình, không hình, có tưởng, không tưởng, cho đến nơi cõi phi tưởng phi phi tưởng Phật đã vì tối thắng, cho nên Như Lai ứng chánh đẳng giác, minh hạnh viên mãn, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhơn sư, Phật, Bạt Già Phạm. Nếu nơi Phật mà khởi tâm thanh tịnh thì ở nơi lòng tin đó là điều tối thắng vậy. Như có lòng tin ấy cảm được quả báo ở nơi trời người cũng là quan trọng không kém.

Thứ hai là tất cả pháp môn, thế và xuất thế gian, có hoặc chẳng có v.v… đều là các pháp môn cả. Niết Bàn tối thắng, nghĩa là lìa các kiêu mạn, tức các khát ái, diệt A Lại Da, đoạn các đường hiểm, ái hết, lìa dục, tịch tịnh Niết Bàn. Nếu như thế ở nơi pháp Niết Bàn khởi tâm thanh tịnh tin tưởng, thì nơi lòng tin ấy là điều quan trọng nhất, như thế lòng tin thanh tịnh sẽ cảm quả báo nơi trời người, điều ấy rất quan trọng.

Thứ ba là đối với tất cả sự thí thiết cho đồ chúng, bằng hữu, ân nghĩa đều tập trung vào nơi Phật thánh đệ tử, tức tăng là tối thắng. Nghĩa là 4 hướng, 4 quả, 8 loài chúng sanh ở trong các loài hữu tình vì chơn vì diệu, vì tối tôn đệ nhất nên phải cung kính diên trì, cung kính cúng dường, xưng dương tán thán, chẳng quản thân mệnh tài sản của cải thế gian, trời người v.v… vô thượng phước điền. Nếu ở nơi hiền thánh tăng ấy khởi tâm tin thanh tịnh thì tốt đẹp vô cùng. Với tâm thành ấy sẽ cảm quả báo, nơi trời người, tốt đẹp hạng nhất. Như thế có tên là 3 loại tối thắng. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tối thắng có 3 loại

Đó là Phật Pháp Tăng

Nương vào sanh lòng tin

Hay thấy pháp tối thắng

Nương Phật sanh tịnh tín

Biết Đức Lưỡng Túc tôn

Chứng vô thượng Bồ Đề

Trời người cùng ứng cúng

Nương Pháp sanh tâm lành

Biết ly dục trung tôn

Tịch tịnh thường an lạc

Nương Tăng sinh lòng tin

Biết ở chúng trung tôn

Chứng vô thượng phước điền

Trời người đều ứng cúng

Thí tốt nhất ruộng phước

Sanh tối thắng công đức

Cảm tối thắng an lạc

Thọ sắc lực tiếng tăm

Cúng dường người cao cả

Tu hành pháp cao siêu

Được tối thắng an lạc

Trên trời hoặc loài người

Thí Tam Bảo phước điền

Tên gọi là tối thắng

Đâu đâu cũng an lạc

Sau đó chứng Niết Bàn

Sâu vào nghĩa nầy Uẩn Đà Nam viết:

Con cái nặng hai học

Phước dày sâu chúng sanh

Bất tịnh và oán giận

Phước nghiệp việc tối thắng

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Có 3 loại Đại Sư xuất hiện nơi thế gian làm lợi ích an lạc vô lượng chúng sanh, thương yêu thế gian trời người đại chúng làm cho được vô lượng lợi ích an lạc.

Thế nào là ba ? Nghĩa là Như Lai, ứng chánh đẳng giác, minh hạnh, viên mãn, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhơn sư, Phật, Bạt Già Phạm. xuất hiện nơi thế gian vì các chúng sanh mà khai mở chánh pháp, đầu giữa trước sau đều tốt, văn nghĩa rõ ràng, thị hiện đầy đủ, thanh bạch phạm hạnh. Đó là khổ đế, đó là tập đế, đó là đạo đế, đó có thể hướng đến khổ diệt đạo đế, như thế có tên là Đệ Nhứt Đại Sư xuất hiện nơi thế gian làm lợi ích an lạc vô lượng chúng sanh, ai mẫn thế gian thiên nhơn đại chúng làm cho được vô lượng lợi ích an lạc. Lại nữa Như Lai, ứng chánh đẳng giác, vô học đệ tử tức các vị A La Hán các lậu đã tận, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, việc đáng bỏ đả bỏ được sự lợi ích an lạc, hết các kiết sử, rồi cung phụng hành trì lời dạy chánh đáng của Như Lai. được giải thoát rồi, chứng biến tri rồi, xuất hiện nơi thế gian làm cho tất cả chúng sanh khai mở chánh pháp, đầu giữa cuối đều tốt, văn nghĩa rõ ràng, thị hiện đầy đủ, thanh bạch phạm hạnh. Nghĩa là khổ đế, là tập đế, là khổ diệt đế, có thể hướng đến khổ diệt đạo đế, như thế có tên là Đệ Nhị Đại Sư xuất hiện nơi thế gian làm lợi ích an lạc cho vô lượng chúng sanh, ai mẫn thế gian trời người đại chúng làm cho được vô lượng lợi ích an lạc.


