KINH BỔN SỰ

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 17 thuộc Kinh tập quyển thứ 14, từ trang 662 đến trang 699, tổng cộng 37 trang, thuộc kinh thứ tự số 765 do Ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn đời nhà Đường. Thích Như Điển dịch ra tiếng Việt tại Anh quốc, dưới…

—— Trích đoạn KINH BỔN SỰ

 

Giới thiệu chung

Đây là một trong những bộ kinh quan trọng thuộc hệ thống tạng A-hàm cổ xưa, chuyên ghi chép lại các câu chuyện về những kiếp sống quá khứ của Đấng Giác Ngộ cùng các đệ tử và những nhân vật liên quan. Thông qua các tích truyện tiền thân vô cùng sinh động, văn bản này minh họa một cách trực quan và thâm sâu về quy luật nghiệp báo, luân hồi và sự vận hành phức tạp của các duyên trong vũ trụ. Mỗi câu chuyện đều đúc kết lại bằng một bài học đạo lý, nhấn mạnh sự cần thiết của việc hành thiện, tránh ác và tu tập các hạnh vĩ đại vì lợi ích muôn loài. Bộ kinh có giá trị to lớn trong việc giáo dục đạo đức, giúp người đọc dễ dàng tiếp thu giáo lý thông qua hình thức tự sự hấp dẫn thay vì các triết lý khô khan, trừu tượng. Ý nghĩa của tác phẩm không chỉ giới hạn trong phạm vi tôn giáo mà còn góp phần phong phú hóa kho tàng văn học dân gian và nghệ thuật truyền thống tại nhiều quốc gia châu Á. Tác phẩm đã truyền cảm hứng mạnh mẽ cho rất nhiều thế hệ hành giả trong việc nuôi dưỡng lòng từ bi và quyết tâm noi gương các bậc thánh nhân đi trước. Việc nghiên cứu bộ kinh này mang lại cái nhìn toàn diện về tiến trình tu chứng dài lâu, cho thấy sự kiên nhẫn và sức chịu đựng phi thường là chìa khóa để vươn tới quả vị cao tột.

Nội dung kinh

Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh quyển 17 thuộc Kinh tập quyển thứ 14, từ trang 662 đến trang 699, tổng cộng 37 trang, thuộc kinh thứ tự số 765 do Ngài Huyền Trang dịch sang Hán văn đời nhà Đường.

Thích Như Điển dịch ra tiếng Việt tại Anh quốc, dưới thời Nữ hoàng Elisabeth, tại địa phương Wymondham, từ ngày 22 tháng 7 đến ngày 31 tháng 7 năm 2002. Và phần còn lại dịch tại chùa Viên Giác – Đức quốc, từ ngày 6 đến ngày 23 tháng 8 năm 2002.

Quyển thứ nhất

Phẩm Pháp thứ nhất

Phần Một

Ta nghe từ Đức Thế Tôn rằng: Tỳ Kheo nên biết – khi ta quán sát thế gian, không có pháp nào sai biệt, làm chướng ngại cho chúng sanh, bị trôi lăn trong vòng sanh tử, như lớp vô minh, cho nên tất cả chúng sanh bị cái màn vô minh nó làm chướng ngại ngăn che tất cả, rồi cứ sanh tử tử sanh triền miên như vậy. Cho nên phải biết; nên học như thế. Ta vì sao tu hành được phát sinh trí tuệ, phá được vô minh, xa rời sự bó buộc của ái nhiễm. Nầy các Tỳ Kheo! Phải biết thế nầy. Lúc ấy Đức Thế Tôn nhiếp tâm vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Chẳng có một pháp nào

Không chướng ngại chúng sanh

Bị rơi vào sanh tử

Như vô minh che lấp

Vô minh tối tăm lớn

Do lưu chuyển dài lâu

Ta đây nay đến đi

Lên cao hoặc xuống thấp

Nếu phá được vô minh

Giải thoát lưới tham ái

Chẳng rơi vào sanh tử

Không gây ra nguyên nhân.