KINH BỔN SỰ – PHẦN 6

Lại nữa Như Lai, ứng chánh đẳng giác, hữu học đệ tử đầy đủ phạm hạnh, đầy đủ chánh kiến đa văn; cho nên chánh văn khế kinh khi đọc tụng biên chép riêng như Già Đà, Vô vấn tự thuyết, Bổn Sự, Bổn Sanh, phương quảng rộng nói, hiểu biết rõ ràng nghĩa nầy, xuất hiện ở thế gian vì các chúng sanh mà khai mở chánh pháp, trước giữa sau cuối đều tốt, văn nghĩa rõ ràng, thị hiện đầy đủ, thanh bạch phạm hạnh. Nghĩa là khổ đế, khổ tập đế, khổ diệt đế, có thể hướng đến khổ diệt đạo đế, như thế có tên là Đệ Tam Đại Sư xuất hiện ở thế gian làm lợi ích an lạc vô lượng chúng sanh, ai mẫn thế gian, trời người đại chúng làm cho được vô lượng an lạc lợi ích. Như vậy có tên là 3 loại Đại Sư xuất hiện nơi đời làm lợi ích an lạc cho vô lượng chúng sanh, ai mẫn thế gian trời người đại chúng làm cho được vô lượng lợi ích an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Có ba loại Đại Sư

Nếu xuất hiện ở đời

Hay lợi ích an lạc

Trời người cùng thế gian

Một là Đức Như Lai

Hai là vô học đệ tử

Ba là hữu học đệ tử

Đủ tịnh giới đa văn

Như thế ba Đại Sư

Hay tuyên nói chánh pháp

Rộng mở cửa cam lồ

Làm vô lượng chúng sanh

Xa rời các kết sử

Giải thoát khổ sanh tử

Dụ như Đạo Sư giỏi

Hay chỉ người đường tốt

Đi đúng cứ thế theo

Được an lạc chẳng nghi

Chỉ chúng sanh tứ đế

Tu hành chẳng buông lung

Định, siêu sanh giải thoát

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Có 3 lúc chư thiên tụ tập hoan hỷ tinh tường, hiện tướng siêng năng xuống đến nhơn gian. Thế nào là ba ? Nghĩa là đệ tử ta hoặc có tài sản ít, hoặc có tài sản nhiều, hoặc có quyến thuộc ít, hoặc có nhiều quyến thuộc, hoặc thuộc dòng họ tôn quý, hoặc dòng họ thấp mà mới phát tâm rồi truyền pháp ấy rộng ra trong gia đình, có kẻ hoan hỷ xuất gia, lúc ấy chư thiên hoan hỷ tập hội, hoặc giống lời nói trời người đang biết. Nay đệ tử Phật cùng với quân ma bạn ác giao chiến với nhau cho nên ta bảo chúng trời giáng xuống nhân gian, tham gia giúp đỡ tăng trưởng tín tâm làm cho không ai chướng nạn. Nói lời ấy rồi xuống đến nhân gian, làm việc đáng làm, như thế có tên là lần thứ nhất chư thiên giáng thế, hoan hỷ rõ bày, hiện tướng siêng năng lai giáng nhơn gian. Lại đệ tử của ta cạo bỏ râu tóc mặc áo cà-sa có tâm tin chân chánh, bỏ nhà, không có riêng tư xuất gia làm Tỳ Kheo tu theo hòa kỉnh, ở yên giữ gìn giới biệt giải thoát, làm việc mô phạm, chẳng có gì là không viên mãn. Ở nơi tội nhỏ cũng sinh sợ hãi, thọ học tất cả những học xứ đáng học, thành tựu thanh tịnh thân ngữ ý nghiệp, thành tựu đời sống thanh tịnh, thành tựu sự thấy thanh tịnh. Lúc ấy chư thiên hoan hỷ tập hội hoặc nói nên lời, chư thiên đều biết làm cho đệ tử Phật cùng với ác ma đang đánh nhau ta làm cho chư thiên xuống trần giúp đỡ tăng sức, uy lực để chiến thắng ma quân. Làm như thế rồi lại xuống thế gian, làm những gì nên làm. Như thế có tên là lần thứ hai chư thiên tập hội, hoan hỷ rõ ràng, hiện tướng siêng năng lại xuống thế gian. Lại đệ tử ta các lậu đã tận, chứng chơn vô lậu, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát. Ở nơi pháp ấy tự chứng thông huệ, đầy đủ an trụ, có thể tự biết rằng ta sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, không thọ thân nữa. Lúc ấy chư thiên hoan hỷ tập hội hoặc nói lời ấy chư thiên đều biết làm cho đệ tử Phật cùng với các quân của ác ma đang giao tranh thì chặt đứt đầu ma và chiến thắng ma quân rồi tự nói rằng ta việc sanh đã hết, phạm hạnh đã lập, việc làm đã xong, chẳng thọ thân sau. Chúng ta tán thán chư thiên mang hương hoa rồi giáng xuống nhân gian lễ bái cúng dường, xưng dương tán thán thỉnh nói chánh pháp, độ thoát thân nầy khỏi sanh lão bệnh tử, nói lời ấy rồi liền xuống nhân gian, làm việc nên làm. Như thế có tên là lần thứ ba chư thiên tập hội, hoan hỷ rỡ ràng, hiện tướng tốt đẹp giáng xuống nhân gian. Tỳ Kheo nên biết! Nếu có quốc thổ, thành ấp, làng xóm có kẻ tịnh tín phát tâm xuất gia thì được cạo tóc xuất gia chơn chánh. Kẻ xuất gia ấy các lậu sẽ hết. Ở nơi quốc độ thành ấp ấy chư thiên cùng các thiện thần thường hay giáng xuống gia hộ bảo trì làm cho nơi ấy phong phú vui vẻ, phong điều vũ thuận, chẳng có những tật ách. Những chúng sanh trong ấy hướng về lòng từ, đồng tu thiện nghiệp, hiện tại tương lai, đêm dài an ổn sớm chứng vô thượng thường lạc Niết Bàn. Như thế có tên là ba lúc chư thiên tập hội, hoan hỷ rỡ ràng, hiện tướng đoan nghiêm giáng xuống nhân gian. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Chư thiên nơi ba thời

Hoan hỷ cùng tập hội

Rỡ ràng cùng sắc tướng

Lai giáng nơi nhân gian

Tối sơ cầu xuất gia

Sau đó là thế phát

Thứ ba lậu tận hết

Hàng phục các ma quân

Chư thiên thấy xuất gia

Hay trừ được các lậu

Hoặc cung kính cúng dường

Như vậy mà ca tụng

Quy mệnh kẻ thù thắng

Quy mệnh tối thượng sĩ

Quy mệnh cho chúng ma

Giữ gìn tên tuổi lớn

Chư thiên tâm hoan hỷ

Giúp đỡ tu cúng dường

Mong muốn được cắt tóc

Lậu tận chứng vô sanh

Tĩnh lự nhớ vui yên

Dũng mãnh chẳng buông lung

Điều phục các ma quân

Ở nơi luật của Phật

Chánh tín mà xuất gia

Hay giải thoát các lậu

Vĩnh viễn xa rời khổ.