Ta đã nghe được từ Đức Phật nói rằng: Các Tỳ Kheo nên biết khi ta xem thế gian, chẳng có pháp nào mà không trói buộc chúng sanh, làm cho chúng sanh bị lưu chuyển trong sanh tử dài lâu, giống như tham ái nối kết lại. Vì sao vậy ? Chúng sanh trong thế gian, do dây tham ái nối kết chằng chịt, cho nên phải bị lưu chuyển trong đường sanh tử dài lâu. Cho nên phải biết quán sát như thế. Ta đã phải tu hành như thế nào để có được con dao trí tuệ nhằm đoạn trừ sự nối kết tham ái kia, để phá đi những mờ ám ? Nầy các Tỳ Kheo! Phải nên biết rằng: Lúc ấy Đức Thế Tôn chú tâm vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Không trói buộc chúng sanh

Sanh vào vòng sanh tử

Như tham ái trói buộc

Dây tham ái chằng chịt

Do vậy sanh tử dài

Làm cho đến hoặc đi

Sinh cao hay đọa thấp

Muốn đoạn tham ái nầy

Phá trừ màn vô minh

Nên không nhơn sinh ra.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy: Các Tỳ Kheo phải nên biết! Nếu có một hữu tình trong một kiếp số lưu chuyển sanh tử, do tham thân nầy, giả sử thường hay chứa nhóm các điều sai quấy. Sự chứa nhóm ấy cao dần giống như núi Tỳ Bổ La tại thành Vương Xá, huống nữa là chúng hữu tình, chẳng đầu không cuối, bị lưu chuyển sanh tử mãi mãi như thế, do yêu thân nầy, làm sao tính được. Cho nên phải biết! Các Tỳ Kheo phải biết ta nói về loài có tình nầy không hiểu về tứ thánh đế, cũng chẳng quán sát bên trong, cũng chẳng thông suốt, chẳng phân biệt; nên mãi mãi bị lưu chuyển trong vòng sanh tử, thọ lãnh nhiều thân khác nhau. Cho nên phải biết, phải hiểu như vậy. Ta đã nói về tứ thánh đế như thế nào, hãy quán chiếu như thế để biết. Nếu nay quán chiếu rồi, sẽ đi đến chỗ cứu cánh. Nầy các Tỳ Kheo! Hãy học như thế. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn, sâu nhiếp nghĩa nầy, liền nói kệ rằng :

Loài hữu tình mỗi kiếp

Thọ thân nhiều chẳng dứt

Chất chồng dần dần cao

Như núi Tỳ Bổ La

Chẳng có đầu có sau

Lưu chuyển trong sanh tử

Nên thọ nhiều thân hình

Không thể tính đếm được

Thọ lãnh nhiều nỗi khổ

Do chẳng gần Thánh Đế

Lại chẳng tu diệu trí

Chẳng quán bốn chân lý

Cho nên khổ không dừng

Khổ nhân và khổ quả

Hay diệt nguyên nhân khổ

Tám phần của Thánh Đế

Đây Bổ Đặc Già La (*)

Đến bảy lần lưu chuyển

Kết thành nhiều mắc xích

Chưa dứt các nỗi khổ.

(*) Pugala còn gọi là Phú Đặc Ca La nghĩa là người bỏ thân trời nhập vào thân người và bỏ thân người đi vào thân súc sanh

Ta nghe từ Đức Thế Tôn như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Ta lấy Phật nhãn quán chiếu thế gian, tất cả là kết quả của nghiệp, đều do tâm ý tạo thành. Tất cả các loại hữu tình, đều do tâm ý sai khiến, làm các việc làm, đi vào các đường, thân hoại mệnh chung, như bỏ gánh nặng, sanh vào địa ngục. Vì sao như thế ? Những chúng hữu tình kia, tâm ý bị ô nhiễm. Do nguyên nhân nầy, thân hoại mệnh chung, đọa vào ác thú. Lúc ấy Đức Thế Tôn, sâu vào nghĩa nầy, liền nói bài kệ :

Mỗi loại của hữu tình

Tâm ý khởi nhiễm ô

Ta nay nói cho biết

Tùy theo nơi mà sanh

Thân kia khi mệnh chung

Như bỏ một gánh nặng

Tất đọa vào ác thú

Sanh vào trong địa ngục

Nên biết người ác ấy

Do tâm ý nhiễm ô

Nhơn vì nhiễm ô nầy

Mà rơi vào địa ngục.

Ta từ Đức Thế Tôn nghe rằng : Nầy các Tỳ Kheo! Ta dùng Phật nhãn quán chiếu thế gian, tất cả quả nghiệp, đều duyên vào tâm ý. Mỗi loại hữu tình, do tâm ý sai khiến, làm những việc làm, đi vào các đường, thân hoại mạng chung, như bỏ gánh nặng, lên các đường lành, sanh vào chư thiên. Tại vì sao vậy ? Các loài hữu tình kia vì tâm ý thanh tịnh. Do nguyên nhân nầy, thân hoại mạng chung, sanh vào đường lành, sanh vào thiên giới. Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn, sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Mỗi loại trong hữu tình

Tâm ý khởi thanh tịnh

Ta nay vì các ngươi

Giảng rõ việc sanh nầy

Như bỏ đi gánh nặng

Tức vào các đường lành

Sanh vào nơi thiên giới

Nên biết kẻ lành nầy

Do tâm ý thanh tịnh

Nguyên nhơn thanh tịnh nầy

Nên sanh vào thiên giới.