Ta nghe từ Đức Thế Tôn như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Lược nói có 3 sự việc, tối đại trời người. Thế nào là ba ? Một là sống lâu, hai là đoan nghiêm, ba là khoái lạc. Như thế 3 việc, cả trời lẫn người trăm ngàn vạn lần không thể tính đếm. Cho nên như ở nhân gian nầy tính số 50 năm thì ở cõi thiên nơi Tứ Thiên Vương thiên thì chỉ một ngày một đêm. Như vậy ngày đêm số đến 30 cho đến một tháng chứa thành 12 tháng, rồi thì một năm. Như thế từng năm, nơi Tứ Thiên Vương thọ lượng đến 500. Như vậy ở cõi người là chín trăm vạn tuổi nhưng người ở cõi nầy chỉ sống 100 năm. Như ở cõi thiên vào từng trời thứ 33 bằng một ngày một đêm. Như vậy ngày đêm số đến 30 rồi thì một tháng, kế đến 12 tháng, rồi thì một năm, như vậy hằng năm thì ở cõi trời thứ 33 ấy thọ lượng là 1.000 tuổi. So với nhân gian thì 3 ngàn 6 trăm vạn tuổi. Như vậy ở nhân gian 200 năm thì ở cõi Dạ Ma một ngày một đêm, rồi thì ngày đêm số đến 30 rồi thì một tháng, chứa đến 12 tháng, rồi một năm, hằng năm như vậy. Ở cõi trời Dạ Ma tuổi thọ là 2.000 tuổi, bằng với nhân gian nầy là một ức bốn trăm vạn tuổi. Như vậy ở cõi đời 400 tuổi thì ở cõi Đẩu Suất một ngày một đêm, như vậy ngày đêm số đến 30, rồi thì một tháng, chứa đến 12 tháng, rồi thì một năm, hằng năm như thế, ở cõi Đẩu Suất thiên thọ mạng 4.000 năm so với nhân gian nầy là năm ức bảy ngàn sáu trăm vạn tuổi. Như vậy ở cõi người nếu sống 800 tuổi thì ở cõi Lạc Biến Hóa Thiên chỉ một ngày một đêm. Như vậy ngày đêm tính đến 30 rồi thì một tháng, kế đến 12 tháng rồi thì một năm, cho đến hằng năm cõi Lạc Biến Hóa Thiên ấy là 8.000 năm so với nhân gian là 23 ức 4 trăm vạn tuổi. Như vậy thế nên sống 1.600 năm thì ở cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên chỉ một ngày một đêm. Số cho đến 30, rồi thì một tháng, chứa đến 12 tháng. Rồi thì một năm, hằng năm như thế. Ở cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên thọ mạng là 1 vạn 6 ngàn tuổi. So với người đời là 92 ức 1 ngàn 6 trăm vạn tuổi (ở đây tính số vạn vạn là 1 ức) như thế tên gọi là Trường Thọ Thiên, chư thiên đoan nghiêm, chư thiên khoái lạc, ở cõi nhân gian nầy không có gì có thể ví dụ được.

Như thế chư thiên có 3 loại thắng sự. Tất cả đều là như vậy, vô thường, vô đán, chẳng thể giữ tin, đều bị biến đổi. Sau khi chết gặp gỡ việc chết nơi chư thiên chúng kia khi lâm chung cũng có thiên chúng đến đưa và chỉ cho biết các cõi tiên và nguyện cho họ vãng sanh vào cõi lành. Khi lâm vào cõi lành rồi thì được lợi lạc. Được thiện lạc rồi thì thành tựu. Ở nơi chư thiên qua lại cõi lành, được lợi lạc, được thành tựu. Nghĩa là ở cõi chư thiên khi mệnh chung lại sanh vào người cùng với con người, qua lại cõi thiện. Đến cõi người rồi. Nơi Phật nói pháp và luật, hộ trì chánh tín, tên gọi là thiện lợi. Như thế lòng tin chơn chánh tăng trưởng lớn mạnh, cội gốc vững vàng. Thế gian Sa Môn hoặc Bà La Môn, Chư Thiên ma phạm, không thể như pháp dẫn họ vào sự thoái chuyển. Nên có tên là thành tựu. Do sự thành tựu nầy mà ở nơi Phật pháp làm được nhiều việc. Nghĩa là thanh tịnh lòng tin, xuất gia thọ giới, tu Đột Ma Tha, Tỳ Bát Xá Xa, quán 4 thánh đế, vĩnh viễn dứt trừ các lậu, chứng được Niết Bàn, tận chỗ nhỏ nhất. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Chư Thiên ba việc thắng

Sống lâu đẹp đẽ vui

Người đời kể ngày tháng

Tính đến khó lường được

Như đây ba điều thắng

Phi thường lại khó có

Khó giữ, pháp biến đổi

Tử ma lực còn lại

Thiên tướng khi xả mệnh

Và chư thiên tập hội

Dạy dỗ những điều lành

Làm cho tâm hoan hỉ

Dương nguyện cho trời Phật

Vãng sanh nơi đường lành

Cùng với loài người thảy

Sanh nơi nước sáng sủa

Ở vào nơi Phật pháp

Gặp được niềm tin chánh

Tăng trưởng gốc sâu bền

Tà giáo chẳng thể chuyển

Thân ngữ ý làm ác

Hay phương tiện xả bỏ

Bị sanh vào nơi khác

Lại có dư phương tiện

Nhiều tu thân ngữ ý

Ba thù thắng thiện pháp

Như lý chánh tư duy

Làm vô lượng rộng lớn

Tu các việc phước nghiệp

Nghĩa thí giới đa văn

Ở nơi chánh pháp Phật

Xuất gia tu phạm hạnh

Chánh tín tu pháp lành

Hay nhẫn và mềm mại

Hoặc sanh ở trời người

Hoặc chứng Niết Bàn vui

Như vậy chư thiên tiên

Đến giáo huấn chỉ bày

Khi bỏ mạng cõi trời

Như mẹ yêu con thơ

Chư thiên thường phát nguyện

Thiện vui hay tăng ích

Làm cho A Tu La

Thối lui chẳng tăng nữa.

Kinh Bổn Sự quyển bảy

HẾT


KINH BỔN SỰ – PHẦN 1

Đại Đường Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu dịch.

Đức quốc tại Chùa Viên Giác Hannover, Tỳ Kheo Thích Như Điển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt, đời Thủ Tướng Schröder, vào mùa hè năm 2002.

Quyển bốn

Phẩm pháp thứ hai

Phần hai

Ta nghe từ Đức Thế Tôn như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo giảm thiểu sự ngủ nghỉ hay nhớ nghĩ chơn chánh thì tâm thường an trụ nơi cảnh an tịnh. Từ nơi thiện pháp hay xem pháp lành mà tu tập chánh niệm. Như thế đó các Tỳ Kheo! giảm thiểu ngủ nghỉ, nhớ nghĩ chơn chánh, tâm thường an lạc nơi cảnh giới thanh tịnh. Từ nơi thiện pháp thấy nghe pháp lành mà tu tập chơn chánh. Ở nơi 2 quả tùy chứng một quả, nghĩa là hiện pháp hoặc chứng Hữu Dư Y Niết Bàn, hoặc quả chẳng hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Giác ngộ hay nghe pháp

Tu hành đắc thắng quả

Chìm đắm nơi ngủ nghỉ

Chẳng có không gì cả

Kẻ giảm thiểu ngủ nghỉ

Đủ chánh niệm chánh tri

Tâm nầy thường yên ổn

Thường ở yên thanh tịnh

Từ nơi pháp lành ấy

Biết thời hay tu tập

Có cứu cánh siêu việt

Sanh lão bệnh tử khổ

Cho nên phải siêng tu

Giảm thiểu việc ngủ nghỉ

Thường hay quán tịch tĩnh

Được hai quả chẳng nghi

Hoặc đoạn sau kết quả

Chứng được quả chẳng hoàn

Hoặc đoạn phần bên trên

Độ sanh lão bệnh tử

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo ở nơi thanh nhàn thường ở chỗ yên chuyên tu thiền định, chẳng rời tĩnh lự, thành tựu minh tịnh Tỳ Bát Xá Na (quán sát), giữ gìn tự tâm làm cho chẳng toán loạn, nương nơi thiện pháp tu tập chẳng nhiễm. Như thế các Tỳ Kheo! nơi hai quả ấy ta nói nhất định có thể chứng một quả. Nghĩa là pháp hiện tại, hoặc chứng quả Hữu Dư Y Niết Bàn hoặc quả bất hoàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Vui không, sống ở yên

Lạc an trụ tâm nầy

Lìa hư vọng phân biệt

Hay phòng hộ tự tâm

Xa rời màn vô minh

Và các dục phiền não

Chẳng ưu hận, về chơn

Tâm nầy hay yên tịnh

Đầy chánh niệm tĩnh lự

Chẳng chấp có, giải thoát

Hay tận các việc tham

Thường vui chẳng buông lung

Thấy buông lung hay sợ

Những thấy hay xa lìa

Sớm chứng được Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Nếu có Tỳ Kheo chẳng xấu chẳng thẹn, người kia quyết định chẳng thể thông qua, chẳng thể hiểu biết, chẳng chứng quả vị, chẳng đến Niết Bàn, cũng chẳng thể chứng được vô thượng an lạc. Nếu có Tỳ Kheo có tàm có quý, kẻ ấy nhất định có thể thông qua, có thể hiểu biết, có thể chứng quả vị,có thể chứng Niết Bàn, cũng có thể chứng cứu cánh vô thượng an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Kẻ chẳng xấu chẳng thẹn