Ta nghe từ Đức Thế Tôn nói như thế nầy : Các Tỳ Kheo nên biết! Tất cả các loài hữu tình đều do nghiệp lực. Nghiệp như người bạn, nghiệp sanh vào nhà, nghiệp làm quyến thuộc, nghiệp làm chỗ tựa, nghiệp hay phân định. Tất cả các loài hữu tình, trên dưới hết thảy, tất cả như thế phải nên biết rằng : Các nghiệp là tánh, các nghiệp là nhân duyên, các nghiệp nhiều loại, các nghiệp sai khác, các nghiệp hết sạch, các nghiệp diệt rồi, làm chỗ nhơn duyên. Tỳ Kheo nên biết! Như ta đã nói, hãy cố lắng nghe, hiểu như thế nào về nghiệp và tự tánh của nghiệp. Hoặc là nghiệp riêng hay là nghiệp dĩ, như thế phải biết là nghiệp tự tánh. Khi biết là tự tánh của nghiệp rồi, vì sao phải biết cái nghiệp do nhân duyên tạo nên ? Vì các tham ái gây ra; nên tạo thành những nhân duyên vậy. Phải nên biết rằng tự tánh của các nghiệp đều do nhân duyên mà tạo ra vậy. Làm sao để biết những loại nghiệp ? Các loại nghiệp nghĩa là do tạo tác thân đọa vào địa ngục có nhiều loại khác nhau. Có loại do nghiệp sanh vào bàng sanh. Có loại do nghiệp sanh vào ngạ quỷ. Có loại do nghiệp sanh vào A Tu La. Có loại do nghiệp sanh lên làm người. Có loại làm chư thiên. Như thế phải biết nghiệp có nhiều loại như vậy. Phải nên biết về tự tánh của các nghiệp. Biết được nhân duyên của các loại nghiệp rồi, làm sao có thể biết được sự sai biệt của các nghiệp ? Nghiệp dị thục có nghĩa là đời nầy tạo tác các nghiệp rồi sanh lại đời nầy, hay cảm các loại, hoặc sanh đời khác. Như thế nên biết là nghiệp sai khác. Nghĩa là đều do tự tánh của nghiệp, các nhân duyên của nghiệp, các phẩm loại của nghiệp và các sai khác của nghiệp.

Làm sao để biết các nghiệp tận diệt ? Nghĩa là các ái diệt rồi, các nghiệp sẽ diệt. Như thế nên biết là nghiệp tận diệt. Phải biết rằng các nghiệp đều do tự tánh, đều do nhân duyên, đều do phẩm loại, đều do sự sai khác mà tận diệt vậy. Thế nào là nhân duyên của nghiệp làm vật của riêng ? Kẻ mà có nhân duyên vào con đường đạo, có nghĩa là trong Bát Chánh Đạo có đầy đủ. Đó là: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mệnh, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định. Như vậy nên biết đây là những nhân duyên tạo nên con đường cao cả. Các Tỳ Kheo nên biết! Cùng các Sa Môn hoặc các Bà La Môn, nếu hay hiểu biết các tự tánh của nghiệp hoặc nhân duyên các nghiệp, hoặc các loại nghiệp, hoặc sự sai biệt của nghiệp, hoặc sự tận diệt của nghiệp, hoặc con đường tận diệt, hoặc nhân duyên cốt cán, tức hay tin vào pháp Tỳ Nại Da (Vinaya, nghĩa là luật, giới luật) của ta. Nếu hay tin vào giới luật của ta, tức hay nhập vào pháp giới của giới luật. Nếu hay nhập vào giới luật của ta, tức hay đạt thành pháp giới luật, tu hành phạm hạnh, tức hay cứu cánh, làm hết các nghiệp. Vì sao vậy ? Nầy các Sa Môn! các Bà La Môn! Phải biết tự tánh của các nghiệp nầy, các nghiệp nhơn duyên, các loại nghiệp, các nghiệp sai khác, các nghiệp tận diệt, các nghiệp lành, các nghiệp căn bản rồi. Tức các nghiệp nầy, xa rời ác thú, cứu cánh giải thoát, được thiện giải thoát, tức thiện giải thoát, tức hay độc lập, tức được phép lành, tức đủ phép lành. Thân kia chết đi như pháp nầy tất cả khó tạo thành. Lúc ấy Đức Thế Tôn, sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Thế gian các hữu tình