Lười biếng chẳng siêng năng

Nhiều hôn trầm ngủ nghỉ

Điểm cuối đến còn xa

Có xấu có hổ thẹn

Thường chẳng hay buông lung

Vui yên nơi thiền định

Đến Niết Bàn chẳng động

Kẻ kia dứt ràng buộc

Cùng sanh già bệnh chết

Sớm chứng quả giải thoát

Được vô lượng an lạc

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Phàm là kẻ xuất gia, lược nói hai loại, nên làm những việc nếu có thể làm đúng, sẽ được những gì chưa được, sẽ gặp những gì chưa gặp, sẽ chứng những gì chưa chứng, sẽ tiêu sầu thán, có thể diệt trừ lo buồn, có thể tiếp xúc với chân lý, có thể được cam lồ, có thể chứng Niết Bàn. Sao gọi là hai? Một là Tĩnh Lự, hai là hay nghe. Sao gọi là Tĩnh Lự? Nghĩa là các Tỳ Kheo xa rời các ham muốn xấu, chẳng phải là pháp lành, có sai có quấy, ly sanh hỷ lạc, sống ở đầy đủ. Đây là sự tĩnh lự căn bản. Sự sai quấy dừng lại, bên trong sẽ được vui; nếu chẳng dừng sự sai quấy thì không sanh được hỷ lạc, sống yên ở đủ.

Thứ 2 Tĩnh Lự là sự lìa sống vui, bỏ chánh niệm và chánh tri, thân thọ niềm vui, vì chúng mà nói, có xả có niệm, an trụ khoái lạc, đầy đủ sống yên.

Thứ 3 Tĩnh Lự là đoạn khổ đoạn vui, trước diệt lo, vui, chẳng khổ chẳng vui, bỏ niệm, thanh tịnh đầy đủ sống yên.

Thứ 4 Tĩnh Lự – sao gọi là hay nghe ? Nghĩa là các Tỳ Kheo nương nơi Phật nói, đầu, giữa, sau nghe hiểu và lý giải văn nghĩa rõ ràng, thuần đầy pháp phạm hạnh thanh tịnh. Cho nên hợp với khế kinh để tụng đọc như Già Đà, Tự Thuyết, Bổn Sự, Bổn Sanh cho đến Phương Quảng, vị tằng hữu… Nương nơi đó mà thọ trì đọc tụng nghe tập làm cho thông lợi, tuyên dương giải thích; nên có tên là hay nghe.

Như thế đó các người xuất gia lược nói hai loại là vậy! Nên làm những việc nếu có thể đúng đắn sẽ được những gì chưa được, gặp những gì chưa gặp, chứng những gì chưa chứng, có thể tiêu sầu thán, có thể diệt ưu khổ, có thể gặp chân lý như thật, có thể được cam lồ, có thể chứng Niết Bàn. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Xuất gia có hai loại

Muốn làm việc chơn chánh

Nên ở yên hay nghe

Xa sẽ chứng Niết Bàn

Yên lặng huệ là gốc

Huệ có từ yên lặng

Có ở yên có huệ

Trăm ngàn Tăng câm ngọng

Chẳng huệ không tĩnh lự

Nói kinh trăm ngàn năm

Chẳng chứng một Niết Bàn

Khuyên tu người trí huệ

Vui nghe pháp giải thoát

Nhớ nghĩ tất lợi lạc

Hay sớm chứng Niết Bàn

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết. Sự tìm cầu có hai chẳng có thứ ba. Sao gọi là hai ? Nghĩa là tìm cầu thánh và chẳng tìm cầu thánh. Sao lại có tên gọi là chẳng tìm cầu thánh ? Nghĩa là có một loại pháp về già tìm cầu pháp già. Đã có bịnh rồi, tìm cầu pháp bịnh, đã có pháp chết rồi tìm cầu pháp chết, đã có pháp sầu rồi, tìm cầu pháp sầu, đã có pháp nhiễm rồi, đi tìm cầu pháp nhiễm.

Sao gọi là pháp già ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở, voi ngựa bò dê gà heo nhà cửa, vàng bạc tài sản v.v… đều có tên là pháp già. Đó là pháp lão vì lẽ những loại hữu tình nầy có căn bản sanh tử khổ não. Kẻ phàm phu sanh ra nương vào đó mà tồn tại, bị nhiễm ái đắm trước. Do lý do nầy mà chẳng thể giải thoát sanh tử nên có tên là pháp già.

Sao gọi là pháp bịnh ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở nói rộng cho đến nhiều loại do chẳng thể giải thoát sanh tử; nên có tên là bệnh pháp.

Sao gọi là tử pháp ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở rộng ra cho đến nhiều loại do chẳng thể giải thoát sanh tử nên có tên là pháp chết.

Sao gọi là pháp sầu ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở cho đến nói rộng ra các loại, do chẳng thể giải thoát sanh tử nên có tên gọi là pháp sầu.

Sao gọi là nhiễm pháp ? Nghĩa là vợ con, nô tỳ, kẻ ở, voi ngựa trâu dê, gà heo, nhà cửa, tiền bạc tài sản có tên là nhiễm pháp. Đó gọi là pháp nhiễm. Có nghĩa là chúng hữu tình có căn bản sanh tử khổ. Người ngu sanh ra nương vào nơi nầy bị nhiễm ái đắm trước, do vậy mà chẳng thể giải thoát sanh tử được; nên có tên là nhiễm pháp. Nếu nương nơi nầy mà tìm cầu ái lạc thì phải biết rằng chẳng tìm cầu thánh hạnh. Những tìm cầu như thế cuối cùng Đức Như Lai chẳng xưng dương tán thán. Chỉ thường hay khuyên nên biết mà xa rời.

Thế nào là nhân duyên chẳng tìm cầu thánh hạnh ? mà cuối cùng Như Lai chẳng xưng dương tán thán ? mà chỉ khuyên răn thôi để làm cho xa lìa ? Do việc tìm cầu nầy là không phải pháp của hiền thánh, chẳng thể ra khỏi, không thể vui Niết Bàn, chẳng trói buộc, chẳng xa lìa, chẳng mất, chẳng yên, chẳng có trí tuệ, chẳng thành đẳng giác, chẳng chứng Niết Bàn. Do vậy sự tìm cầu nầy có thể dẫn tất cả chúng sanh vào sanh già bệnh chết sầu than lo buồn khổ não. Như vậy cho nên đây gọi là phi thánh tìm cầu. Như Lai cuối cùng rồi chẳng xưng dương tán thán. Chỉ hay khuyên bảo cho biết và làm cho xa rời.

Thế nào gọi là tìm cầu thánh hạnh ? Nghĩa là có một loại về pháp già có thể tự biết là ta đã già, phải tự biết như thật là mình đã quá già, tìm cầu cứu cánh, không già thì không có vô thượng an lạc Niết Bàn. Cho đến pháp bịnh, có thể tự biết mình đã có bịnh, hay biết bịnh như thật, tìm cầu cứu cánh, không bịnh thì không chứng vô thượng Niết Bàn. Cho đến pháp chết cũng hay tự biết, mình sẽ phải chết, hay biết như thật về pháp chết, tìm cầu cứu cánh, chẳng chết thì chẳng có vô thượng an lạc Niết Bàn. Cho đến pháp sầu, cũng nên tự biết, ta có pháp sầu, có thể biết pháp sầu như thật, tìm cầu cứu cánh, không sầu thì không chứng vô thượng an lạc Niết Bàn. Cho đến pháp nhiễm cũng hay tự biết ta có nhiễm pháp, hay biết nhiễm pháp như thật, tìm cầu cứu cánh, không nhiễm chẳng có vô thượng an lạc Niết Bàn. Như thế ấy có tên là tìm cầu thánh hạnh. Như vậy tìm cầu, tất cả các Đức Như Lai xưng dương tán thán.

Thế nào là nhân duyên tìm cầu thánh hạnh ? mà tất cả Như Lai đều xưng dương tán thán? Do sự tìm cầu nầy mà gọi là pháp của hiền thánh. Có thể vĩnh viễn ra khỏi, có thể vui thú Niết Bàn, có thể chán có thể lìa, có thể diệt có thể tịnh, có thể được trí tuệ, có thể thành đẳng chánh giác, có thể chứng được Niết Bàn. Do sự tìm cầu nầy có thể siêu tất cả sanh lão bệnh tử sầu than, lo khổ về sanh và không phiền não cho nên như thế là tìm cầu thánh hạnh. Tất cả các Đức Như Lai hay xưng dương tán thán. Cho nên có tên là tìm cầu. Có 2 loại chẳng có 3, cho nên các ngươi phải biết như vậy. Ta nay xa rời như thế nào sự chẳng tìm cầu nơi thánh hạnh? phải như thế mà tìm cầu nơi thánh hạnh. Nầy các Tỳ Kheo! Phải nên hiểu như vậy. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Tất cả loài hữu tình

Có hai loại tìm cầu

Chẳng có pháp thứ ba

Nghĩa là Thánh, chẳng Thánh

Chẳng biết già bịnh chết

Sầu nhiễm pháp qua rồi

Lại cầu mong ái nhiễm

Tên chẳng thánh tìm cầu

Nầy tăng nhanh sự khổ

Xa lìa chưa ra khỏi

Từ sanh lại phải sanh

Hoặc cao hoặc nơi thấp

Hay biết già bịnh chết

Sầu nhiễm pháp qua đi

Tìm cầu nơi vắng vẻ

Tên là tìm cầu Thánh

Nầy giảm dần sự khổ

Xa lại chứng Niết Bàn

Hằng an lạc thanh lương

Thường hết sạch sợ hãi

So phi thánh tìm cầu

Chư Phật thường dạy bảo

Đó sanh tử căn bản

Trí giả thường xa lìa

Đây thật tìm cầu Thánh

Chư Phật hằng xưng tán

Đây nổi vui Niết Bàn

Kẻ có trí siêng tu.

Sâu vào nghĩa trước Uẩn Đà Nam viết :

Vì thông đạt luật nghi

Biết lìa, chẳng nơi tịnh

Qua giác ngộ ở yên

Tâm nương vào tầm cầu.

Ta từ Đức Thế Tôn đã được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Lược nói hai loại – có loại pháp tự thanh tịnh hay hộ trì thế gian. Thế nào gọi là hai ? Có nghĩa là tàm và quý. Nếu không nương theo hai điều nầy thì không thành pháp tự thanh tịnh. Trong thế gian loài hữu tình tất cả đều thành chỗ uế tạp, giống như bò dê gà heo chó v.v… chẳng biết cha mẹ anh chị em, chẳng biết mô phạm, Thầy Tổ cùng Hòa Thượng v.v… Do điều nầy có hai pháp tự thanh tịnh. Phải ra rời sự uế trược nơi thế gian hữu tình nầy, chẳng phải như gà dê bò heo chó v.v… mà phải biết cha mẹ anh chị em, phải biết mô phạm, Thầy Tổ, Hòa Thượng v.v… cho nên các ngươi nên phải biết. Ta đã thành tựu hai loại tối thắng ấy như thế nào ?

Thứ nhất là xấu hổ về pháp tự thanh tịnh. Nầy các Tỳ Kheo! Phải nên biết rằng như thế đó. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Hai pháp tự thanh tịnh

Hay giữ gìn thế gian

Làm chẳng mất trời người

Nghĩa tàm và hay quý

Nếu không có hai nầy

Đều chẳng rõ tôn ti

Dơ nhớp giống bò dê

Gà heo cùng chó thảy

Do có hai pháp nầy

Hay rõ biết trên dưới

Chẳng giống bò cùng dê

Làm các việc dơ uế

Này những người hiểu biết

Thành tựu hai pháp nầy

Thường hộ trì trời người

Chết chẳng đọa tam đồ

Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Ta vì Như Lai ứng chánh đẳng giác mà lúc chưa thành Phật, còn ở địa vị Bồ Tát đa phần ở yên chẳng tìm đến niềm an lạc tuyệt đối, như vậy ở yên, chẳng tìm đến niềm an lạc tuyệt đối; nên có tên là phần tầm tư thứ nhất. Do ở yên như thế để tu tập cùng với các loài hữu tình lại cũng chẳng làm tổn hại. Do vậy sự tầm tư nầy chứng đắc vô lượng viên mãn phạm hạnh. Hai là khi Như Lai còn ở địa vị Bồ Tát đa phần an trụ nơi xa lìa tầm tư sống an lạc hoan hỷ, như thế ở yên, luôn luôn xa rời tầm tư và sống an lạc hoan hỷ; nên có tên thứ hai là đa phần tầm tư. Do ở như vậy mà tu hành, nương nơi bất thiện pháp, hay xa lìa, do tầm tư nầy mà chứng được căn lành đầy đủ thắng đạo. Ta lúc ấy an trụ như vậy nơi hai loại tầm tư, siêng năng tinh tấn, cho đến tự mình tất cả máu thịt đều đông khô cứng lại, chỉ trừ thân mình và xương cốt, lại chẳng buông lung cho đến chưa biết chưa thấy chưa được, chưa hiểu, chưa chứng mà muốn thấy biết được giải chứng thì ở nơi khoảng giữa chẳng sanh lười biếng, siêng năng tinh tấn chẳng hề lui sụt. Do chẳng buông lung nầy, sự siêng năng tinh tấn nầy, chẳng giải đãi nầy vậy, sẽ chứng được vô lượng chánh đẳng bồ đề. Sớm chứng được vô thượng thanh lương Niết Bàn. Mau chứng được vô thượng nhất thiết tri kiến. Cho nên các ngươi nên biết, ta sẽ vì sao mà an trụ, chẳng hại thường hay an lạc và nhiều phần tầm tư, an trụ xa rời, vui vẻ đa phần trầm tư. Nầy các Tỳ Kheo phải nên học như thế. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng:

Mở trong trình đọc kinh