Ở trước hay ở sau

Tất cả đều do nghiệp

Nghiệp giống như người bạn

Nghiệp làm chỗ phát sanh

Nghiệp làm kẻ quyến thuộc

Nghiệp làm chỗ nương tựa

Nghiệp hay chia ba loại

Tùy nghiệp mà sanh ra

Bất định như bánh xe

Hoặc ở trong trời người

Hoặc ở nơi bốn đường

Đều do nghiệp lực chuyển

Chẳng tiền của vợ con

Tùy nơi sanh hoặc chết

Khi đến lúc lâm chung

Tất cả đều phải bỏ

Tùy theo nghiệp mà sanh

Vị lai các hữu tình

Như thế mà thọ nghiệp

Nếu hay y lời Phật

Chánh tín để xuất gia

Các ngu si loại ấy

Chẳng Thầy được khai mở

Tên là làm việc lành

Chẳng ngu mà chánh pháp

Cho nên các Tỳ Kheo

Siêng năng chớ buông lung

Phải biết rằng các nghiệp

Liên tục để tu hành

Tự tánh nghiệp dứt rồi

Ngay cả nghiệp nhơn duyên

Tu tám phần Thánh Đạo

Khó liền được viên mãn.

Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy : Nầy các Tỳ Kheo! Hãy nên biết rằng thế gian có các việc ác,chẳng có pháp lành. Lúc mới sanh ra những việc không lành, những loại không lành, tất cả đều do ý dẫn đầu, cho nên ý sanh khởi vậy. Các thiện pháp chẳng lành sanh theo sau đó. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Các bất thiện pháp sanh

Vì nguyên do cảm thọ

Do ý làm đầu đề

Cùng phiền não sanh ra

Ý dẫn đầu như vậy

Ý bị ý sai khiến

Do ý bị nhiễm ô

Cho nên nói có làm

Khổ theo đây mà sanh

Như bánh nhân đây lăn.

Ta từ Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong thế gian có pháp sáng trong đẹp đẽ, khi mới sinh ra có bạch tịnh thiện pháp, sau đó sanh tiếp. Lúc ấy Đức Phật sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Các thiện pháp khi sanh

Bởi vì hay cảm lạc

Do ý chí dẫn đầu

Cùng thiện pháp sanh ra

Ý là pháp đi đầu

Ý khiến ý sai sử

Do ý có thanh tịnh

Lại hay nói về hành

Vui từ đó mà sanh

Như ảnh theo hình vậy.

Ta từ Đức Thế Tôn được nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian có pháp khi khởi sanh ra cùng các chúng sanh khác, chẳng làm lợi ích, thọ những khổ lớn. Thế nào là một pháp ? Đó là việc phá Tăng. Cho nên các Tỳ Kheo nên biết! Nếu phá hoại Tăng, tất cả mọi người lẫn đến tranh luận, hoặc hay nói lén, hoặc hay lăng mạ, hoặc hay tìm tòi, hoặc hay thêm bớt, hoặc hay giận hờn, hoặc hay não xúc, hoặc hay tức giận, hoặc hay phỉ báng, hoặc hay rúng rẩy thì lúc ấy tất cả thế gian đều là những người chưa có lòng tin; nên không sinh kính tín. Đã không tin rồi, lại chẳng kính trọng. Các Tỳ Kheo nên biết! Như thế đó có tên là một pháp. Lúc phát sanh ra cùng các chúng sanh, làm điều chẳng lợi ích, chẳng an lạc, dẫn các thế gian trời người và đại chúng làm những việc chẳng có ý nghĩa, thọ các quả khổ. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Thế gian sinh một pháp

Hay sinh nhiều tội ác

Nếu mà phá hoại Tăng

Kẻ ngu si tùy hỷ

Kẻ phá Tăng hay khổ

Phá Tăng hay bị khổ

Tăng hòa hợp bị hoại

Qua nhiều kiếp vô gián.

Ta từ Đức Thế Tôn có nghe được rằng: Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian có một pháp sau khi sanh ra cùng với tất cả chúng sanh. Vì lợi ích của chúng sanh, vì sự an lạc của chúng sanh, dẫn các thế gian, trời người đại chúng, làm lợi ích lớn, tạo quả an lạc. Những gì là một pháp ? Đó là Tăng hòa hợp. Cho nên các Tỳ Kheo nên biết! Nếu Tăng hòa hợp, tất cả đại chúng chẳng có tranh luận, chẳng có nói lén, chẳng hay lăng mạ, chẳng hay tìm tòi, chẳng hay thêm bớt, chẳng hay giận hờn, chẳng hay xúc não, chẳng hay tức giận, chẳng hay phỉ báng, chẳng hay rúng rẩy thì lúc ấy tất cả thế gian kẻ chưa tin sẽ phát lòng tin. Sau khi tin rồi lại thêm kính tin. Các Tỳ Kheo nên biết! Như thế có tên là một pháp trong đời. Khi sanh ra rồi cùng các chúng sanh vì nhiều lợi ích, vì nhiều an lạc, dẫn các thế gian, trời người, đại chúng làm lợi ích lớn, thọ quả an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Thế gian một pháp sanh

Hay sinh một lượng phước

Bởi vì Tăng hòa hợp

Kẻ trí huệ tùy hỷ

Hay hòa hợp Tăng vui

Hòa hợp mọi người vui

Ta chẳng phá hòa hợp

Nhiều kiếp sinh thêm vui.

Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Thế gian hữu tình, lúc kết lúc không, trừ sự kết chặt, tất cả đều dứt. Sao gọi là kết thành một? Đó là ngã mạn. Vì sao thế? Do các sự kết lại với những điều li chi, tất cả đều do ngã mạn làm gốc. Từ ngã mạn sanh ra, ngã mạn sẽ lớn dần. Cho nên khi ngã mạn kết lại hay lìa nhau, trừ tất cả kết, đều cũng đoạn theo. Dụ như thế gian khi đứng giữa quan sát giống như tòa nhà, chia ra chỗ nầy chỗ nọ. Nếu ở giữa thấp cùng lại mất theo. Ngã mạn như thế, nối kết vào nhau. Nếu đoạn ngã mạn chúng lại diệt theo. Nếu các Tỳ Kheo khi đoạn ngã mạn rồi, phải biết rằng cũng đã đoạn được sự kết nối. Nếu các Tỳ Kheo khi đoạn sự nối kết rồi phải biết rằng hết sự khổ sở, nên tu chánh trí, tâm thiện giải thoát, huệ thiện giải thoát, không còn sau nữa. Lúc ấy Đức Phật sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Như ở giữa ngôi nhà

Tất cả chỗ nương tựa

Ở giữa nếu xuống sâu

Trừ phần không đọa lạc

Như vậy ngã mạn kết

Chúng kết và nương nhau

Khi ngã mạn đã dứt

Các kết cũng phải mất

Tỳ Kheo đoạn ngã mạn

Trừ kết phải tùy mất

Trừ kết và đoạn rồi

Tức chứng hết sự khổ

Liền được chỗ không khổ

Tên là tu chánh trí

Tâm huệ thiện giải thoát

Sau đó chẳng có gì.

Ta từ Đức Thế Tôn nghe như thế nầy. Các Tỳ Kheo nên biết! Trong đời có một pháp, nếu tu theo phép lành, tu nhiều việc lành, nhiếp trì 2 phần làm cho viên mãn, sẽ hiện lợi lạc làm cho viên mãn. Cho đến về sau cũng được lợi lạc viên mãn hay thành pháp chánh, lợi ích an lạc. Hay thành pháp sau, lợi ích an lạc, hay thành cho bây giờ và vị lai sự lợi ích an lạc. Thế nào là một pháp ? Nghĩa là tu theo các thiện pháp, tu chẳng buông lung, vì vậy cho nên, nếu có kẻ trong khi tu hành thiện pháp mà chẳng phóng dật, hay tu phép lành, tu tập phép lành, lại hay nhiếp trì hai loại lợi lạc làm cho đến được chỗ viên mãn. Nói rộng ra cho đến hay thành hiện tại vị lai sự lợi ích an lạc. Đó tên là một pháp. Nếu tu phép lành hay tu các pháp, nhiếp trì 2 việc. Nói rộng cho đến hay thành, hiện tại vị lai lợi ích an lạc. Lúc ấy Đức Thế Tôn sâu vào nghĩa nầy mà nói kệ rằng :

Đọc toàn văn →

Đánh Giá

Chưa có đánh giá nào.

Thêm đánh giá

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *